Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đăk Lăk , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 32
Số lượng câu trả lời 2281
Điểm GP 140
Điểm SP 1527

Người theo dõi (318)

Đang theo dõi (358)

Nguyễn Thu Lan
Lee
Lee
GOD FROM HELL
Iduyly
Thùy Linh

Câu trả lời:

Suốt chiếu dài Tổ quốc không đâu là không có rừng. Rừng có ở khắp nơi trên mảnh đất hình chữ S này cho thấy tầm quan trọng to lớn của rừng đến nhường nào. Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

Rừng vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Rừng được chia làm hai loại : rừng nguyên sinh và rừng nhân tạo. Rừng nguyên sinh là do thiên nhiên tạo ra còn rừng nhân tạo là rừng được hình thành nên bởi con người.Cỏ cây, hoa lá, động vật hoang dã… đều là các yếu tố hình thành nên rừng. Rừng có mối liên quan mật thiết đến đời sống con người, rừng là lá phổi xanh của Trái Đất, lá máy lọc khí khổng lồ của con người. Chính vì điều đó, rừng là một yếu tố thiên nhiên hữu dụng và lợi ích.

Rừng đem lại bao lợi ích cho con người. Ô xi chúng ta hít vào hang ngày một phần là từ rừng. Cây cối trong rừng ban ngày quang hợp, lấy khí CO2 và hải ra khí O2 cho con người hô hấp. Rừng còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu, cho cuộc sống hang ngày. Rừng chè, rừng cà phê,… cho con người nguyên liệu để tiêu dung trong nước cũng như xuất khẩu ra toàn thế giới. Rừng tre, rừng trúc cống hiến than mình cho con người làm cơm lam, làm đôi đũa,… Vai trò to lớn hơn cả của rừng là ngăn chặn lũ lụt, bảo vệ cuộc sống của con người. Có biết bao nhiêu trận lũ đã giảm bớt được sức tàn phá khi vào tới khu vực dân sinh là nhờ có rừng. Những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn luôn ngày đêm đứng vững trên mảnh đất để bảo vệ cuộc sống của người dân trong phố. Có cây, có rừng nên đất mới không bị sói lở. Nếu không có sự xuất hiện của rừng thì bao nhiêu người dân đã bị chết vì đất lở. Những khu rừng ngập mặn đóng vai trò chắn sống từ ngoài biển khơi, ngăn chặn dòng nước mặn từ biển đổ vào thành phố.

Rừng không những đóng vai trò to lớn trong hiện tại mà trước kia, rừng cũng là mồ chôn quân giặc. Những anh lính bộ đội cụ Hồ cần đến rừng để làm nơi ẩn náu, phục vụ kháng chiến. Có biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lấy rừng làm đề tài cho tác phẩm của mình. Ca khúc “Nhạc rừng” mang đậm nét thoáng đạt của rừng, bài thơ “Rừng Việt Bắc” đã nâng cao ý nghĩa của rừng trong kháng chiến,… và bao nhiêu tác phẩm thơ văn khác nữa.

Hiện nay, nhiều khu rừng ở Viêt Nam đang đi xuống một cách trầm trọng. Người dân thì cử thẳng tay chặt phá rừng mà không nghĩ đến tương lai sau này. Rừng đầu nguôn thì bị xóa sổ. Chính vì rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ bị xóa sổ mà gây ra biết bao nhiêu trận lũ quét. Việc khai thác rừng trái phép đã trở thành chuyện thường tình ở khắp mọi nơi, khắp mọi khu rừng trên đất nước. Hiện tượng lâm tặc hoành hành ngày càng nhiều ở các cánh rừng. Cứ vào mùa hanh khô, chì cần đốt một cái cây trong rừng cũng có thể gây cháy toàn bộ khu rừng. Người dân đốt phá rừng không có kế hoạch, không chịu trồng lại rừng. Chặt hết rừng này thì vẫn còn rừng khác, có lẽ, người dân nào cũng nghĩ như vậy. Sâu trong rừng là một mỏ khoáng sản khổng lồ, chính vì điều đó mà long tham của con người mới nổi lên, con người mới đi khai thác khoáng sản trái phép. Chỉ vì mục đích bảo vệ rừng mà nhiều nhân viên làm ở khu quản lí lâm nghiệp đã phải hi sinh cả tính mạng của mình. Lâm tặc chỉ yêu mỗi tiền của, coi tính mạng con người như cỏ rác, thẳng tay mà giết người để bịt đầu mối. Không những chặt cây lấy gỗ, người dân còn săn bắt động vật hoang dã để thu nguồn lợi nhuận trái phép.

