Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 109
Số lượng câu trả lời 2174
Điểm GP 184
Điểm SP 1972

Người theo dõi (409)

Thư Phan
Cao ngocduy Cao
Shiratori Hime

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Nguyễn Phạm phương Linh

TẢ EM GÁI Mẹ vẫn dặn: “Con là chị gái, hơn em nhiều tuổi, phải biết yêu thương mẹ và thay mẹ lo toan cho em”. Nghe thì nặng nề chứ thực ra cả nhà đều lo toan cho em, tôi chỉ còn mỗi việc yêu em mà thôi. Mà việc đó lại quá đơn giản vì trong lòng tôi lúc nào cũng tràn đầy tình cầm yêu thương và trìu mến đối với Thư Lê – đứa em kém tôi gần chục tuổi. Mẹ quen gọi em là “Tấm” vì nó bé bỏng và đáng yêu lắm. Lâu dần rồi thành quen, cả xóm cùng gọi em tôi bằng cái tên mộc mạc đó. Tấm có khuôn mặt tròn, nước da trắng trẻo. Đôi mắt trong veo, cái miệng nhỏ nhưng rất hay cười. Cái cười của em tôi hồn nhiên, vui vẻ và cũng dễ lây. Mẹ thường nói, đi làm cả ngày về mệt mỏi nhưng nhìn thấy Tấm cười là tất cả tan biến hết. Có lẽ cái vô lí nhất trên mặt em tôi là cái mũi tẹt. Mẹ cứ ca cẩm, phàn nàn suốt: “Không biết Tấm lấy ở đâu ra cái mũi tẹt dí tẹt dị ấy”. Tôi chẳng thấy bận tâm tới điều đó tí nào, hình như chính sự vô lí đó lại đem đến cho em gái tôi sự ngộ nghĩnh, dễ thương mà chỉ có nó mới có được. Khi ăn, khi ngủ thì thôi, chứ bất cứ lúc nào chân tay nó cũng khua khoắng không ngừng. Mẹ thì sợ nó giống con trai chứ bố lại khoái chí cho rằng con gái thời đại này phải mạnh mẽ, quả quyết thế mới được. Riêng tôi, chả biết ai đúng chi thấy yêu em ghê gớm. Nó mà vắng nhà, cả nhà im ắng như Viện bảo tàng ấy. Nó trở về, cả nhà như tỉnh dậy sau giấc ngủ, mọi người rộn rịp chạy quanh để phục vụ, chơi đùa với em. Cả nhà ồn ã, vui vẻ, nhất là Tấm, mới ba tuổi mà cũng nói, cũng hát sõi ra phết, chả kém ai. Tôi thích ôm em vào lòng, nghe nó nói líu lo và hít cái mùi thơm từ da thịt em. Mà sao em tôi thơm thế, liệu có phải tất cả trẻ em trên trái đất đều như vậy không? Tấm cũng rất thông minh, tôi thường dạy em hát và tập nói một số từ tiếng Anh. Con bé nói các từ tiếng Anh bằng cái giong non nớt nhưng cũng rất chuẩn. Kỉ niệm về em trong gia đình tôi tràn đầy yêu thương. Duy chỉ có lần em bị bỏng là hãi hùng nhất. Một chút sơ ý của mẹ cộng với bản tính hiếu động và bướng bỉnh của em khiến em bị bỏng. Hai tuần nằm viện của Tấm đối với gia đình tôi bằng ngàn năm. Không khí nặng nề, ủ ê bao trùm cả nhà. Tôi gần như không nhớ nổi mình đã ăn, ngủ thế nào trong từng ấy ngày. Mọi sinh hoạt đảo lộn hết, gần như cả nhà tôi sống trong bệnh viện. Tôi đấu tranh bằng được để bố mẹ cho quyền được trông em vào những buổi không đi học. Nhìn em nằm trên chiếc giường trắng toát, nó đã bé lại càng bé thêm, nước da xanh tái và li bì ngủ. Mẹ bảo bác sĩ cho em uống thuốc ngủ để xoa dịu cơn đau. Nhìn cánh tay em băng kín và hàng loạt các dây truyền, dây dẫn cắm vào đó lòng tôi như có ai xát muối, như có ai cứa ngàn vết dao. Tôi thương và lo cho em lắm. Tôi cầu cho cái đau của em sang hết bên tôi. Tôi thầm xin cho em tai qua nạn khỏi. Bố rất buồn và lo âu, còn mẹ luôn khóc thầm và mát lúc nào cũng rơm rớm. Chực ai hỏi đến là khóc. Khi bác sĩ lấy da mẹ để vá cho Tấm tôi không thấy em kêu đau. Mặc dù trước đó có chú bộ đội to lớn cho người em da cứ kêu ca, rên rỉ vì đau suốt, Tôi hỏi, mẹ nói giọng đầy nước mắt: “Chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau hiện tại của em con. Tôi chợt hiểu ra, tình yêu thương em của mẹ khiến mẹ quên đi tất cả. Lòng tôi quặn lên, vừa thương em lại vừa xót mẹ. Bây giờ Tấm lại xinh xẻo, tươi tắn như xưa. Em thường lon ton chạy ra cửa đón tôi đi học về, líu lo chào tôi rồi nhoẻn cười với nụ cười rạng rỡ. Nó không chỉ là người em gái của tôi mà nó còn là niềm hạnh phúc của một người chị gái như tôi. Tôi sẽ cố gắng phấn đấu để trở thành tấm gương cho em và cũng là chỗ dựa cho em sau này, như lời bố mẹ căn dặn.

