Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 22
Số lượng câu trả lời 2904
Điểm GP 500
Điểm SP 4050

Người theo dõi (616)

Đang theo dõi (1)

lqhiuu

Câu trả lời:

Chắc hẳn ai cũng từng nghe câu thơ nổi tiếng: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Hoa sen là loài hoa đặc trưng của dân tộc Việt Nam, chính vì vậy khắp mọi nơi, cả ở vùng nông thôn hay chốn thành thị đông đúc cũng có những đầm sen rất đẹp. Và không phải đâu xa, gần nơi em ở cũng có một đầm sen đẹp như thế.

Đầm sen của xóm em không rộng lắm, nhưng sen mọc rất dày. Sen thuộc loài thân mềm. Đầm sen thường rất nhiều bùn, tuy vậy nhưng mặc dù nằm sâu tận dưới đáy bùn nhưng ngó sen vẫn trắng tinh, ngó sen có vị ngọt mát vậy nên là một món ăn rất ngon vào mùa hè. Thân của loài cây này rất mềm, rỗng bên trong nên rất dễ gãy. Lá sen có màu xanh và khá to, hình dáng gần như là hình tròn, và có một tính chất đặc biệt là không thấm nước giống như lá của cây khoai môn. Những hạt mưa rơi xuống trôi tuột và đọng lại ở giữa lá, lá sen có rất nhiều đường gân mọc đều thành một khung hình tròn. Hồi bé mỗi khi trời mưa, chạy mưa chạy qua đầm sen ngắt vội một lá chụp lên đầu, lá sen trở thành chiếc ô nhân tạo của chúng em.Chắc ai cũng biết cốm lúa mới thơm ngon, người ta làm cốm và cũng dùng lá sen để gói lại. Hoa sen thường nở vào cuối mùa hạ và đầu mùa thu, mùa thu mùa tựu trường cũng là lúc hoa sen nở, mỗi khi đi học ngang qua đó là một lần được ngắm vẻ đẹp của cả đầm sen. Hoa sen có nhiều cánh, khi chưa nở thì chụm lại, lúc nở thì xòe rộng ra, để lộ nhị vàng bên trong. Hoa sen có hai loại: hoa sen trắng và hoa sen đỏ nhưng không phải là đỏ tươi mà gần giống như màu mận chín. Hoa sen trắng mang một vẻ đẹp tinh khiết, tao nhã, còn hoa sen đỏ mang một vẻ đẹp đậm đà. Hoa sen có mùi thơm thoang thoảng, còn có một thức uống được xem như là đặc sản mà có sự góp phần của hoa sen đó là “chè sen” hay chính là chè ướp với cánh hoa sen. Loại chè này uống rất thơm và ngon được dùng làm quà biếu trong những ngày lễ tết.

Được một thời gian, hoa sen tàn, những cánh hoa rụng hết, phần nhị bên trong dần dần hình thành bát sen, đúng như tên gọi bát sen thật giống một cái bát, bên trong cái bát ấy là hạt sen. Hạt sen ăn cũng rất ngon, đồng thời còn được sử dụng trong các món chè, để kho với thịt và cũng là một vị không thể thiếu của thuốc bắc. Những lần đi học về sớm, chúng em rủ nhau xuống ngắt hoa sen về cắm bình để ở nhà, mặc dù biết là việc này xóm em cấm nhưng vẫn ngắt trộm. Đầm sen thường rất sâu nên chúng em chỉ dám bẻ những bông hoa ở gần bờ mà không dám ra xa vì sợ nguy hiểm. Xem trong ti vi người ta muốn lấy hoa sen phải có thuyền, một người trèo thuyền và một người bẻ hoa. Hoa sen cũng giống như rất nhiều loài hoa khác chỉ có mùa riêng của nó, hêt mùa, thường là vào mùa đông đầm sen lụi dần chỉ còn những thân cây khô nhô lên mặt nước. Ai cũng nhớ và mong sớm qua mùa đôn, đến mùa xuân ấm áp để những lá sen đầu tiên ngoi lên khỏi mặt nước và tiếp tục một mùa sen mới.