Chính vì việc phá hoại rừng của người dân mà đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Cuộc sống của người dân vùng miền Trung Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung đang phải gánh chịu những cơn bão, những cơn song thần vào sâu trong đất liền là do không có rừng chắn. Hàng năm, có biết bao nhiêu trận lũ đổ về đất liền, cứ thế mà “tự nhiên xông thẳng” vào khu vực dân sinh vì không có rừng che chở. Bao nhiêu người thiệt mạng, mất nhà cửa vì lũ lụt. Qủa thật là “gậy ông đập lưng ông”, chính người dân chặt phá rừng cho nên bây giờ có lũ, lấy đâu ra rừng mà chắn nước lũ. Có những nơi thì đất trống đồi trọc, đất cứ thế mà trơ ra, chả có cây cối gì vì do bị khai thác bừa bãi. Động vật do bị săn bắn quá nhiều nên nhiều loài đang được ghi tên trong sách đỏ vì mang nguy cơ tuyệt chủng, loài ít, loài nhiều gây mất cân bằng sinh thái.Loài này tuyệt chủng thì còn loài kia, cứ thế mà chẳng mấy chốc trên Trái Đất này sẽ chẳng còn sự sống của muông thú. Nhiều khu vực hạ tầng cơ sở đã bị phá hủy.

Ở miền Trung, hiện tượng sa mạc hóa đã xuất hiện và đe dọa người dân ở nơi đây. “Hiệu ứng nhà kính”, biến đổi khí hậu toàn cầu là do không có rừng điều hòa khí hậu, lọc không khí. Môi trường không khí đã bị ô nhiễm mà rừng thì không còn thì việc nhiệt độ Trái Đất tăng cao là vô cùng dễ dàng. Một số khu rừng nguyên sinh, thắng cảnh đã mất sạch. Để ngăn chặn việc lâm tặc hoành hành, nhà nước đã phải bỏ ra hang chục tỷ đồng để khắc phục sự cố này. Không có rừng, nước mưa từ trên trời cứ xối xuống đất, làm đất đai cứ thế mà sạt lở. Các khu rừng ngập mặn bị phá hủy, đi liền với nó là lượng nước mặn từ biển tràn ngập khắp các đồng ruộng làm thu hẹp diện tích canh tác. Mất rừng cho nên một số thú dữ đã tấn công cuộc sống của con người. Động vật mất nơi ở là rừng cho nên nó đành phải di cư, đến phá hoạt cuộc sống của con người. Tự dưng tự bịa, đang ngồi trong nhà thì voi trong rừng kéo đến, đạp phá nhà cửa thì chẳng có một ai chịu đựng nổi. Và mối lo ngại lớn nhất của con người đang tiến dần đến, đó là lượng ô xi giảm. Ô xi giảm thì coi như Trái Đất này sẽ trở về thời nguyên thủy, không có sự sống.

Để ngăn chặn việc số lượng rừng đang ngày một giảm, nhà nước, chính quyền địa phương hay mỗi cá nhân nên có những biện pháp nhất định. Tốt nhất là không nên chặt phá rừng, còn nếu có phá rừng thì nên có ý thức trông lại. Những loài động vật trong rừng đang kêu cứu, cần sự giúp đỡ của con người đó. Hãy đừng bắn giết chúng nữa, đã là rừng thì phải có động thực vật, nếu chúng ta giết động vật thì còn gọi gì là rừng nữa. Hiện nay, nhiều quan chức cấp cao cũng đã huy động lực lưỡng tổ chức tuyên truyền cho con em kiến thức về rừng. Chương trình ti vi, các cuộc vận động,… đều đã được mở ra để con người có ý thức bảo vệ rừng hơn. Các cô, các chú kiểm lâm cũng đã bỏ ra hết sức mình để bảo vệ rừng, ngăn chặn lâm tặc.

