Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 547
Số lượng câu trả lời 621
Điểm GP 211
Điểm SP 518

Người theo dõi (31)

9323
Dan Tuong
Iu fan lioleo kids

Đang theo dõi (2)

Komorebi

Câu trả lời:

Mỗi con người trong cuộc đời đều tìm cho mình một lối sống khác nhau, mưu cầu hạnh phúc khác nhau. Có người thì tìm kiếm sự giàu sang, thể diện bản thân. Cũng có những người muốn sống một cuộc sống hưởng thụ tất cả. Chọn cho mình lối sống như thế nào là việc tự bản thân chúng ta quyết định. Nhưng lối sống giản dị trong xã hội hiện đại mới là một điều khó.

Lối sống giản dị là lối sống không mưu cầu danh lợi, địa vị, là lối sống chấp nhận với hoàn cảnh, chấp nhận với những gì mình đạt được, không đòi hỏi quá xa vời, phi thực tế. Người giản dị là người có cách ứng xử với người khác vô cùng hòa nhã, có một phong thái hòa đồng, rất dễ dàng nhận biết.

Giản dị trong cách ăn mặc hàng ngày, những bộ quần áo chẳng có gì là mốt thời thượng, nhưng không hề bẩn thỉu. Giản dị trong cách ăn uống, thức ăn cũng rất bình thường, không hề tiêu pha bừa bãi. Giản dị trong sinh hoạt vật chất, những chi tiêu của người có lối sống giản dị hết sức hài hòa, không hề vượt quá một phạm vi nào lớn. Giản dị còn thể hiện không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn ở cái bên trong của mỗi người. Cử chỉ, lời nói của người có lối sống giản dị cũng hết sức đơn giản, thấu tình, đạt lí. Không có quanh co, hay có những lời nào thiếu suy nghĩ cả.

Giản dị là một đức tính tốt, và cần có trong cuộc sống. Những người giản dị là những người tiếp kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc. Cuộc đời chỉ có một, họ biết sống sao cho đúng, làm sao cho đúng để không uổng phí cuộc sống của họ.

Một người, có thể xem là ví dụ tiêu biểu nhất của lối sống giản dị. Đó là chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Người giản dị từ lời ăn, tiếng nói tới hành động cử chỉ của mình. Kể cả khi đã làm chủ tịch của một nước, Người vẫn không hề sống một cuộc sống xa hoa. Người vẫn luôn giữ cho mình một đức tính giản dị. Người được rất nhiều người nể phục, tin tưởng, yêu thương. Sự giản dị của Người như là một chuẩn mực cho các thế hệ tiếp theo noi gương. Những đức tính giản dị của Người là một trong những di sản mà người để lại cho thế hệ sau này, một đức tính tuyệt vời từ một nhà lãnh đạo tối cao của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, sống làm việc vất vả thì phải hưởng thụ. Đúng, chúng ta làm ra của cải vật chất để cho chúng ta có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. Cũng chính vì vậy, nhiều người lệ thuộc vào đồng tiền, bán mạng vì đồng tiền, sống buông tha, vô trách nhiệm với cuộc đời. Họ khoác lên mình những trang phục sành điệu, đắt đỏ, rồi chụp hình khoe mẽ. Hay ăn những món ăn ở những khách sạn đắt tiền. Họ khoe với đời vì sự sa hoa của mình. Nhưng ẩn sâu bên trong lớp vỏ hào nhoáng ấy lại là rỗng tuếch. Nhiều người vì chạy theo thời đại mà đua đòi với người khác. Không có tiền nhưng cũng thích sĩ diện với bản thân. Để rồi hậu quả đi theo là vô cùng lớn.

Sống giản dị không hề khó, nó chẳng phải là thứ gì cao siêu. Nhưng con người, sống trong một xã hội đầy dục vọng. Có mấy ai hiểu được giá trị cốt lõi của cuộc sống cơ chứ. Có ai hiểu được cách sống giản dị là như thế nào. Chỉ đơn giản là sống một cuộc đời bình dị, hài hòa, làm những việc mà chúng ta cho là đúng chuẩn mực. Sống một cách có văn hóa, có trách nhiệm với người khác.

Nhịp sống luôn đập không ngừng, con người vận động thì mới có thể tồn tại được. Nhưng không hẳn cứ phải chạy đua với thời đại, chạy theo cái mới mới là tồn tại. Bình dị, nhẹ nhàng bước chúng ta vẫn có thể bước kịp thời đại và hòa nhập với con người. Hơn nữa, chúng ta con giữ cho mình một lối sống làm cho người khác phải tôn trọng không tốt hay sao. Lối sống bình dị, là điều cốt lõi mà truyền thống văn hóa của chúng ta bao đời vẫn nói. Sống sao cho có trách nhiệm với cuộc đời, để cuộc đời mãi ngày càng đẹp tươi.

