Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Xem chi tiết

Đây là lưu ý tối quan trọng cho các bạn học sinh 12 nhé! Các bạn chú ý hí!

Ẩn danh
Xem chi tiết

Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và Triều Tiên vẫn tồn tại một số đảng phái khác ngoài đảng cầm quyền, nhưng vai trò và vị trí của họ khác với mô hình đa đảng cạnh tranh ở các nước phương Tây.

Thứ nhất, các đảng này không phải là lực lượng cạnh tranh quyền lực. Ở Trung Quốc, các đảng khác như các “đảng dân chủ” tồn tại trong khuôn khổ Mặt trận Thống nhất do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Họ không tranh cử để thay thế Đảng Cộng sản mà chủ yếu tham gia tư vấn chính sách, đại diện cho một số tầng lớp xã hội và thể hiện sự hợp tác chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Thứ hai, sự tồn tại của các đảng này có ý nghĩa lịch sử và chính trị. Nhiều đảng được thành lập trước năm 1949 hoặc trong thời kỳ cách mạng, sau đó lựa chọn hợp tác với Đảng Cộng sản. Vì vậy nhà nước vẫn duy trì họ như một phần của hệ thống “hợp tác đa đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”.

Thứ ba, mục đích là mở rộng tính đại diện xã hội và tạo kênh tham vấn. Các đảng này thường đại diện cho trí thức, doanh nhân, giới khoa học hoặc các nhóm xã hội nhất định, góp ý cho chính sách thông qua các cơ chế như Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc.

Đối với Triều Tiên, ngoài Đảng Lao động còn có một số đảng nhỏ như Đảng Dân chủ Xã hội Triều Tiên và Đảng Chondoist Chongu, nhưng các đảng này hoạt động trong Mặt trận Thống nhất vì Tổ quốc và cũng không cạnh tranh quyền lực với Đảng Lao động. Vai trò của họ chủ yếu mang tính biểu tượng chính trị và đại diện một số nhóm xã hội trong hệ thống do Đảng Lao động lãnh đạo.

Tóm lại, các đảng khác tồn tại trong hai nước này nhưng hoạt động theo mô hình hợp tác chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, không phải mô hình đa đảng cạnh tranh giành quyền lực.


Kết Bạn Nha
Xem chi tiết

Bạn có thể chọn bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được chụp năm 1946 tại Hà Nội. Trong ảnh, Người mặc bộ quần áo kaki giản dị, gương mặt hiền từ, ánh mắt sáng và nụ cười hiền hậu. Lời thuyết minh: Bức ảnh ghi lại hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tên thật của Người là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5/1890 tại làng Kim Liên, Nghệ An. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước và bôn ba qua nhiều nước trên thế giới. Năm 1941, Người về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân giành độc lập. Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Suốt cuộc đời, Bác Hồ tận tụy cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Bức ảnh không chỉ là chân dung vị lãnh tụ mà còn thể hiện tấm gương sống giản dị, gần gũi với nhân dân.

Kết Bạn Nha
Xem chi tiết

Lời thuyết minh cho video: Đây là video tổng hợp tư liệu rõ nét về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi còn là Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu nước đến vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập. Thông qua hình ảnh và lời bình, video giúp người xem hiểu được hành trình tìm tự do cho dân tộc, tinh thần kiên cường và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, người được nhân dân Việt Nam kính trọng như một vị cha già của dân tộc. Nếu bạn cần một tranh ảnh hoặc poster cụ thể để thuyết minh, mình có thể mô tả và viết lời phù hợp — chỉ cần nói mình muốn chọn loại tư liệu gì (ảnh chân dung, ảnh hoạt động, poster tuyên truyền, vv).

Nguyễn Duy Khang
Xem chi tiết

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là kết quả của nhiều nguyên nhân quan trọng. Trước hết, đó là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối cách mạng phù hợp, biết kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đồng thời nắm bắt kịp thời thời cơ cách mạng. Bên cạnh đó, tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh kiên cường và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam là cơ sở xã hội to lớn quyết định sự bùng nổ và thắng lợi nhanh chóng của cách mạng. Ngoài ra, thắng lợi còn có nguyên nhân từ hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, đặc biệt là việc phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, làm cho bộ máy thống trị ở Đông Dương tan rã. Theo tôi, nguyên nhân quyết định nhất là sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi nếu không có đường lối đúng đắn và sự chỉ đạo kịp thời thì dù có thời cơ và lòng dân, cách mạng cũng khó có thể giành thắng lợi nhanh chóng và triệt để.