Rừng có một vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người. Vì vậy, mỗi con người chúng, hãy góp một chút ít sức lực của mình để bảo vệ rừng, cũng như là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

Câu trả lời:

1. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã ghi nhận có 13.766 loài thực vật, trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (bảng 6.2). Theo đánh giá, 10 % số loài thực vật dã phát hiện được cho là đặc hữu. Bảng 6.2 .Thành phần loài thực vật có mạch Việt Nam
Ngành Loài Chi Họ
1. Ngành rêu 793 182 60
2. Ngành khuyết lá thông 2 1 1
3. Ngành Thông đất 57 5 3
4. Ngành Tháp bút 2 1 1
5. Ngành Dương xỉ 664 137 25
6. Ngành Hạt trần 63 23 8
7. Ngành Hạt kín 9.812 2.175 299
Tổng cộng: 11.373 2.524 378
Nguồn: Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999. Khu hệ động vật: Cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn (Nematoda), 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), 145 loài ve giáp (Acarina), 5.268 loài côn trùng, 260 loài bò sát (Reptilia), 120 loài ếch nhái (Amphibia), 840 loài chim (Avecs), gần 300 loài và phân loài thú (Mammalia). Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương-Mã Lai của IUCN, Việt Nam được xem là nơi giầu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùng phụ Đông Dương. Trong số 21 loài thú linh trưởng có trong vùng phụ này thì ở Việt Nam có tới 15 loài, trong đó có 7 loài và phân loài đặc hữu. Trong số 49 loài chim đặc hữu của vùng thì Việt nam đã có 33 loài. Theo Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) thì số loài chim đặc hữu của Việt Nam lên tới hàng trăm loài.

2. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái nước ngọt nội địa

Các thuỷ vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước, động vật không xương sống và cá. - Vi tảo: đã xác định được 1.402 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành; - Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật không xương sống. Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác (Crustacea), có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả. Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc trưng cho Việt Nam hay vùng Đông Dương. Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu cao của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam. Một điều đáng chú ý là tính chất nhiệt đới của thành phần loài giáp xác và thân mềm nước ngọt ở Việt Nam, được thể hiện ở sự phong phú về số giống hơn là số loài. Trong khi số lượng các giống giáp xác tới 94 giống, thì số loài của mỗi giống thường chỉ 1-3. Số giống chỉ có một loài khá nhiều, số giống có trên 5 loài rất ít, chỉ có 5 giống: Macrobrachium, Caridina, Schmackeria, Allodiaptomus, Palaemon. Trong số 60 giống trai ốc đã biết, chỉ có 3 giống là có 5 loài trở lên (Lamprotula, Lanceolaria, Corbicula). Theo các dẫn liệu thống kê (Bộ Thuỷ sản,1996; Đặng Ngọc Thanh và nnk., 2002), thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam là 546 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân (2001) đã công bố chuyên khảo về họ cá chép (Cyprinidae) ở Việt Nam với 315 loài và phân loài thuộc 103 giống, 11 phân họ. Hai tác giả này dự định công bố tiếp chuyên khảo tập 2 bao gồm các họ cá nước ngọt Việt Nam còn lại, vì vậy dự kiến thành phần loài cá nước ngọt Việt Nam có thể tới trên 700 loài. Theo các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân (2001), riêng họ cá chép có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Trong đó, có 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học. Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân bố ở các thủy vực sông, suối, vùng núi. Những đặc điểm trên đây của thành phần loài cho thấy khu hệ cá các thủy vực nội địa Việt Nam mang tính chất nhiệt đới, tính đa dạng khá cao (hơn 700 loài trên diện tích lãnh thổ không lớn, hơn 330.000 km2), thành phần loài cá có nguồn gốc nước mặn, lợ, phong phú phù hợp với vị trí địa lý gần biển của vùng đất liền, song với thành phần loài đặc hữu không nhiều. So với các vùng lân cận, họ cá chép ở Việt Nam phong phú hơn cả ở taxon loài lẫn taxon giống.

3. Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái biển và ven bờ

Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc-nam (Đặng Ngọc Thanh, 1996). Tổng kết các kết quả điều tra nghiên cứu biển ở nước ta cho đến nay đã phát hiện 10.837 loài sinh vật, gồm các nhóm như sau: - Thực vật: đến nay đã xác định 537 loài vi tảo, 667 loài rong biển, 15 loài cỏ biển. Riêng thực vật ngập mặn có 94 loài thuộc 72 chi, 58 họ; - Động vật nổi: 468 loài; - Động vật đáy: 6.377 loài động vật đáy, trong đó, có 225 loài tôm biển, 298 loài san hô cứng Scleractinia thuộc 76 giống, 16 họ; - Động vật chân đầu: 53 loài; - Cá biển: 2.038 loài thuộc 717 giống, 178 họ; - Động vật khác: 50 loài rắn biển (16 giống, 1 họ), 4 loài rùa, 16 loài thú biển.

4. Đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở Việt Nam khá cao. Hệ cây trồng được phát triển dưới các điều kiện tự nhiên và nhân tác. Theo thống kê, có khoảng 734 loài cây trồng phổ biến, thuộc 79 họ (bảng 6.3). Bảng 6.3. Số lượng các loài cây trồng phổ biến nhất ở Việt Nam
TT Nhóm cây Số loài
1 Cây lương thực (cung cấp tinh bột) 39
2 Cây thực phẩm 95
3 Cây ăn quả 104
4 Rau 55
5 Cây gia vị 39
6 Cây giải khát 12
7 Cây lấy sợi 16
8 Cây lấy dầu 44
9 Cây lấy tinh dầu 19
10 Cây cải tạo đất 28
11 Cây làm dược liệu 179
12 Cây cảnh 50
13 Cây bóng mát 5
14 Cây lấy gỗ 49
Nguồn : Nguyễn Văn Trương, 1999 Về động vật nuôi, trên cơ sở có sự đa dạng các HST, sinh cảnh, đa dạng về khí hậu nên Việt nam cũng là khu vực rất đa dạng các động vật nuôi: Bò, Trâu, Ngựa, Dê, Hươu, Thỏ, Lợn, Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng, các loài cá nước ngọt. Các loài cá nuôi có nguồn gốc nội địa bao gồm 21 loài trong 23 giống và 11 họ. Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được di nhập và thuần dưỡng khoảng 50 loài. Trong đó, có 35 loài cá cảnh, còn lại là cá nuôi lấy thịt. Sản lượng tôm cá nuôi (nước mặn và nước ngọt) ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong sản lượng thuỷ sản. Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến nay, thành phần loài thực vật, động vật trong sinh giới Việt Nam được thống kê và tóm tắt trong bảng 6.4. Tuy nhiên trong thành phần đã xác định được, một số nhóm sinh vật chưa được điều tra, nghiên cứu một cách đầy đủ hoặc chưa có đủ điều kiện đưa vào, chủ yếu là các nhóm động vật không xương sống và vi sinh vật. Bảng 6.4. Sự phong phú thành phần loài sinh vật của Việt Nam
Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được (SV) Số loài có trên thế giới (SW) Tỷ lệ % giữa SV/SW
1.Thực vật nổi/vi tảo
- nước ngọt 1.402
- biển 537
2. Rong, cỏ
- nước ngọt khoảng 20
- biển 682
3. Thực vật ở cạn khoảng 11.400 220.000 5
- Rêu 1.030 22.000 4,6
- Nấm lớn 826 50.000 1,6
4. Động vật không xương sống ở nước
- nước ngọt khoảng 800
- Biển khoảng 7.500
5. Động vật không xương sống ở đất khoảng 1.000
6. Giun sán ký sinh ở gia súc 161
7. Côn trùng khoảng 5.500
8. Cá 19.000 13
- nước ngọt Trên 700
- biển 2.038
9. Bò sát Bò sát biển 260 54 6.300 5
10. Lưỡng cư 120 4.184 2,9
11. Chim 840 9.040 9,3
12. Thú Thú biển gần 300 16 4.000 7,5

Theo các tài liệu thống kê (Tré de Groombridge, 1992), Việt Nam là một trong 25 nước có độ ĐDSH cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới) (WCMC, 1992)

Câu trả lời:

A. Mở Bài
- Vào đề trực tiếp từ câu của của M.goocki
- Nêu vấn đề cần nghị luận
B. Thân Bài
LĐ 1: Ý nghĩa câu nói của M.gooki
a, Giá trị của sách
- Là kiến thức của con ngưòi đã được tích luý ,chọn lọc,tổng hợp.
- Sách có sức mạnh vượt thời gian và ko gian : những cuốn sách viết trên đất sét ,trên da cừu,trên các thẻ tre..cách đây nhiều ngàn năm vẫn góp vào kho tàng tri thức hôm nay.Sách của các dân tộc xa xôi có thể dịch ra, phục vụ tích cực cho 1 dân tọc #
- Sách là 1 sản phẩm kì diệu của con người
b, Sách và kiến thức là con đường sống
- Sách khoa học cho con người đọc hiểu biết về thế giới xung quanh ,về vũ trụ bao la, về các đất nc xa xôi trên thé giới
- Sách giúp hiểu biết về cuộc sống con gnười các thời kì # nhau ,các dân tộc # nhau, hiểu biết đời sống văn hoá dân tộc ,tâm tư,tình cảm ,khát vọng của con người
-sách giúp mình tự khám phá ra dânt ộc mình bản thân mình\
-Sách giúp con ngươi biết ước mơ nuôi dưỡng khát vọng
LĐ2: đánh gia tác dụng của sách
a. Sách tốt
- Giúo con người hiểu biết đúng đắn về cuộc sống để từ hiểu biết mà yêu ghét đúng
-Nuôi dưỡng ,khích lệ những khát vọng cao thượng
b.SÁch xấu
- Xuyên tạc cuộc sống và con người ,đề cao dân tộc này mà bôi nhọ dân tộc #
- Kích động những thị hiếu thấp kém để cao lối sống bản năng
LĐ3: Thái độ của bản thân đoói với sách
-đọc sách là 1 cáhc tự bồi dưỡng kiến thức 1 thú vui tinh thần
-Biết chọn sách để đọc
-Biết cách đọc sách :làm cho cuộc sống của mình thêm phong phú ,đẹp hơn....
C,Két luận
-Khẳng định tác dụng của sách từ trước tới nay
- Sách mãi mãi gắn với sự phát triển của cuộc sống

