Cách viết báo cáo về vắn đề văn học ca dao tục ngữ với đề bài "thân em như..."
Cách viết báo cáo về vắn đề văn học ca dao tục ngữ với đề bài "thân em như..."
"Thân em như tấm lụa đào phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"
Xác định vấn đề văn học qua câu ca dao trên:
`+)` Thân em: tượng trưng hình ảnh người phụ nữ đương thời nói chung.
`+)` Tấm lụa đào: ẩn dụ sự đẹp đẽ, phẩm hạnh cao quý giá trị của người phụ nữ.
`+)` Phất phơ giữa chợ: số phận bấp bênh của người phụ nữ bị đối xử bất công, quá nhiều những áp đặt đè lên những mảnh đời ấy.
`=>` Người phụ nữ phong kiến tuy giữ cho mình những phẩm giá nhưng số phận luôn thấp cổ bé họng, luôn bấp bênh trôi dạt.
Viết báo cáo:
Mở bài: Cái đẹp đương thời luôn để người ta nhớ mãi và những bất công luôn là thứ day dứt hồn ta. Tương tự như thế, chúng ta vẫn luôn thấu hiểu những số phận bé nhỏ như hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, qua những câu ca dao tục ngữ truyền lại. Một trong số đó điển hình là "Thân em..."
Thân bài:
`->` Vấn đề đặt ra: Sự bất công chà đạp lên phẩm hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, những được nhận ít hơn những đòi hỏi về hình ảnh phụ nữ.
Giá trị nhân đạo của câu ca dao:
`->` Thể hiện sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. `->` Vẻ đẹp tâm hồn: chịu thương chịu khó, giàu lòng tự trọng. `->` Là tiếng nói cảm thông và lên án xã hội phong kiến đầy rẫy bất công.
Giải thích về bối cảnh đương thời:
`+)` Xã hội phong kiến xưa, nhận thức thấp và chịu ảnh hưởng từ văn hóa phương Bắc.
`+)` Những người phụ nữ có giá trị rẻ rúng, luôn có phẩm chất đẹp nhưng không nhận sự tôn trọng.
`+)`...
Liên hệ thực tế về nữ quyền:
`+)` Sự thay đổi, đối lập của quá khứ và hiện tại về người phụ nữ
`+)` Nêu dẫn chứng về hình ảnh người phụ nữ hiện đại trong những việc quan trọng.
Mở rộng:
`+)` Phê phán những bất công vô nghĩa để củng cố cho địa vị xã hội ..
Kết bài: Thời gian luôn trôi qua nhưng những câu ca dao ấy vẫn còn nguyên giá trị, giúp thế hệ hôm nay thêm thấu hiểu và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam.
Viết bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ quan niệm kì thị người đồng tính
( LGBT )
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được tôn trọng, yêu thương và sống đúng với con người thật của mình. Thế nhưng, vẫn còn không ít người mang định kiến, xa lánh hoặc kì thị người đồng tính chỉ vì họ có xu hướng tình cảm khác với số đông. Đó là một quan niệm sai lầm cần phải từ bỏ, bởi nó không chỉ gây tổn thương cho người khác mà còn làm xã hội trở nên lạnh lùng, thiếu nhân văn.
Trước hết, cần hiểu rằng đồng tính không phải là một điều xấu, càng không phải là một “căn bệnh” hay “lỗi lầm” như một số người từng nghĩ. Đồng tính chỉ là một xu hướng tình cảm tự nhiên của con người. Họ cũng biết yêu thương, biết hi sinh, biết sống có trách nhiệm như bất kì ai. Vì vậy, không có lí do gì để coi thường, chế giễu hay phân biệt đối xử với họ. Một con người cần được đánh giá bằng nhân cách, đạo đức, cách sống và sự cống hiến, chứ không phải bằng xu hướng tính dục.
Kì thị người đồng tính trước hết là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết. Khi chưa hiểu rõ, con người thường dễ phán xét và áp đặt. Nhiều người vô tình dùng những lời nói miệt thị, trêu chọc, thậm chí cô lập người đồng tính mà không biết rằng điều đó có thể gây ra những tổn thương tinh thần rất lớn. Có những người sống trong sợ hãi, tự ti, cô đơn chỉ vì không được gia đình, bạn bè và xã hội chấp nhận. Như vậy, định kiến không chỉ làm đau người bị kì thị mà còn thể hiện sự hẹp hòi, thiếu bao dung của chính người kì thị.
Hơn nữa, một xã hội văn minh là một xã hội biết tôn trọng sự khác biệt. Mỗi người sinh ra đều có quyền được sống thật, được theo đuổi hạnh phúc và được đối xử công bằng. Nếu chỉ vì ai đó khác mình mà chê bai, xa lánh họ thì xã hội ấy sẽ không thể tiến bộ. Trong thực tế, rất nhiều người đồng tính đã nỗ lực học tập, lao động, cống hiến và thành công trong nhiều lĩnh vực. Họ có thể là bác sĩ, giáo viên, nghệ sĩ, nhà khoa học, hay đơn giản là những con người bình thường sống tử tế mỗi ngày. Điều đó cho thấy đồng tính không làm giảm giá trị của một con người.