Câu trả lời:

Một trong những thái độ sống đẹp và văn minh đó chính là sống ở thế chủ động, sống một cách tích cực và có mục tiêu trong cuộc sống. Thật vậy, theo em, đây chính là thái độ sống mà mỗi người cần có để có cuộc sống tích cực và là những yếu tố tiên quyết để làm chủ cuộc sống của chính mình. Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta có một sự nghiệp, mục tiêu, một công việc khác nhau. Nhưng chúng ta đều cần có điểm chung đó là thái độ luôn sống chủ động, tức là chủ động học tập từ những người xung quanh, học tập từ nhiều nguồn, chủ động nhờ vả người khác và cũng chủ động để giúp đỡ người khác. Đây chính là lối sống hòa đồng để mà tương tác với những người xung quanh, đồng thời cũng chính là giúp đỡ chính bản thân mình. Đầu tiên, sống chủ động như vậy chính là cách để mỗi chúng ta có thể làm chủ cuộc sống của chính mình. Điều chúng ta cần thì chúng ta chủ động học hỏi, chủ động nhờ vả người khác giúp, chủ động học thêm và làm thêm. Cứ như vậy, cuộc sống của chúng ta sẽ là của chúng ta chứ chẳng phải của ai khác. Thứ hai, sống chủ động chính là cách mà chúng ta cần để xây dựng sự nghiệp. Không có lòng tự chủ, tự lập và độc lập thì sao có thể đặt những nền móng vững chắc xây dựng tương lai. Hơn nữa, sự chủ động để ứng phó và chuẩn bị cho mọi tình huống xấu trong cuộc sống cũng là yếu tố quan trọng làm nên thành công. Thứ ba, sống chủ động còn chính là cách mà chúng ta giành được hạnh phúc trong cuộc sống của chính bản thân mình. Ta hạnh phúc vì làm được những điều mà mình mong muốn và rồi quan sát hành trình lớn lên và trưởng thành của chính mình. Tóm lại, sống chủ động chính là sống một cách có mục tiêu, có động lực và có ý chí phấn đấu không ngừng nghỉ.

Mình viết đoạn luôn nhé nếu bạn thấy cần thiết haha

Trước khi Pháp xâm lượcViệt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến trên tất cả các mặt :chính trị:nhà Nguyễn xây dựng một chính quyền chuyên chế độc đoán, tăng cường bảo vệ quyền lợi của dòng họ, lấy chỗ dựa là địa chủ, cường hào. kinh tế thì sa sút, công thương nghiệp bế tắc, xã hội mâu thuẫn,nhũng cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ...Những chính sách đối nội, đối ngoại của nhà Nguyễn đã đặt nước ta vào tình thế hết sức bất lợi trước sự xâm lược của tư bản phương tây:tài lực, vật lực khánh kiệt, lòng dân li tán, binh sĩ bạc nhược, kém cỏi...Những bài học về "khoan thư sức dân" "thực túc binh thường" của các thế hệ trước , thì nhà Nguyễn đều không đáp ứng được vì thế khi Pháp xân lược thì quân và dân của nhà đã hết, sức đã kiệt, nhà Nguyễn không phát động được 1 cuộc kháng chiến toàn dân. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến Việt Nam rơi vào tay Pháp.=> như vậy trách nhiệm của nhà Nguyễn với tư cách của một triều đại lãnh đạo quản lí đất nước trước nguy cơ xâm lược từ bên ngoài đã không có những biện pháp để nâng cao sức mạnh tự vệ mà còn thi hành những chính sách thiển cận,sai lầm làm cho tiềm lực quốc gia suy kiệt, hao mòn sức dân không còn khả năng phòng thủ đất nước, tạo điều kiện cho Pháp dẩy mạnh xâm lượcb.Khi Pháp vào xâm lược nhà Nguyễn với tư cách là người đứng ra lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến đã tiếp tục mắc phải những sai lầm trong đường lối đánh giặc đưa đến hậu quả nước ta rơi vào tay Pháp-Ngay từ đầu trước cuộc xâm lăng của kẻ thù, triều đình đã có ý thức chuẩn bị kháng chiến nhưng sự chuẩn bị này lại chậm trễ, bị động, thiếu tích cực và trong quá trình kháng chiến triều đình có tư tưởng ngại địch, sợ địch không chủ động tấn công nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh giặc (dẫn chứng)-Triều đình đã sử dụng đường lối thủ để hoà, ảo thưởng về kẻ thù, trông chờ vào lương tâm, hảo ý của địch nên đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác xuất phát từ những toan tính ích kỉ muốn bảo vệ quyền lợi dòng họ nên từ chỗ kháng cự yếu ớt đến đầu hàng(d/c: lần lượt kí các bản hiệp ước đầu hàng)-Triều đình đã không biết phát huy cuộc kháng chiến toàn dân không phối hợp với nhân dân đánh giặc đến cùng mà đã từng bước bỏ rơi, ngăn cản cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp.-Triều đình sai lầm trong chủ trương cầu viện bên ngoài.- Triều đình tiếp tục duy trì đường lối bảo thủ, khước từ mọi đề nghị canh tân , đổi mới đất nước.