Câu trả lời:

Mở bài:

Trật tự an toàn giao thông là một trong những vấn đề đang được xã hội quan tâm nhiều nhất.Vì sao? Vì nó là một vấn đề cần thiết và có tác động lớn tới cộng đồng-xã hội.

Hiện nay, tình trạng mất trật tự, thiếu an toàn giao thông đang diễn ra khá nhiều như: mất trật tự nơi công cộng (trường học, bệnh viện, khu giải trí…), phóng nhanh lấn chiếm lòng lề đường, vượt ẩu, lạng lách, chở quá qui định, vượt đèn đỏ…

Thân bài:

– Hàng ngày, có rất nhiềi tai nạn giao thông đã cướp hết biết bao sinh mạng của người vô tội, theo thống kê hàng năm thì Việt Nam là một trong nhữn nước có số người chết vì tai nạn giao thông thuộc loại nhiều nhất trên thế giới. Nhưng những số liệu này có được là do đâu? Đó là do những người không có ý thức an toàn giao thông…

– Vậy an toàn giao thông là gì? An toàn giao thông là sự chấp hành nghiêm chỉnh các qui luật về giao thông để tránh nguy hiểm cho chính bản thân mình va cộng đồng. Muốn giảm bớt những nguy hại cho xã hội, mỗi người chúng ta cần biết nhận thức trách nhiệm, ý thức của bản thân và tuân thủ đúng điều lệ do nhà nước đặt ra…

– Trên thực tế, nhiều người tham gia giao thông không chịu chấp hành theo luật, nhiều người tham gia giao thông trong tình trạng không tỉnh táo, không quan tâm đến những người xung quanh, gây hậu quả nghiêm trọng…(liên hệ thực tế)

– Vì vậy chúng ta cần phải nâng cao ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông, tuyên truyền và phát động nhiều chương trình có ý nghĩa giao thông an toàn, xử lí nghiêm những trường hợp vi phạm…

Kết bài

Để đất nước, xã hội mình tiến triển hơn nữa, mỗi người cần đóng góp phần nào đó công sức của mình vào công công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chúng ta hãy cố gắng chấp hành đúng luật lệ an toàn giao thông để bảo vệ và đẩy đất nước, xã hội mình lên một bước cao hơn.

Câu trả lời:

Sức khoẻ không chỉ là tình trạng không bệnh, tật của cơ thể, mà còn là trạng thái tinh thần bình an, tâm lý thoải mái với tất cả các mối quan hệ trong cuộc sống