Từ bỏ quan niệm kì thị người đồng tính còn là cách để chúng ta rèn luyện lòng nhân ái. Khi biết lắng nghe, thấu hiểu và tôn trọng người khác, con người sẽ sống đẹp hơn, trưởng thành hơn. Thay vì chế giễu hay xa lánh, chúng ta nên mở lòng, cư xử công bằng và văn minh. Một lời động viên, một ánh nhìn tôn trọng hay một cách ứng xử tử tế đôi khi có thể giúp một người thêm mạnh mẽ để sống đúng với bản thân mình.
Là học sinh, chúng ta cần nói không với những lời trêu chọc ác ý, những hành động phân biệt đối xử với người đồng tính. Mỗi người hãy bắt đầu từ việc thay đổi cách nghĩ, cách nói và cách ứng xử của mình. Nhà trường, gia đình và xã hội cũng cần tăng cường giáo dục về sự bình đẳng, tôn trọng quyền con người để mọi người hiểu đúng hơn, sống nhân văn hơn.
Tóm lại, kì thị người đồng tính là một quan niệm sai lầm và lạc hậu. Từ bỏ định kiến ấy không chỉ giúp bảo vệ phẩm giá, quyền được yêu thương của mỗi con người mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và giàu lòng nhân ái. Hãy học cách tôn trọng sự khác biệt, bởi yêu thương và thấu hiểu luôn là điều làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn.
Đọc đoạn trích " Đăm Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời" hãy viết một bài nghiên cứu ngắn về đời sống của người Ê- đê
Qua đoạn trích “Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời”, có thể thấy đời sống của người Ê-đê hiện lên rất phong phú, giàu bản sắc và mang đậm dấu ấn sử thi Tây Nguyên. Đây không chỉ là một câu chuyện kể về khát vọng chinh phục của người anh hùng Đăm Săn mà còn phản ánh nhiều nét đặc sắc trong đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng và quan niệm thẩm mĩ của cộng đồng Ê-đê xưa.
Trước hết, đoạn trích cho thấy người Ê-đê có đời sống tinh thần rất phong phú và giàu trí tưởng tượng. Hình ảnh Nữ thần Mặt Trời, con đường đi đến nơi ở của thần linh, khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, rực rỡ cho thấy con người Ê-đê từ lâu đã có cách nhìn thế giới rất bay bổng. Họ gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, với thần linh và tin rằng mọi sự vật trong vũ trụ đều có linh hồn, có sức mạnh riêng. Điều đó phản ánh tín ngưỡng đa thần, một nét đặc trưng trong đời sống tâm linh của cư dân Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, đoạn trích còn cho thấy khát vọng lớn lao và tinh thần mạnh mẽ của con người Ê-đê. Nhân vật Đăm Săn không bằng lòng với cuộc sống bình thường mà luôn muốn vươn tới những điều lớn lao, phi thường. Hành động đi bắt Nữ thần Mặt Trời thể hiện ước mơ chinh phục thiên nhiên, khẳng định sức mạnh và vị thế của con người trước vũ trụ bao la. Qua đó, ta thấy người Ê-đê đề cao ý chí, lòng dũng cảm và khát vọng vượt lên giới hạn của bản thân.
Đời sống xã hội của người Ê-đê cũng được phản ánh qua hình tượng người anh hùng sử thi. Trong cộng đồng Ê-đê, người tù trưởng hay người anh hùng giữ vị trí rất quan trọng. Họ là người có sức mạnh, tài năng, uy tín và đại diện cho danh dự của cả buôn làng. Đăm Săn không chỉ là một cá nhân mà còn là biểu tượng cho sức mạnh, niềm tự hào và ước mơ của cộng đồng. Điều này cho thấy xã hội Ê-đê coi trọng danh dự, uy tín và vai trò của người đứng đầu trong đời sống tập thể.
Ngoài ra, qua ngôn ngữ kể chuyện giàu hình ảnh, phóng đại và nhịp điệu mạnh mẽ, ta còn nhận ra người Ê-đê rất yêu cái đẹp, yêu sự hùng vĩ và trang trọng. Thiên nhiên trong đoạn trích hiện lên vừa gần gũi vừa kì vĩ. Con người xuất hiện trong tư thế lớn lao, hào hùng. Đó là đặc điểm của tư duy sử thi, đồng thời phản ánh tâm hồn phóng khoáng, mãnh liệt của cư dân sống giữa núi rừng Tây Nguyên.
Từ đoạn trích, có thể thấy đời sống của người Ê-đê gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên, giàu niềm tin vào thần linh, coi trọng cộng đồng, đề cao người anh hùng và luôn nuôi dưỡng khát vọng chinh phục. “Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời” vì thế không chỉ là một tác phẩm văn học đặc sắc mà còn là “tấm gương” phản chiếu đời sống văn hóa, tinh thần và tâm hồn của người Ê-đê xưa. Qua đó, người đọc thêm hiểu và trân trọng vẻ đẹp của văn hóa dân gian Tây Nguyên nói riêng và văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung.
Đọc đoạn trích sau
Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời
(trích Đăm Săn)
Sử thi Ê – đê
Sau khi đã chiến thắng Mtao Grự và Mtao Mxây để giải cứu Hơ Nhị, Hơ Bhị, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu mạnh, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi. Nhưng chàng vẫn quyết tâm đi hết tháng hết năm để chinh phục Nữ Thần Mặt Trời, để “từ người Ê-đê bên bờ sông cho đến người Mnông ở dưới thấp không còn một ai dám trái lời”, không một tù trưởng nào có thể sánh với chàng. Bị Nữ Thần Mặt Trời từ chối, Đăm Săn kiên quyết ra về, mặc Nữ Thần Mặt Trời cảnh báo là chàng sẽ chết khi mặt trời lên.