Câu trả lời:

Trong bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ", nhà thơ Thanh Hải đã thể hiện được vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, tình yêu cuộc sống và trân trọng từng phút giây được sống của mình qua khổ thơ đầu tiên:

"Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng"

 Bốn câu thơ đầu được nhà thơ Thanh Hải khắc họa hiện lên thật tươi đẹp . Từ "Mọc" được đảo lên đầu câu thơ cho thấy một sức sống tiềm tàng mãnh liệt của bông hoa. Những hình ảnh "dòng sông xanh, bông hoa tím biếc" chính là những hình ảnh của bức tranh thiên nhiên, bức tranh cuộc sống tươi đẹp. Nhà thơ như đang đứng trước bức tranh thiên nhiên trong tưởng tượng ấy của mình, nghĩ về những điều tươi đẹp của cuộc sống. Bức tranh được nhà thơ Thanh Hải vẽ ra không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh tiếng chim chiền chiện. Từ cảm thán "Ơi" và câu hỏi như trách yêu của nhà thơ đã thể hiện được vẻ đẹp của bức tranh tư tưởng trong tâm hồn nhà thơ. Bức tranh tâm tưởng trong tâm trí nhà thơ có đủ cả màu sắc, hình ảnh và âm thanh. Ta có thể thấy đó là một trỗi dậy mãnh liệt của một tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống luôn thường trực. Đó là sự khát khao, yêu thương cuộc sống, yêu những vẻ đẹp của cuộc sống. Hình ảnh hoa và chim còn xuất hiện ở khổ thơ thứ tư trong bài thơ, như chứa đựng những khát vọng cao đẹp của nhà thơ được cống hiến cho cuộc sống. Hai câu thơ cuối "Từng giọt long lanh rơi/Tôi đưa tay tôi hứng" cho thấy một thái độ trân trọng, nâng niu từng điều, từng phút giây quý báu của nhà thơ. Hình ảnh "giọt" ở đây có thể là từng khoảnh khắc trôi qua, từng phút giây trôi qua. Hành động "hứng" của nhà thơ cho thấy thái độ trân trọng, nâng niu và khát vọng gìn giữ những điều tốt đẹp đang trôi qua trong tâm tưởng nhà thơ. Ta có thể liên tưởng đến bài thơ "Một khúc ca xuân" của nhà thơ Tố Hữu cũng có nội dung tương tự "Nếu là con chim, chiếc lá/Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh/Lẽ nào vay mà không có trả/Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình". Tóm lại, khổ thơ đầu trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đã thể hiện được tình yêu thiên nhiên và bức tranh mùa xuân - mùa xuân của thiên nhiên xứ Huế mông mơ , hiện lên thật tươi đẹp.

Thành phần phụ chú :mùa xuân của thiên nhiên xứ Huế mông mơ

Câu bị động :  Bốn câu thơ đầu được nhà thơ Thanh Hải khắc họa hiện lên thật tươi đẹp .

Câu trả lời:

Là người con gái sinh ra và lớn lên trên mảnh đất phía nam, nhưng thật may mắn vì đã một lần đặt chân đến vịnh Hạ Long. Một lần đi là một lần mang dấu ấn suốt cả cuộc đời. Có thể nói Hạ Long là một nơi mà trong cuộc đời của mỗi chúng ta đều nên đi qua một lần để chiêm ngưỡng một tác phẩm điêu khắc của thiên nhiên mà tạo hóa đã ban tặng.