Hồng Thủy
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
21 tháng 12 2025 lúc 21:15

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946–1950), “thế” trên chiến trường giữa Việt Nam và Pháp đã có sự thay đổi rõ rệt, thể hiện qua các điểm sau: Ban đầu, thực dân Pháp chiếm ưu thế về “thế”. Pháp có quân đội chính quy, vũ khí hiện đại, kinh nghiệm chiến tranh và nhanh chóng chiếm được các đô thị, trục giao thông quan trọng. Trong khi đó, Việt Nam ở vào thế bất lợi, lực lượng vũ trang còn non yếu, trang bị thô sơ, kinh tế khó khăn, phải vừa kháng chiến vừa xây dựng lực lượng. Tuy nhiên, từ cuối năm 1947 trở đi, đặc biệt sau Chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông 1947, “thế” chiến tranh bắt đầu thay đổi có lợi cho Việt Nam. Ta giữ vững và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não kháng chiến, làm thất bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp. Quân đội ta trưởng thành nhanh chóng, chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, buộc Pháp lâm vào thế bị động, phân tán lực lượng để đối phó. Đến năm 1950, với Chiến dịch Biên giới, Việt Nam giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính, mở thông đường liên lạc quốc tế và làm suy yếu nghiêm trọng thế phòng ngự của Pháp. Như vậy, trong giai đoạn 1946–1950, “thế” trên chiến trường đã chuyển dần từ bất lợi sang có lợi cho Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho những thắng lợi lớn sau này.

Ẩn danh
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
28 tháng 11 2025 lúc 16:38

Cuộc kháng chiến cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945‑1975 mang hai tính chất: vừa là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, vừa là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

– Sau Tháng Tám 1945, nước ta giành độc lập nhưng ngay lập tức bị các thế lực xâm lược quay lại. Nhân dân ta buộc phải cầm vũ không chỉ để bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được mà còn giữ vững lãnh thổ, bảo vệ nhân dân, ngăn chặn âm mưu lăn chiếm Việt Nam của thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ. Đó chính là tính chất bảo vệ Tổ quốc.

– Tuy nhiên mục tiêu cố lời của cuộc kháng chiến là giải phóng dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp (1945‑1954), nhân dân ta đấu tranh để làm thét gông xiềng thực dân, giành đọc lập. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954‑1975), miền Bắc vừa xây dựng CNXH vừa chiến đấu bảo vệ, hỗ trợ miền Nam đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước. Toàn bộ cuộc chiến đó là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành lại quốc gia thông nhất. Như vậy, tính chất bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc trong kháng chiến 1945‑1975 bổ sung cho nhau: ta cầm vũ để bảo vệ độc lập và đấu tranh xóa bỏ mọng xiềng nô lệ, giúi tải lâu dài cho tự do, thống nhất Tổ quốc.

Quoc Tran Anh Le
28 tháng 11 2025 lúc 16:47

Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giai đoạn 1945‑1975 mang hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất, đó là cuộc chiến tránh vệ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng Tháng Tám, bảo vệ đất nước trước sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp và mỏ mang Mỹ. Nhân dân ta phải cầm súng để giữ vững độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Thứ hai, cuộc kháng chiến cũng là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta không chỉ bảo vệ điều đã có mà còn phải quét sạch ách đô hộ thực dân, giành lại quyền tự quyết định và thống nhất đất nước. Mục tiêu của toàn dân là "không có gì quý hơn độc lập, tự do". Do đó, cuộc kháng chiến 1945‑1975 vừa là cuộc chần giữ đất nước chính nghĩa, vừa là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nhằm giành lại và bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Trần Bảo Lâm
14 tháng 12 2025 lúc 11:05
Cuộc chiến tranh 1945-1975 của nhân dân Việt Nam mang đồng thời hai tính chất "giải phóng dân tộc" và "bảo vệ Tổ quốc", trong đó tính giải phóng dân tộc là chủ yếu.  Tính chất "giải phóng dân tộc"Đối tượng xâm lược: Nhân dân Việt Nam phải chiến đấu chống lại sự xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ, các thế lực ngoại bang có dã tâm biến Việt Nam thành thuộc địa hoặc chia cắt lâu dài.Mục tiêu: Mục tiêu hàng đầu, xuyên suốt là giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.Lực lượng: Cuộc chiến thu hút và tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh vì mục tiêu chung là độc lập, tự do.Ý nghĩa: Thắng lợi của cuộc chiến đã giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị ngoại bang, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.  Tính chất "bảo vệ Tổ quốc"Bối cảnh: Sau Cách mạng tháng Tám (1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, nhưng ngay lập tức phải đối mặt với nguy cơ bị các thế lực thù địch bao vây, xâm lược trở lại, đe dọa thành quả độc lập vừa giành được.Nhiệm vụ: Song song với nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở miền Nam (trong thời kỳ chống Mỹ), là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị mới của đất nước.Thực tế: Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Việt Nam đã đứng lên bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, chống lại sự xâm phạm chủ quyền quốc gia. Tính chất "giải phóng dân tộc" là chủ yếu vì độc lập, tự do là điều kiện tiên quyết để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước theo con đường đã chọn. Hai tính chất này thống nhất biện chứng với nhau, tạo nên chính nghĩa của cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại của nhân dân Việt Nam.
Thu Huyền
Xem chi tiết

14. C

15. A

Ẩn danh
Xem chi tiết
Đoàn Hải Uyên
22 tháng 10 2025 lúc 18:33

1. Giai đoạn 1945 - đầu thập niên 70 thế kỷ XX là thời kỳ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới.

2. Mục tiêu quan trọng của ASEAN (1967) là thúc đẩy hợp tác kinh tế và văn hóa, xây dựng hòa bình, ổn định khu vực và giải quyết các mâu thuẫn nội bộ.