Hai người ra đi. Mười ngày họ ngủ lại, sáu đêm họ nằm lại đọc đường. Họ đi suốt tháng suốt năm, lúc nghe sông nước vì rào, lúc nghe biển cả gào thét, người cưỡi ngựa đực, người cưỡi ngựa cái, ngựa thở hổn hạ hổn hiển.
Họ đến làng Đăm Par Kzây. Bọn đàn ông con trai trong làng chạy ra tận giếng làng để xem, còn bản đàn bà con gái thì đầu đại khu từ các sàn sân. Ai ai cũng đã từng nghe dân Đăm Săn là một tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang núi hoa.
Đăm Săn đến bãi ven làng, rồi đến nhà Đăm Par Kcây. Người trong nhà chạy xuống, kẻ giữ ngựa tháo yên, người đưa lời thăm hỏi. Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây. Chàng giắt chà gạc lên, rồi ngồi xuống, trông nghênh nghênh như con rắn trong hang, ngang ngang như con cọp trong đầm, như con tê giác trong thung. Chàng nói nói cười cười, tiếng oang oang như sấm gầm sét dậy. Khắp các tù trưởng không một ai như chàng Đăm Săn cả!
Đăm Par Kvây – Ơ các con, ơ các con, đem gối ra cho diêng của ta nào, đem chiếu đem chăn ra cho diêng của ta nào!
Tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem ra thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trầu cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giữ gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem ra một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ - ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngũ giá phải ba coi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn ngồi vào uống.
Đăm Săn ngồi vào uống, vừa uống vừa nói chuyện:
Đăm Par Kvây - Ơ diêng, ở diêng rượu tôi đã cột, gà tôi đã đốt, cơm tôi đã dọn trong mâm đồng chậu thau, xin mời diêng đến ăn cho! Xin hỏi diêng đi có việc gì? Phải chăng đã có kẻ đến đánh diêng tại nhà, vây diêng tại làng, bắt hết trai gái làng diêng đi rồi phải không?
Đăm Săn – Không phải thế đâu, diêng ơi. Tôi đi đây chẳng vì công này, cũng không vì việc nọ. Tôi đến rủ diêng, muốn cùng diêng mặt giáp mặt bàn xem chúng ta đi bắt Nữ Thần Mặt Trời có được hay không?
Đăm ParKvây - Ấy chết diêng ơi! Rừng này nhiều cọp, đường này nhiều rắn, không ai bắt Nữ Thần được đâu! Đường đi hát cà người ta trồng chông lớn, đường đi hái ớt người ta trồng chông nhỏ, người lớn đi chết đằng người lớn, nhà giàu đi chết đằng nhà giàu, dũng tướng đi chết đằng dũng tướng.
Đăm Săn - Người dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước há cũng không vào đó được sao! (Ông Đu, ông Điê nghe được liền đét cho Đăm Săn một đét vào người). Diêng không cho tôi đi, cũng mặc. Tôi đã mang theo đây các ngải từng giúp ông chúng tôi chiến thắng những ngải cho sức mạnh chém tê giác dưới vực, giết hùm beo trên rừng. Để xem tê giác, hùm beo có chết dưới mũi giáo lưỡi gươm của Đăm Săn này hay không! Dù diêng có bảo đường đi lắm rết, nhiều bọ cạp, núi rừng đầy tê giác, hùm beo, chưa từng có ai đi vào đó, tôi cũng không nghe diêng đâu.
Đăm Par Kvây - Ối chao! Chết thật đó, diêng ơi! Nước thì nhiều đỉa, rừng thì nhiều vắt, người ta chưa hề đem nhau đi vào Đăm Par Kvây với đó bao giờ. Ven rừng đầy xương người. Trong rừng đầy xương bò, xương trâu. Biết bao tù trưởng nhà giàu, biết bao dũng tướng anh hùng đã bỏ mạng nơi đây. Rừng Đen đất nhão là nơi đã chôn vùi nhiều tù trưởng nhà giàu. Tôi cột diêng bằng thùng tôi trói diêng bằng dây, tôi không cho diệng đi vào đấy đâu. Tôi xin cúng cầu phúc cho diêng một lợn, tôi xin tiễn chân diêng một trâu, tôi không cho diêng đi vào rừng thiêng của Nhà Trời đâu. Ở đấy, chông lớn nhiều như lông nhím, chông nhỏ nhiều như lông chó, con sóc nhảy vào thân nó cũng khó mà vẹn toàn nữa là!
Đăm Săn – Mặc, diêng cứ để tôi làm bàn trang tôi san đường tôi đi. Gặp cọp, tôi sẽ giết cọp. Cặp tê giác, tôi sẽ giết tê giác.
Đăm Par Kvây – Giữ diêng, diêng không ở. Cầm diêng, diêng không dừng. Vậy diêng định đốt đuốc ra đi trong để đêm này ư?
