Câu 1:
a. Xét tam giác AED và ACB có:
AE = AC (gt)
Góc EAD = Góc CAB (2 góc đối)
AD = AB (gt)
=> hai tam giác bằng nhau (cgc)
b. CMtt tam giác EAB = tam giác CAD
=> Góc EBD = góc CDB (2 góc tương ứng)
Vị trí so le trong
=> EB // CD
Bài 1: Xét \(\Delta\) AED và \(\Delta\)ABC có: \(\left\{{}\begin{matrix}AE=AC\left(gt\right)\\AD=AB\left(gt\right)\\\widehat{EAD}=\widehat{BACđối}đỉnh\end{matrix}\right.\)
⇒ \(\Delta\) AED = \(\Delta\) ACB (c-g-c)
b; Tứ giác BCDE là hình bình hành vì có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường. ⇒ EB // DC (đpcm)
Bài 2
a) Xét hai tam giác vuông: ∆ABD và ∆ABC có:
AB là cạnh chung
BD = BC (gt)
⇒ ∆ABD = ∆ABC (cạnh huyền - cạnh góc vuông)
b) Do ∆ABD = ∆ABC (cmt)
⇒ AD = AC (hai cạnh tương ứng)
Xét hai tam giác vuông: ∆ADE và ∆ACB có:
AD = AC (cmt)
AE = AD (gt)
⇒ ∆ADE = ∆ACB (hai cạnh góc vuông)
⇒ ∠ADE = ∠ACB (hai góc tương ứng)
Mà ∠ADE và ∠ACB là hai góc so le trong
⇒ DE // BC
Bài 2:
a; Xét giác vuông ABD và tam giác vuông ABC có: \(\left\{{}\begin{matrix}ABchung\\BD=BC\left(gt\right)\end{matrix}\right.\)
⇒ \(\Delta\) ABD = \(\Delta\) ABC (cạnh huyền, cạnh góc vuông)
b; Vì \(\Delta\) BCD cân tại B do BD = BC (gt)
Mặt khác: BA \(\perp\) DC ⇒ A là trung điểm BC (trong tam giác cân đường cao là đường trung tuyến) (1)
A là trung điểm BE theo giả thuyết (2)
Từ (1) và (2) ta có: tứ giác BCED là hình bình hành (vì tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường thì tứ giác đó là hình bình hành)
⇒ BC // DE (đpcm)
Bài 3
a) Xét hai tam giác vuông: ∆EHM và ∆KHM có:
HM là cạnh chung
∠EMH = ∠KMH (gt)
⇒ ∆EHM = ∆KHM (cạnh huyền - góc nhọn)
b) Do ∆EHM = ∆KHM (cmt)
⇒ HE = HK (hai cạnh tương ứng)
⇒ H nằm trên đường trung trực của EK (1)
Do ∆EHM = ∆KHM (cmt)
⇒ MK = ME (hai cạnh tương ứng)
⇒ M nằm trên đường trung trực của EK (2)
Từ (1) và (2) ⇒ MH là đường trung trực của EK
Mà MH cắt EK tại N
⇒ N là trung điểm của EK