Đầm sen thật đẹp, đẹp từ lá sen đến hoa sen rồi bát sen, lá và bát sen màu xanh như làm nền cho những bông sen trắng nổi lên như một bức tranh thật hài hòa về màu sắc. Nhớ tới loài hoa này không ai có thể quên những câu thơ này:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Câu trả lời:

Làng Phương Chiểu quê em nằm dọc theo con đê sông Hồng, kéo dài đến hơn hai cây số. Giáp chân đê là một đầm sen bát ngát đang độ nở hoa, tạo nênmột khung cảnh tuyệt vời. Người dân làng em dù đi đâu xa cũng luôn nhớ về đầm sen ấy, bởi nó được coi như một mảnh hồn làng.

Hằng năm, cứ vào đầu mùa hè là hoa sen bắt đầu nở. Sen lan ra che kín mặt đầm, lá sen to xoè rộng, có cái nằm ngay trên mặt nước, có cái nhô cao lên như những chiếc dù xanh. Những búp sen vươn cao khỏi tầng lá xanh thẫm, hướng thẳng lên trời. Hoa sen nở từ từ trong vài ngày. Lúc đã nở hết, bông sen xoè những cánh mỏng và mịn như lụa, màu hồng tươi. Chính giữa là chiếc gương sen hình tròn được bao quanh bằng một lớp nhuỵ vàng, thơm ngát. Nhiều bông hoa đã tàn, chỉ còn lại đài sen màu xanh ngọc, trong chứa đầy hạt non. Giữa hè, hoa sen nở rộ, một màu hồng trải rộng ngút tầm mắt, hương sen ngào ngạt theo gió bay xa.

Chiều chiều, chúng em cột trâu vào những gốc dứa dại dưới chân đê, sát bên bờ đầm cho trâu gặm cỏ. Rồi mỗi đứa một chiếc diều, thi nhau thả xem diều ai bay cao hơn. Mặt đê rộn rã tiếng nô đùa. Phía Tây, - mặt trời đang xuống dần. Đỉnh núi Ba Vì sừng sững ln trên nền trời đỏ sẫm.

Nô đùa chán, chúng em kéo nhau xuống đầm sen để tắm. Nước trong và mát, lại thoang thoảng hương sen, rất dễ chịu. Trên mặt đầm, hơn chục chiếc thuyền thúng của các bà các chị đi hái hoa sen nhẹ nhàng len lách giữa những đám sen dày đặc. Hoa sen hái về được bó thành từng chục bằng lạt rơm và được bao kín bằng lá sen tươi. Sáng sớm mai, hoa sen làng em sẽ có mặt khắp các chợ nội ngoại thành của Thủ đô Hà Nội.

Cây sen rất có ích cho đời sống con người. Hoa sen cắm trong bình, trưng bày nơi phòng khách rất đẹp, rất sang. Nhuỵ sen ướp trà thành thứ trà sen nổi tiếng. Hạt sen nấu chè, làm mứt đều ngon. Lá sen tươi gói cốm làng Vòng, buộc bằng sợi rơm nếp vàng óng, xuất hiện mỗi độ thu về nhắc nhở rằng Tết Trung thu sắp đến.

Hoa sen đẹp một vẻ đẹp trong trắng. Hương sen thơm một mùi thơm thanh khiết. Nhiều người yêu hoa sen bởi hoa sen Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Câu ca dao: Trong đầm gì đẹp bàng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng đã trỏ nên thân thuộc, gần gũi với mỗi người dân đất Việt.

Câu trả lời:

Khi cây lúa lớn hơn những cây khác mọc lên thành khóm lúa, những khóm lúa có màu xanh đậm hơn, cứng cáp hơn dày dặn hơn. Thân vẫn không thiếu đi độ mềm dẻo khi có những cơn bão trở về từng khóm lúa bám chặt vào đất mặc cho sức gió lúa vẫn phát triển lớn lên. Khi cơn bão qua đi thì cánh đồng lúa không còn thẳng một màu được nữa vì cũng có những cây lúa đã đổ xuống. thế nhưng nó không chết đi mà nó vẫn gượng dậy và phát triển cho ra những hạt thóc vàng mùa bội thu. Cũng có những cây lúa nghiêng ngả đã vững vàng trước sóng gió đứng thẳng được dậy. Thời này là nơi đẹp nhất người ta gọi nó là thời con gái, những hạt thóc đang ấp ủ bên trong những thân lúa, cái món mà lũ trẻ trâu chúng tôi thường hay ăn, mùi của nó thơm thơm, vị của nó ngọt ngào, ngọt cái ngọt riêng của thóc lúa mà không có cái nào giống được. Dân làng tôi gọi nó là đòng đòng, những nhánh đòng đòng dấu mình bên trong thân lúa giống như những cô gái thẹn thùng nép nép ngượng ngùng. Không chỉ thế gọi nó là thời con gái vì lúc này lúa dẻo dai nhất đẹp nhất, nhìn cả cánh đồng với màu xanh đậm ai cũng sẽ chạnh lòng nghĩ về một thời tuổi thơ trên cánh đồng xanh mượt này.