Đăm Săn - Khắp vùng Ê-đê trên cao, Mnông dưới thấp, khắp tây đồng, thử hỏi còn ai dám chống lại Đăm Săn này, chống lại người tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa này? Tôi không sợ đâu
Đăm Par Kvây – Cột không dừng, giữ không ở, đốt đuốc ra đi giữa canh khuya, diêng hãy coi chừng kẻo rơi vào Rừng cỏ cằn đất nhão. Rừng bà Sun Y Rít đó, diêng ơi!
Đến đây Đăm Par Koây quay gót trở về. Trời đã nửa đêm, gà đã te te gáy
Đăm Par Kvây – O diêng, ở diêng, trời đã gần sáng mặt trời muốn ló lên rồi, diêng hãy thúc ngựa chạy nhanh giữa lúc trời còn tối, đất còn cứng. Có ảnh mặt trời chiếu xuống là đất sẽ nhão ra. Rừng bà Sun Y Rít sẽ bắt đầu động đấy.
Thế là Đăm Săn ra đi. Chàng đi hết rừng rậm đến núi xanh, cỏ tranh xé tay, gai mây đâm chân, không màng ăn uống. Chàng đi, đi mãi, rừng núi quạnh hiu, rắng như không, không như rắng. Nhưng rồi chừng cũng đến được bãi thả trâu bò, rồi bãi thả diều làng ông Đu, ông Điê. [...] Sau đó là cảnh người đi đi lại lại như trong sương mù. Chàng liền đến bờ rào làng xem thì thấy dưới giăng dây đồng, trên giăng dây sắt, cảnh làng người anh giữ mặt trời, người em giữ mặt trăng quả là đẹp thật! Chỗ hai anh em họ ở là một cánh núi ngăn một dòng nước đục chảy cho đến nơi đất giáp với trời. Chàng đi đến nhà cô gái không chồng, nàng Hơ Kung của chàng Y Đu, nàng thì đã vào ở giữ mặt trăng, còn chàng thì đã vào ở giữ mặt trời. Ở đây sấm nổ ẩm ẩm, mưa đổ ào ào, tiếng có ngựa ngày đêm nghe rầm rập. Từ đây, Đăm Săn đứng
ngắm ngôi nhà của Nữ Thần Mặt Trời. Cầu thang trông như cái cầu rồng. Cối giã gạo bằng vàng, chày cũng bằng vàng. Chày nhà tù trưởng giàu có này giã gạo trông cứ lấp la lấp lánh!
Đăm Săn xuống ngựa, tháo yên. Khi chàng nhoại lên cầu thang thì trong nhà người ta đã nghe. Khi chàng giậm chân bước trên sàn hiên thì trong nhà người ta đã thấy. Chàng vào nhà. Toà nhà đài đằng đặc, nơi cây chặt sàn sân, chiêng xếp đầy nhà ngoài, công chất đầy nhà trong, tôi trai tớ gái như ong đi lấy nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, các xà ngang và dọc đều thếp vàng. Khắp các nhà giàu có, không thấy đâu có một ngôi nhà như vậy cả.
Đăm Săn gác chà gạc lên, rồi đến ngồi trên ghế. Người đi ra đi vào nhà trong nhà ngoài đưa mắt nhìn chàng, thấy chàng oai như một vị thần. Tiếng xì xào ca ngợi chàng đã vọng tới tại Nữ Thần Mặt Trời ở nhà trong.
Nữ Thần - Ơ các con, ơ các con, khách nào ở ngoài ấy?
Người hầu – Thưa bà, chúng con không được quen. Khách mặc một áo lụa đẹp, khoác ngoài một áo chiến cũng thật là đẹp. Lông chân như chải, lông đùi như chuốt, tiếng nghe như chong chóng gõ mõ. Khắp các đầu làng không có một ai như khách cả.
Nữ Thần bỏ máy cũ mặc váy mới. Chưa hài lòng với cáy này, nàng lấy váy kia. Nàng mặc
một váy ánh như sét, loáng như chớp. Mái tóc nàng vén bên tại trông thật là đẹp. Nàng từ trong buồng đi ra, cửa buồng liền bừng sáng. Nàng đi trông như điều bay ó liệng, như nước lững lờ trôi cũng không bằng. Lỡ chân hụt bước chăng, nàng liền tần ngần đứng lại hay ngồi xuống không một ai giống như nàng cả. Tiếng nàng lanh lảnh, người chưa tới mà tiếng đã vẳng lại. Thật không thấy có một ai như nàng cả. Trước mặt Đăm Săn là một cô gái thân hình như cái nụ tai, cổ như cổ công, nàng rõ ràng là con của Thần Đất và Thần Trời rồi!
Nữ Thần – Hỡi người con của trần thế, người muốn gì?
Đăm Săn – Vâng, tôi đã đến đây, tôi muốn có người nấu cơm canh tôi ăn, dệt khố áo tôi mặc.
Nữ Thần – Thế phải chăng người còn là lưỡi dao chưa tra cán, còn là cái chốt chưa có lỗ cài, là gái còn ở không trai còn ở rỗi?
Đăm Săn – Tôi là lưỡi dao đã vướng cán, là lưỡi giáo đã có tay cầm. Dưới trần gian trai gái nào mà không có đôi có lứa,
Nữ Thần – Thế sao bây giờ đằng lưng người còn ưng, đằng bụng người còn nói nói cười cười với người khác? Ngươi nghĩ gì vậy?