1- Yếu tố sinh học: là những yếu tố thuộc cơ thể con người có liên quan đến SK thể chất và tâm thần: - di truyền - phái tính - tiến trình trưởng thành và lão hoá Cơ thể người là một cấu trúc phức tạp: bộ xương, hệ thần kinh, cơ, tim mạch, nội tiết, tiêu hoá v.v. Những yếu tố ảnh hưởng đến SK liên quan đến sinh học con người rất nhiều, thay đổi, và trầm trọng, những gì không ổn có thể xảy ra là vô số, có thể đưa đến mọi loại bệnh tật tử vong: - bệnh mãn tính: viêm khớp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, ung thư; - những bệnh khác: rối loạn di truyền, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần. Những vấn đề SK nguồn gốc từ sinh học người gây ra những đau khổ không thể kể hết, tại các nước phát triển, việc chữa trị những bệnh này tiêu tốn nhiều tỉ đô la. 2- Môi trường: là những yếu tố bên ngoài cơ thể, mà con người khó kiểm soát hay thậm chí không kiểm soát được. Cá nhân con người không thể tự mình bảo đảm: Môi trường tự nhiên: - ô nhiễm không khí, nước, tiếng động; - khí hậu, TD khí hậu nhiệt đới thuận tiện cho sự phát triển trung gian truyền bệnh như ruồi muỗi, làm lan truyền bệnh truyền nhiễm; Môi trường xã hội bao gồm: - Nơi chúng ta làm việc, học tập; - Khu dân cư nơi mình sinh sống, với những điều kiện an ninh, tiện nghi, công trình vệ sinh, giải trí khác nhau; TD khu ổ chuột, các chung cư cao tầng. - Nhóm người mà ta phụ thuộc vào, TD Các nhóm người khác nhau trong xã hội, có lối sống, tập quán khác nhau (TD xì ke, dân tộc ít người, người nhập cư… ) cũng hình thành những môi trường xã hội chuyên biệt; Môi trường xã hội có thể ảnh hưởng đến bệnh tật và tử vong bên cạnh các yếu tố nguy cơ cá nhân khác. Các nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ em nghèo cao hơn trẻ em gia đình thu nhập cao, vì trẻ em nghèo dùng thực phẩm rẻ, nhiều chất đường hơn; người gốc Phi có tỷ suất ung thư sớm hơn, người gốc Phi và Nam Mỹ có tỷ lệ đái tháo đường cao hơn… Như vậy Môi trường xã hội ảnh hưởng đến vừa SK thể chất vừa SK tâm thần. 3- Lối sống: là những gì ảnh hưởng đến SK do mỗi người quyết định, mà con người có thể ít nhiều kiểm soát được: rượu, thuốc lá, ít vận động, dinh dưỡng không đúng, tình dục không an toàn v.v. Những thói quen có hại cho SK là những nguy cơ do chính cá nhân tạo ra. Những nguy cơ này có thể dẫn đến bệnh tật, như nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh. Lối sống chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: trình độ học vấn, phong tục tập quán, gia đình, tôn giáo, phát triển kinh tế, đô thị hoá. 4 - Tổ chức y tế: số lượng, chất lượng, nguồn lực, cách tổ chức của ngành y tế trong việc cung ứng những chăm sóc SK. Nó bao gồm: - khám chữa bệnh - điều dưỡng - bệnh viện - chăm sóc tại nhà - dược phẩm - dịch vụ y tế công cộng và SK cộng đồng - cấp cứu - chăm sóc răng miệng công thức tính chỉ số BMI câng nặng(kg)/(chiều cao(m)*chiều cao(m))

Câu trả lời:

Lợi dụng việc triều đình Huế nhờ đem tàu ra vùng biển Hạ Long đánh dẹp cướp biển. Lấy cớ giải quyết vụ Đuy- puy.

=> Hơn 200 quân Pháp do Gác-ni-ê chỉ huy từ Sài Gòn kéo ra Bắc.

Sáng ngày 20-11-1873 quân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. 7000 quân triều đình dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương cố gắng cản địch nhưng thất bại. Buổi trưa thành mất. Trong vòng chưa đầy 1 tháng Pháp cho quân tỏa đi chiếm Hải Dương, Hưng Yên, Phủ Lí, Ninh Bình, Nam Định. Thái độ của nhà Nguyễn:
-Trong buổi đầu pháp xâm lược nước ta triều đình cũng có quyết tâm trong việc chống giặc, cử Nguyễn Tri Phương ra đốc quân chống giặc, cử Hoàng Diệu làm tổng đốc Hà nội để giữ lấy Bắc Kì.
-Sau khi mất Nam Kì lục tỉnh, Triều đình không kiên quyết chống giặc, cầm chừng, chủ yếu thiên về thương thuyết, nghị hòa.Triều đình bỏ dân, quan lại hèn nhát  kháng chiến của nhân dân mang tính tự phát. Triều đình nhu nhược, đường lối kháng chiến không đúng đắn, không đoàn kết với nhân dân.
- Luôn kí với pháp các hiệp ước:


1. Hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862)



2. Hiệp ước Giáo Tuất (13-5-1874)

3. Hiệp ước Hắc măng 25-8-1883

4. Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6-6-1884) Thủ tiêu độc lập thống nhất của nước ta.
Biến sự mất nước không tất yếu trở thành tất yếu.