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh hoàn toàn sống động với muôn hình dáng lung linh huyền ảo. Đứng thả hồn mình với sóng nước mênh mông cùng với cảnh vật xung quanh ta ngỡ như đang lạc vào một thế giới thần tiên. Một thế giới mà không phải ai cũng có thể đặt chân đến. Một lần đặt chân đến đây là một lần cảm thấy bàng hoàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của vịnh Hạ Long.

Hạ Long chính là niềm tin cho những ai một lần đặt chân đến và khi trở về còn đầy tiếc nuối và nghẹn ngào. Dường như với những bộn bề lo toan của cuộc sống đã làm tôi đánh mất chính mình và quên đi ký ức tuổi thơ của chính mình. Hạnh phúc là một điều thật sự giản đơn nhưng chỉ đến với những ai biết quý và trân trọng nó. Phải chăng từ những điều giản đơn ấy mà đã làm cho cuộc sống của chúng ta ngập tràn những niềm tin và hy vọng để bước tiếp trong những chặng đường sắp tới.

Nơi ta đi cũng là nơi ta đến, Hạ Long cũng vậy sao quá lạ lẫm nhưng có một chút gì đó cản bước ta đi. Để một lần ta tự nhìn lại trong thế giới này còn có một nơi làm cho ta phải nhớ nhung da diết. Cuộc sống là một mầu nhiệm và Hạ Long cũng vậy, chỉ có ai biết yêu thương, biết cảm nhận mới thấy nó đẹp.

“Kỳ quan thế giới là đâyĐi thuyền trên vịnh Hạ Long làm lòng tôi như hòa quyện lòng mình vào sóng nước mênh mông trong một khung cảnh thơ mộng, lấp lánh lung linh huyền ảo. Không biết tự bao giờ Hạ Long đã đọng lại trong tâm trí tôi một bài tình ca muôn thuở. Hạ Long còn mãi và sẽ càng ngày càng cuốn hút mọi người khi một lần đến đây.

Việt Nam thứ nhất cảnh này thần tiên”. (Trường Chinh)

Hạ Long là một món quà của thiên nhiên, đồng thời cũng là di sản của tổ tiên để lại cho thế hệ chúng ta. Trong cuộc đời đôi khi có những chuyện làm ta không vui, nhưng nếu không có những điều đó thì đâu phải là cuộc sống. Những giây phút thật sự là tìm về nơi mà ta yêu thương, là nơi ta có thể gửi gắm tâm sự trong lúc ta tưởng chừng như gục ngã.

Tôi cảm thấy mình thật hạnh phúc vì đã một lần đến đây, đã tâm sự tất cả những gì không thể nói cho một người mình tin tưởng bí mật sẽ không bao giờ ai biết. Những ngày đi làm lòng tôi mong chờ, rồi đến lúc lại về làm lòng tôi bịn rịn không nỡ xa nơi này.

Có lẽ đôi khi trong cuộc sống này ta luôn tìm kiếm những thứ mơ hồ khác xa với thực tại nhưng dường như những điều ấy luôn là mơ ước cho chính chúng ta. Những khát vọng sống, những nghị lực mạnh mẽ mà chính chúng ta phải bước qua trong cuộc đời này. Tôi yêu những gì thật bình dị và yên ả tại vịnh Hạ Long và yêu biết bao con người từng đặt chân đến đây.

Chính nét đẹp ấy đã cuốn sâu vào lòng tôi một mơ ước thật bình dị về cuộc sống này, cho tôi một ước mơ bay bỏng hòa mình vào chốn thần tiên ấy để cuộc sống này luôn là những bông hoa tươi thắm mà tôi được một lần giang rộng đôi tay để đón nhận nó. Cuộc đời này luôn là những món quà dù có như thế nào thì mỗi chúng ta nên học cách biết chấp nhận dù có chông gai như thế nào.

Lần đầu tiên đến vịnh Hạ Long cũng là một lần được một chút bình yên. Tôi sẽ không bao giờ quên những cái bắt tay. Tôi cảm nhận được biển đang hát, đang mỉm cười để tạm biệt tất cả chúng tôi, từng đợt sóng nhấp nhô như những cái ôm thật trìu mến. Chưa bao giờ tôi có nhiều cảm xúc như thế này, cho dù có đến bất cứ nơi nào thì vẫn giữ lại những kỷ niệm khó phai trong cuộc đời.

Tạm biệt Hạ Long, tạm biệt những gì thật bình yên nơi đây. Hạ Long sẽ khắc trong tim tôi những dư vị ngọt ngào sâu lắng trong những chặng đường sắp tới tôi phải đi qua. Và một ngày không xa sẽ tìm đến Hạ Long như tìm lại một chút bình yên trong cuộc sống.