Đăm Săn – Tôi muốn có vợ lẽ thứ hai, muốn cả ba vợ tôi đều là những nàng tiên xinh đẹp. Tôi muốn đem nàng xuống trần làm duê, làm êngai, làm chị làm em với Hơ Nhi, Hơ Bhị.
Nữ Thần – Sao ta lại đi? Tạo hoá đã định quê hương đất tổ của Mặt Trời Mặt Trăng là nơi cuối đất chân trời này rồi cơ mà.
Đăm Săn – Nàng dù không đi thì tôi cũng đã rẽ đất đến đầu gối, lội bùn đến ngang hông, na đất na bùn đến nhà nàng rồi.
Nữ Thần – Nhưng nếu ta đi thì lợn duới gà trên, cọp tê giác ngựa trâu sẽ chết hết. Chết cả người Kur, người Lào vì hết đất làm nương. Chết cả người Ê-đê Ê-ga vì không còn nước uống.
Chết cả gầm ghì cu xanh vì không còn trái ăn. Nếu ta đi, cây trong rừng sẽ tuyệt diệt, câytrên rú sẽ chết khô, lau lách sẽ ngừng đâm chồi, cỏ cây sẽ tàn lụi, đất đai sẽ nứt nẻ, sông suối sẽ cạn khô. Thôi, người hãy đi lấy gùi nước về đi! Ta sắp ra đi đây.
Đăm Săn – Tôi không về. Với cây chà gạc phát rẫy này, tôi đã rạch rùng tôi đi. Tôi đã giết tê giác trong thung, giết cọp beo trên núi, giết kên kên quạ dữ trên ngọn cây, chém ma thiêng quỷ ác trên đường đi. Tôi thương nàng da diết, lòng dạ tôi khôn nguôi, vì vậy tôi đã đến đây với nàng, muốn cùng nàng nên nghĩa vợ chồng, có lấy được nàng tôi mới về.
Nữ Thần – Từ cái sàn sân này, ngươi hãy về đi! Ngươi hãy đi khỏi cái nhà này đi! Ta là con của Thần Trời, dù ngươi mới chỉ được ăn cơm, tắm nước lã, hương nghệ chưa vương cũng đành vậy.
Đăm Săn – Tôi nghĩ tôi thương nàng hỡi người con của Thần Trời, nhưng cho đến bây giờ đằng lưng nàng đã không ưng, đằng bụng nàng cũng không ưa, cả tiếng nói tiếng cười với tôi nàng cũng tiếc. Tôi đành quay về làng hoang nhà cũ của tôi vậy, tôi quay về ăn thịt trâu thịt bò của tôi vậy.
Nữ Thần – Ấy, nguơi đùng ra về vội! Ta ra đi bây giờ đây, ngươi chết mất thôi.
Đăm Săn – Sống được chết đành! Tôi về đây.
Thế là Đăm Săn ra về. Chàng nhảy lên ngựa ra đi.
Lúc này, mặt trời mới ló lên ở đầu núi, ngựa của Đăm Săn vẫn còn kiệu được. Khi ngựa đến giữa Rừng Đen thì mặt trời đã lên cao, mỗi lúc mỗi thêm cao, ngựa bắt đầu bị dính ở chân. Mặt trời lên cao nữa, khi nó chấm ngang cây xà đọc phía đông thì đất loãng ra. Ngựa tuy nhiên vẫn còn chạy được, nó tiếp tục chạy nhưng lún dần cho đến khi bị dính ngang đầu gối. Từ đó phải đi bước một, cứ bước một đi mãi. Khi mặt trời lên quá cây xà dọc phía đông, ngựa đã lún đến sát bẹn, nhưng nó vẫn ráng bước tới. Cho đến khi mặt trời đứng bóng thì ngựa không sao bước tới được nữa. Nó đã bị ngập đến ngang lưng đến mức cả ngựa, cả Đăm Săn đều chìm xuống.
(Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí, Sử thi Ê-đê, Khan Đăm Săn và
Khan Đăm Kteh Mlan, tập II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 66 – 72)
Tìm 1 chi tiết bạn tâm đắc về phẩm chất của nhân vật Đăm Săn và viết đoạn văn khoảng 150 chữ
Chi tiết em tâm đắc nhất là lời nói và thái độ rất dứt khoát của Đăm Săn khi quyết tâm chinh phục Nữ thần Mặt Trời, dù đã được cảnh báo rằng chàng sẽ phải chết khi mặt trời lên. Chi tiết này thể hiện rõ phẩm chất dũng cảm, kiêu hùng và ý chí chinh phục mãnh liệt của nhân vật. Đăm Săn không hề run sợ trước hiểm nguy, không lùi bước trước những lời can ngăn, bởi với chàng, danh dự và khát vọng lớn lao quan trọng hơn cả tính mạng. Ở Đăm Săn, ta thấy vẻ đẹp của người anh hùng sử thi: luôn mang trong mình tầm vóc phi thường, dám nghĩ, dám làm và dám đối mặt với thử thách khắc nghiệt nhất. Tuy kết cục của chàng là bi kịch, nhưng chính điều đó lại làm nổi bật hơn khí phách hiên ngang và tinh thần sống hết mình vì lý tưởng của Đăm Săn.