Câu trả lời:

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Truyền thuyết Thánh Gióng có nhiều nhân vật:

- Nhân vật Thánh Gióng là nhân vật chính.

- Vợ chồng ông lão nghèo, cha mẹ của Gióng.

- Vua, sứ giả triều đình.

- Dân làng…

Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng có tính chất kì ảo:

- Sự ra đời kì lạ và tuổi thơ khác thường: Bà mẹ đặt chân mình vào vết chân to về nhà thọ thai 12 tháng; sinh cậu bé khôi ngô, lên 3 tuổi mà không biết nói biết cười.

- Nghe tin sứ giả bỗng dưng cất tiếng đòi đi đánh giặc. Cậu bé lớn nhanh như thổi.

- Thánh Gióng ra trận: Vươn vai thành dũng sĩ; ngựa sắt phun lửa; dùng tre làng đánh giặc.

- Thánh Gióng sống mãi: Bay về trời; để lại những dấu tích của tre, của ao đầm.

Câu 2: 2. Các chi tiết đặc biệt trong truyện thể hiện rất nhiều ý nghĩa:

- Thứ nhất, tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói đòi đi đánh giặc. Chi tiết này chứng tỏ nhân dân ta luôn có ý thức chống giặc ngoại xâm. Khi có giặc, từ người già đến trẻ con đều sẵn sàng đánh giặc cứu nước. Đó là ý thức thường trực và cao cả của người Việt Nam trong sự nghiệp cứu nước.

- Thứ hai, Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh giặc. Gióng không đòi đồ chơi như những đứa trẻ khác mà đòi vũ khí, những vật dụng để đánh giặc. Gióng đòi đồ sắt là muốn có những vũ khí tốt nhất của thời đại lúc bấy giờ để tiêu diệt quân thù. Muốn đánh giặc phải lưu tâm tới những vũ khí hữu hiệu.

- Thứ ba, bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé. Gióng là đứa con của nhân dân, được nhân dân nuôi nấng, dạy dỗ. Sức mạnh của Gióng là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của tinh thần đồng sức, đồng lòng.

- Thứ tư, Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ. Đây cũng là chi tiết thể hiện sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc. Khi hoà bình là những người lao động rất bình thường, nhưng khi chiến tranh xảy ra, sự đoàn kết đã hoá thành sức mạnh bão tố, phi thường, vùi chôn quân giặc.

- Thứ năm, Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gậy sắt là vũ khí của người anh hùng. Nhưng khi cần thì cả cỏ cây cũng biến thành vũ khí.

- Thứ sáu, Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời. Gióng cũng như nhân dân hay chính là nhân dân, đánh giặc vì lòng yêu nước, căm thù giặc, sẵn sàng hi sinh thân mình vì nghĩa lớn mà không màng tới công danh phú quý.

Câu 3: Ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng: Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm.

Gióng được sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng. Gióng đã chiến đấu bằng tất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân. Sức mạnh của Gióng không chỉ tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ và hiện đại.

Từ truyền thống đánh giặc cứu nước, nhân dân ta đã thần thánh hoá những vị anh hùng trở thành những nhân vật huyền thoại, tượng trưng cho lòng yêu nước, sức mạnh quật khởi của dân tộc.

Câu 4:

Sự thật lịch sử được phản ánh trong truyện Thánh Gióng là thời đại Hùng Vương. Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã khá phát triển, người dân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ, đồng thời cũng luôn luôn phải chống giặc ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ đất nước. Bên cạnh việc cấy trồng lúa nước, nhân dân thời bấy giờ đã có ý thức chế tạo vũ khí chống giặc từ chất liệu kim loại (bằng sắt). Truyền thuyết cũng phản ánh: trong công cuộc chống ngoại xâm, từ xa xưa, chúng ta đã có truyền thống huy động sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả các phương tiện để đánh giặc.