Ẩn danh
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
30 tháng 10 2025 lúc 12:47

Câu 6: Sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ thương mại và xu hướng toàn cầu hóa là hệ quả trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ. Câu 7: Tính đến hiện nay, Đông Timor (Timor‑Leste) là quốc gia duy nhất trong khu vực Đông Nam Á chưa chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Câu 8: Sau Chiến tranh lạnh, quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển theo xu thế đa cực, nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại. Câu 9: Một trong những nước có tầm ảnh hưởng lớn trong xu thế đa cực là Hoa Kỳ. Câu 10: Một nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc là tôn trọng sự bình đẳng về chủ quyền của tất cả các thiên.ành v

Quoc Tran Anh Le
30 tháng 10 2025 lúc 12:52

Câu 11: Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN coi con người là trung tâm trong mọi hoạt động. Câu 12: Từ năm 1945 đến đầu thập niên 1970 là giai đoạn xác lập và phát triển trật tự thế giới hai cực Ianta. Câu 13: Quyết định của Hội nghị Ianta dẫ n đến sự phân chia hai cực là thỏa thuận việc đóng quân và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu, châu Á. Câu 14: Nội dung "hợp tác phát triển có hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội" không phải là nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc. Câu 15: Nhận xét sai về Hiệp ước Bali (1976) là cho rằng hiệp ước này chấm dứt hoàn toàn sự mâu thuẫ n giữa các nước trong khu vực.

Quoc Tran Anh Le
30 tháng 10 2025 lúc 12:54

Câu 16: Nội dung không thuộc Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN là hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Câu 17: Văn kiện đầu tiên chính thức khẳng định ý tưởng xây dựng Cộng đồng ASEAN là Tầm nhìn ASEAN 2020. Câu 18: Nguyên nhân cơ bản gắn kết các quốc gia ASEAN là sự đoàn kết, đồng thuận và thống nhất trong đa dạng. Câu 19: Mở rộng kết nạp thành viên trên toàn thế giới không phải là vai trò của Liên Hợp Quốc. Câu 20: Cuộc đấu tranh giữa các dân tộc theo xu hướng đa cực không phải là xu thế phát triển của thế giới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc.

bùi thảo duyên
Xem chi tiết
Nguyễn  Việt Dũng
6 tháng 10 2025 lúc 3:55

Vạn Lí Trường Thành là một trong những công trình kiến trúc vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, bức tường thành này không phải được xây dựng trong một thời gian ngắn, mà là kết quả của quá trình nhiều thế kỉ nối tiếp nhau.

Ngay từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc (thế kỉ VII – IV TCN), các nước chư hầu ở miền Bắc Trung Quốc như Yên, Triệu, Ngụy, Tần đã xây dựng những đoạn tường thành bằng đất nện, gỗ và đá để ngăn chặn sự xâm nhập của các bộ tộc du mục phương Bắc, đặc biệt là người Hung Nô. Tuy vậy, các đoạn thành này rời rạc, chưa có sự liên kết thống nhất.

Đến năm 221 TCN, sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng cho nối liền các đoạn thành cũ lại với nhau, đồng thời xây mới nhiều đoạn khác, tạo thành một tuyến phòng thủ dài hàng nghìn kilômét. Đây chính là bước khởi đầu để hình thành Vạn Lí Trường Thành dưới dạng một công trình lớn. Quá trình xây dựng vô cùng gian khổ, phải huy động hàng vạn binh lính, nông dân và cả tù nhân. Nhiều người chết ngay trên công trường, khiến Trường Thành còn được gọi là “nghĩa địa dài nhất thế giới”.

Sau triều Tần, các triều đại Hán, Ngụy, Tùy, Đường tiếp tục sửa chữa và mở rộng Trường Thành, nhất là nhà Hán, khi họ coi đây là tuyến phòng thủ quan trọng để bảo vệ con đường Tơ lụa. Tuy nhiên, công trình này nhiều khi bị bỏ phế hoặc chỉ được duy trì ở một số đoạn.

Đến triều Minh (1368 – 1644), Trường Thành mới được xây dựng lại trên quy mô lớn và kiên cố hơn. Người Minh đã dùng gạch nung, đá tảng và vôi vữa để thay thế cho đất nện thô sơ trước đây. Họ còn cho xây thêm nhiều đồn binh, pháo đài, tháp canh, khiến Trường Thành trở thành một hệ thống quân sự đồ sộ và kiên cố. Chính hình dáng còn lại của Vạn Lí Trường Thành mà chúng ta thấy ngày nay chủ yếu được xây dựng vào thời Minh.

Trải qua hàng nghìn năm, Vạn Lí Trường Thành không chỉ là tuyến phòng thủ chống giặc ngoại xâm, mà còn là biểu tượng cho ý chí, sức lao động bền bỉ và sáng tạo của nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, Trường Thành kéo dài hơn 21.000 km, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới (1987), trở thành biểu tượng nổi tiếng của Trung Quốc và một kì quan của nhân loại.