Hãy viết dàn ý VBNL phân tích, đánh giá chủ đề, nội dung và 1 số nét nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm Hương Sơn phong cảnh( thân bài có 3 luận điểm) . giúp em với ạ
Dàn ý VBNL phân tích, đánh giá chủ đề, nội dung và một số nét nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm Hương Sơn phong cảnh
Mở bài
Giới thiệu tác giả Chu Mạnh Trinh: là nhà thơ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam, có tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên, yêu cảnh đẹp quê hương đất nước.Giới thiệu tác phẩm Hương Sơn phong cảnh: là một bài thơ đặc sắc viết về quần thể thắng cảnh Hương Sơn.Nêu khái quát vấn đề nghị luận: tác phẩm đã ca ngợi vẻ đẹp vừa hùng vĩ, thơ mộng vừa linh thiêng của Hương Sơn, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về non nước và tài năng nghệ thuật của tác giả.Thân bài
Luận điểm 1: Chủ đề của tác phẩm là ca ngợi vẻ đẹp của Hương Sơn và bộc lộ tình yêu, niềm say mê của tác giả trước cảnh sắc quê hương
Hương Sơn hiện lên như một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn, vừa thực vừa giàu chất thơ.Qua việc miêu tả cảnh Hương Sơn, tác giả bày tỏ sự ngợi ca đối với thắng cảnh nổi tiếng của đất nước.Tác phẩm còn thể hiện niềm tự hào, tình yêu tha thiết của con người trước vẻ đẹp non sông Việt Nam.Đây không chỉ là bức tranh phong cảnh mà còn là tiếng lòng của một con người có tâm hồn nghệ sĩ, biết rung động trước cái đẹp.Luận điểm 2: Nội dung tác phẩm làm nổi bật vẻ đẹp đa dạng của Hương Sơn: vừa thanh cao, thơ mộng, vừa linh thiêng, huyền ảo
Cảnh Hương Sơn được miêu tả với nhiều chi tiết gợi hình, gợi cảm:Núi non, hang động, chùa chiền, mây trời, suối nước hòa quyện với nhau tạo nên một không gian vừa rộng lớn vừa nên thơ.Cảnh vật mang vẻ đẹp thanh tịnh, trong trẻo, thoát tục.Hương Sơn không chỉ đẹp ở thiên nhiên mà còn đẹp ở chiều sâu văn hóa, tâm linh:Đây là chốn Phật, gợi cảm giác linh thiêng, thanh sạch.Cảnh sắc vì thế không đơn thuần là cảnh vật mà còn thấm đẫm màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng.Từ cảnh đẹp của Hương Sơn, người đọc cảm nhận được sự giao hòa giữa thiên nhiên và lòng người:Cảnh vật làm say lòng người.Tâm hồn tác giả như hòa nhập vào cảnh, vừa ngắm nhìn, vừa thưởng thức, vừa nâng niu vẻ đẹp ấy.Luận điểm 3: Một số nét nghệ thuật đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm
Bút pháp miêu tả giàu chất hội họa:Cảnh vật hiện lên có đường nét, màu sắc, không gian rõ ràng.Người đọc có cảm giác như đang trực tiếp đứng trước thắng cảnh Hương Sơn.Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi:Từ ngữ chọn lọc, trang nhã, đậm chất thơ.Nhiều hình ảnh đẹp, tạo cảm giác vừa cụ thể vừa mơ màng.Giọng điệu say mê, ngợi ca:Giọng thơ thể hiện sự trân trọng, thích thú, tự hào của tác giả trước cảnh đẹp.Nhờ đó, cảm xúc bài thơ trở nên chân thành và có sức truyền cảm.Sự kết hợp hài hòa giữa tả cảnh và bộc lộ cảm xúc:Cảnh không tách rời tình.Qua cảnh đẹp Hương Sơn, người đọc thấy được tâm hồn tinh tế, phong nhã của tác giả.Kết bài
Khẳng định lại giá trị của tác phẩm: Hương Sơn phong cảnh là bài thơ đặc sắc viết về danh lam thắng cảnh quê hương, thể hiện vẻ đẹp của Hương Sơn và tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả.Đánh giá chung: tác phẩm hấp dẫn bởi nội dung giàu cảm xúc và nghệ thuật miêu tả tinh tế, giàu sức gợi.Nêu cảm nghĩ: bài thơ giúp người đọc thêm yêu vẻ đẹp non sông Việt Nam và biết trân trọng những giá trị thiên nhiên, văn hóa của dân tộc.Viết bài luận ( 600 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen mất trật tự trong giờ.