Câu trả lời:

lê bảo ngọc

Hướng dẫn Soạn bài: Các thành phần chính của câu I. Phân biệt thành phần chính với thành phần phụ của câu

Câu 1:

Tiểu học, các em đã được biết đến các thành phần của câu gồm: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ.

Câu 2:

- Chủ ngữ: tôi

– Vị ngữ: đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng

– Trạng ngữ: Chẳng bao lâu

Câu 3:

Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần bắt buộc phải có mặt trong câu. Đây là hai thành phần chính của câu. Trong câu trên, có thể bỏ đi thành phần trạng ngữ mà không ảnh hưởng đến việc diễn đạt ý chính của câu. Trạng ngữ là thành phần phụ.

II. Vị ngữ Câu 1:

Trong câu "... tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng.", từ trung tâm của vị ngữ là trở thành. Từ "trở thành" là phó từ chỉ quan hệ thời gian đã. Có thể thay các phó từ chỉ quan hệ thời gian khác vào vị trí này: sẽ, đang, sắp, mới, vừa, từng, ...

Đặc điểm vị ngữ:

- Có thể kết hợp với đã (phó từ chỉ quan hệ thời gian).

- Trả lời cho những câu hỏi:

Làm gì?

Làm sao?

Như thế nào?

Là gì?

Ví dụ:

Có th đặt câu hi: Tôi (Dế Mèn) như thế nào? --> Tôi, đã tr thành ... cường tráng.

Câu 2: Phân tích

a. Ra đứng cửa hang như mọi khi xem hoàng hôn xuống.

--> Câu có 2 vị ngữ là cụm động từ.

b. Nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập.

--> Câu có 1 vị ngữ là cụm động từ.

c. Giúp người trăm nghìn công việc khác nhau.

--> Câu vị ngữ là cụm động từ.

III. Chủ ngữ

Câu 1:

– Chủ ngữ nêu lên sự vật, hiện tượng; mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng và hành động, đặc điểm, tính chất… của sự vật ấy.

– Chủ ngữ thường trả lời cho câu hỏi:

Ai?

Con gì?

Cái gì?

– Chủ ngữ có thể là đại từ (tôi); danh từ (tre, nứa, mai, vầu) hoặc cụm danh từ (cây tre, Chợ Năm Căn).

– Mỗi câu có thể có một chủ ngữ (Tôi, Chợ Năm Căn, Cây tre) hoặc nhiều chủ ngữ (Tre, nứa, mai, vầu).

IV. Luyện tập

Câu 1:

– Thành phần chính của các câu:

Soạn bài: Các thành phần chính của câu | Soạn văn lớp 6

Câu 2: Đặt 3 câu

a. Hôm nay, Hương đã giúp bà c qua đường. b. Bn Mai có má núm đồng tin rt duyên. c. Sơn Tinh là v phúc thn tài gii phi thường.

Câu 3: Chủ ngữ

a. Hương làm gì? b. Bn Mai như thế nào? c. Sơn Tinh là gì?

Câu trả lời:

Lê Trần Bảo Ngọc

Chào bạn ^ ^ Đâ là một số ý, bạn tham khảo và bổ sung để hoàn thiện câu trả lời nhé.

Ẩn dụ:

- Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b,c,d dựa trên các điểm giống nhau. Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng.

* Có 2 hình thức chuyển nghĩa:

- Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể)

- Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng).

* Một số cơ chế chuyển nghĩa của phương thức ẩn dụ thường thấy:

- Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng.

- Dựa vào sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật, hiện tượng.

- Dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động.

- Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật, hiện tượng.

- Dựa vào sự giống nhau về tính chất, trạng thái hoặc kết quả giữa các đối tượng.

* Nhận xét:

Sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế trên không phải bao giờ cũng tách bạch, dứt khoát. Trong rất nhiều trường hợp không chỉ một mà có nhiều nét nghĩa cùng tác động

So sánh:

- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

– Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

+ Vế A (nêu tên sự vật, sự việc được so sánh)

+ Vế B (nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sư vật, sự việc nói ở vế A)

+ Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

+ Từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh)

Trong thực tế, mô hình cấu tạo trên có thể biến đổi ít nhiều:

+ Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lượt bớt.

+ Vế B có thể được đảo lên trước vế A cùng với từ so sánh.

– Có hai kiểu so sánh: So sánh không ngang bằng và so sánh ngang bằng.

– Tác dụng: So sánh vừa có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc được cụ thể, sinh động; vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc.

* Tóm lại:

-Giống nhau: đều dựa trên cơ sở liên tưởng những nét tương đồng giữa các sự vật, sự việc khác nhau.

-Khác nhau:

+ So sánh thường cần đến từ so sánh hoặc dấu hiệu nhận biết phân biệt giữa các vế so sánh và vế được so sánh ( vd như dấu gạch ngang, dấu hai chấm...) So sánh có thể ngang bằng hoặc không ngang bằng.

+ Ẩn dụ không cần từ hay dấu câu phân biệt giữa các sự vật sự việc được nêu ra. Do vậy, ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm. Phép ẩn dụ giữa các sự vật sự việc thường mang ý nghĩa ngang bằng, tương đương.