Trong mỗi lớp học, kỷ luật luôn là yếu tố quyết định chất lượng của một tiết học. Tuy nhiên, không ít bạn học sinh vẫn duy trì thói quen mất trật tự, nói chuyện riêng, làm việc riêng hoặc gây ồn ào trong giờ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn tác động tiêu cực đến cả lớp. Vì vậy, việc từ bỏ thói quen mất trật tự không chỉ là yêu cầu của giáo viên, mà còn là trách nhiệm của mỗi học sinh đối với tập thể. Tôi tin rằng nếu chúng ta thực sự hiểu được hậu quả của hành vi này, ai cũng sẽ tự giác thay đổi để xây dựng một môi trường học tập tốt đẹp hơn. Trước hết, mất trật tự trong giờ học làm giảm khả năng tiếp thu kiến thức. Khi lớp học ồn ào, giáo viên phải nhắc nhở liên tục, khiến thời gian giảng bài bị rút ngắn. Bản thân người gây ồn cũng khó tập trung, dẫn đến học kém, hay hiểu sai bài. Việc nói chuyện riêng hay làm việc riêng có thể mang đến cảm giác vui vẻ tạm thời, nhưng hậu quả lại là những lỗ hổng kiến thức khó bù đắp. Nếu tiếp tục như vậy, người chịu thiệt thòi nhất chính là chúng ta. Ngược lại, khi giữ trật tự, ta sẽ nghe giảng trọn vẹn, làm bài tập nhanh hơn và kết quả học tập cũng tiến bộ rõ rệt. Thứ hai, thói quen mất trật tự ảnh hưởng nghiêm trọng đến những bạn bè xung quanh. Không phải ai cũng có khả năng tập trung cao độ giữa tiếng ồn. Chỉ cần vài bạn nói chuyện, cả khu vực xung quanh đã bị phân tâm. Điều này gây ra sự khó chịu, giảm hiệu quả học tập của cả nhóm. Sự ồn ào còn khiến không khí lớp học trở nên căng thẳng khi giáo viên phải liên tục nhắc nhở. Chúng ta thử nghĩ xem: nếu mình đang cố gắng nghe giảng mà bạn bên cạnh nói chuyện không ngừng, liệu mình có cảm thấy thoải mái? Sự tôn trọng dành cho người khác đôi khi chỉ đơn giản là giữ im lặng đúng lúc. Không chỉ dừng lại ở đó, mất trật tự trong giờ học còn thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với thầy cô. Mỗi tiết học là sự chuẩn bị kỹ càng của giáo viên, từ bài giảng, ví dụ đến tài liệu minh họa. Khi lớp mất trật tự, công sức ấy bị xem nhẹ, làm cho giáo viên cảm thấy chán nản và mất động lực. Một lời nói chuyện nhỏ của học sinh đôi khi khiến cả bài giảng bị gián đoạn. Thầy cô dành tâm huyết để truyền đạt kiến thức, còn chúng ta chỉ cần một hành động nhỏ là giữ trật tự — điều đó hoàn toàn nằm trong khả năng của mỗi người. Cuối cùng, việc từ bỏ thói quen mất trật tự là trách nhiệm của mỗi học sinh trong việc xây dựng nề nếp chung của lớp. Một lớp học kỷ luật, nghiêm túc sẽ tạo ra môi trường tích cực, đoàn kết và hiệu quả. Khi tất cả mọi người đều chấp hành, lớp học sẽ trở nên nhẹ nhàng, thoải mái hơn, không còn cảnh thầy cô nhắc nhở liên tục. Chúng ta sẽ thấy việc học trở nên dễ chịu, chủ động và thú vị hơn rất nhiều. Tóm lại, thói quen mất trật tự trong giờ học không chỉ gây hại cho bản thân mà còn ảnh hưởng đến cả lớp và giáo viên. Từ bỏ hành vi này là điều cần thiết để chúng ta tiến bộ và xây dựng một môi trường học tập tốt đẹp hơn. Vì tương lai của chính mình, vì sự tôn trọng dành cho thầy cô và vì tập thể lớp, mỗi chúng ta hãy bắt đầu thay đổi ngay từ hôm nay. Chỉ cần một chút ý thức và nỗ lực, chúng ta hoàn toàn có thể tạo nên sự khác biệt.
viết bài văn nghị luận về nêu ý nghĩa của việc giúp đỡ và chia sẽ con người trong hoàn cảnh khó khăn khi bão lũ
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích truyện “Buổi sớm”. Thạch Lam
viết bài văn nghị luận phân tích đánh giá nội dung, chủ đề và những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Bức Tượng của Antov
Truyện ngắn Bức tượng của S. Antov kể về một người đàn ông miệt mài đào đất để lấy đất sét nặn tượng chính mình, trong quá trình đó ông vô tình đào được một cái giếng sâu. Sau khi hoàn thành bức tượng, ông tin rằng mai sau người ta sẽ nhớ đến mình, nhưng đến một trưa hè, khách qua đường lại ca ngợi người đào giếng chứ không nhắc gì đến bức tượng. Tình huống ấy tạo nên một nghịch lí giàu ý nghĩa: điều con người cố ý dựng lên để lưu danh chưa chắc đã bền lâu, còn giá trị thật sự đem lại lợi ích cho cộng đồng thì tự nó sẽ được ghi nhận.
Nội dung nổi bật của truyện là lời nhắc nhở sâu sắc về lẽ sống của con người. Tác phẩm phê phán thói háo danh, sự tự tôn quá mức và khát vọng bất tử bằng vẻ ngoài hình thức, đồng thời đề cao những việc làm âm thầm nhưng hữu ích cho đời sống con người. Cái giếng trong truyện không chỉ là một sự vật cụ thể mà còn tượng trưng cho những giá trị thiết thực, bền vững, còn bức tượng là biểu tượng cho thứ vinh quang cá nhân dễ mong manh, phù phiếm. Qua đó, truyện gửi gắm chủ đề có ý nghĩa nhân sinh rõ rệt: con người chỉ thật sự được nhớ đến khi tạo ra giá trị cho người khác, sống có ích quan trọng hơn cố dựng tên tuổi cho riêng mình.
Về nghệ thuật, trước hết truyện thành công ở cách xây dựng tình huống ngắn mà sắc. Chỉ bằng một cốt truyện rất gọn, tác giả đã đẩy nhân vật vào một nghịch cảnh nhận thức đầy sức gợi: ông muốn người đời nhớ đến bức tượng, nhưng cuối cùng chính cái giếng mới là thứ khiến người khác biết ơn. Kết thúc bất ngờ mà tự nhiên, tạo dư âm mạnh và buộc người đọc suy nghĩ. Đây là nét đặc sắc tiêu biểu của truyện cực ngắn: dung lượng ít nhưng ý nghĩa lớn, lời ít mà sức gợi nhiều.
Bên cạnh đó, hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng của truyện rất đắt. Bức tượng là hình ảnh của cái tôi muốn được tôn vinh, còn cái giếng là biểu tượng của sự cống hiến thầm lặng, âm thầm nuôi sống con người. Thủ pháp đối lập giữa bức tượng và cái giếng, giữa mục đích cá nhân và giá trị cộng đồng, giữa điều nhân vật mong muốn và điều cuộc đời ghi nhận đã làm bật tư tưởng tác phẩm. Giọng kể khách quan, tỉnh táo, ít bình luận nhưng giàu hàm ý cũng góp phần khiến bài học hiện ra tự nhiên, không lên gân mà vẫn thấm thía.
Có thể nói, Bức tượng là một truyện ngắn rất ngắn nhưng chứa đựng tư tưởng đẹp và sâu. Tác phẩm khiến người đọc tự hỏi nên sống để được ngắm nhìn, ca tụng hay nên sống để đem lại nguồn mát cho đời. Chính nhờ nội dung giàu tính triết lí, chủ đề nhân văn và nghệ thuật xây dựng tình huống cô đọng, biểu tượng rõ nét, truyện ngắn này để lại ấn tượng bền lâu và có giá trị thức tỉnh nhận thức của mỗi người.
Phân tích, đánh giá nội dung nghệ thuật của đoạn thơ sau
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Nội dung: Khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên thôn Vĩ Dạ (Huế) trong buổi ban mai tinh khôi, trong trẻo và tràn đầy sức sống. Cảnh vật được tắm trong "nắng mới lên" - ánh nắng tinh khiết, rực rỡ của buổi bình minh. Điệp từ "nắng" ("nắng hàng cau nắng mới lên") gợi cảm giác ánh sáng tràn ngập, lan tỏa khắp không gian, làm bừng sáng cảnh vật. Hình ảnh "hàng cau" cao vút, thẳng tắp đón nắng sớm, là nét đặc trưng của làng quê Việt Nam. "Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc" là lời reo vui, trầm trồ ngạc nhiên trước vẻ đẹp tuyệt vời của khu vườn. Từ "mướt" gợi sự non tơ, đầy sức sống. Phép so sánh "xanh như ngọc" nhấn mạnh vẻ đẹp cao quý, thuần khiết, quý giá và lấp lánh của màu xanh cây lá, như một chất ngọc bích. Vẻ đẹp con người xứ Huế kín đáo, phúc hậu hòa quyện với thiên nhiên: "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" là một nét vẽ tài hoa, cách điệu hóa. Nó gợi hình ảnh thiếu nữ xứ Huế e ấp, dịu dàng, ẩn mình sau "lá trúc" - biểu tượng của sự thanh cao, tao nhã. "Mặt chữ điền" chỉ vẻ đẹp phúc hậu, hiền lành, đôn hậu theo quan niệm truyền thống. Sự xuất hiện của con người làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên sống động, có hồn hơn, thể hiện sự hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh và người. Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Đằng sau bức tranh cảnh vật là một tâm hồn nhạy cảm, tha thiết yêu thiên nhiên và con người, một sự ngỡ ngàng, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp thanh khiết của thôn Vĩ. Đại từ phiếm chỉ "Vườn ai" vừa là sự tò mò, vừa là sự ngạc nhiên, thán phục. 2. Nghệ thuật: Sử dụng ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu hình ảnh, sức gợi cảm: Lựa chọn từ ngữ gợi tả sắc thái (ví dụ: "mướt quá"), ánh sáng (ví dụ: "nắng mới lên"). Biện pháp tu từ: Điệp từ: "nắng" (trong câu thơ đầu) tạo ấn tượng về sự tràn ngập ánh sáng. So sánh: "xanh như ngọc" nâng tầm vẻ đẹp của khu vườn lên thành vẻ đẹp quý giá, lấp lánh. Nghệ thuật cách điệu hóa: Hình ảnh "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" là nét vẽ đầy ấn tượng, vừa tả thực vừa mang tính tượng trưng, gợi vẻ đẹp kín đáo, duyên dáng của con người xứ Huế. Nhịp thơ nhẹ nhàng, khoan thai (có thể là 1/3/3 hoặc 4/3): Phù hợp với không gian yên ả, thanh bình của thôn Vĩ Dạ. Tóm lại: Ba câu thơ là một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, trong trẻo, giàu sức sống về cảnh vật và con người Vĩ Dạ trong buổi sớm mai, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người sâu sắc và tâm hồn lãng mạn, tinh tế của Hàn Mặc Tử.