Câu trả lời:

Truyện ngắn Buổi học cuối cùng của nhà văn nổi tiếng An-phông-xơ Đô- đê (1840 – 1897) kể về lớp Tiểu học ở một làng quê nhỏ bé vùng An-dát, Lo-ren vào thời kì bị quân Phổ (Đức) chiếm đóng. Chính quyền Phổ sau khi thắng Pháp đã cắt phần đất giáp biên giới này nhập vào nước Phổ và ra lệnh các trường học phải dạy bằng tiếng Đức. Buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp đã diễn ra trong không khí trang nghiêm và cảm động.

Hai nhân vật chính của truyện là chú học trò Phrăng và thầy giáo già Ha-men. Diễn biến tâm lí của hai nhân vật này được nhà văn miêu tả rất tự nhiên, chân thực.

Sáng hôm nay, lúc đi qua trụ sở xã, thấy có nhiều người đứng lố nhố trước bảng dán cáo thị của quân Đức, Phrăng đã nghĩ bụng: Lại có chuyện gì nữa đây? Khi tới trường, điều làm cho chú lạ lùng hơn nữa là không khí lớp học mọi ngày ồn ào như vỡ chợ thì lúc này mọi sự đều bình lặng y như một buổi sáng chủ nhật.

Nhìn qua cửa sổ, Phrăng thấy các bạn đã ngồi vào chỗ và thầy Ha-men đang đi đi lại lại với cây thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách. Cậu bé rón rén mở cửa bước vào lớp trước sự chứng kiến của mọi người. Cậu đỏ mặt tía tai và sợ hãi vô cùng. Chỉ khi đã ngồi xuống chỗ của mình, cậu mới hoàn hồn và nhận ra những điều khác lạ trong giờ học hôm nay. Thầy Ha-men chẳng giận dữ trách phạt như mọi khi mà còn dịu dàng nói: Phrăng vào chỗ nhanh lên con, lớp sắp bắt đầu học mà vắng mặt con.

Chú bé dần dần bình tĩnh lại và cảm thấy trong không khí yên lặng của lớp học có cái gì đó khác thường và trang trọng. Thầy Ha-men mặc bộ quần áo chỉ dành cho ngày lễ. Cậu thấy ở phía cuối lớp, trên những hàng ghế thường bỏ trống, dân làng ngồi lặng lẽ… Cụ già Hô-de, trước đây là xã trưởng, bác phát thư và nhiều người khác nữa. Trí óc non nớt của Phrăng không hiểu nổi tại sao buổi học hôm nay Lại có những chuyện lạ lùng như vậy.

Thắc mắc của Phrăng đã được giải đáp sau câu nói của thầy Ha-men: Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con. Lệnh từ Béc-lin là từ nay chỉ dạy tiếng Đức ở các trường vùng An-dát và Lo-ren… Thầy giáo mới ngày mai sẽ đến. Hôm nay là bài học Pháp văn cuối cùng của các con. Thầy mong các con hết sức chú ý.

Phrăng choáng váng và trong lòng chú đột nhiên dấy lên sự căm phẫn đối với kẻ thù: A! Quân khốn nạn, thì ra đó là điều chúng vừa niêm yết ở trụ sở xã. Rồi chú thảng thốt, tiếc nuối và tự giận mình ham chơi, lười học bấy lâu nay:
Bài học Pháp văn cuối cùng của tôi!… Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là sẽ chẳng bao giờ được học nữa Uy phải dừng ở đó ư?… Giờ đây tôi tự giận mình biết mấy về thời gian bỏ phí, về những buổi trốn học đi bắt tổ chim hoặc trượt trên hồ. Như có một phép màu kì diệu làm thay đổi nhanh chóng suy nghĩ của Phrăng: Những cuốn sách vừa nãy cậu còn thấy chán ngán đến thế, mang nặng đến thế, quyền ngữ pháp, quyền thánh sử của cậu giờ đây dường như những người bạn cố tri mà cậu sẽ rất đau lòng phải giã từ. Cũng giống như thầy Ha-men. Cứ nghĩ thầy sắp ra đi và cậu không còn gặp thầy nữa, là cậu quên cả những lúc thầy phạt, thầy vụt thước kẻ. Đang suy nghĩ mung lung thì Phrăng nghe thầy gọi đọc bài. Chú ân hận vì đã không chịu học thuộc bài mà thầy đã dặn. Sự ân hận đã thành nỗi xấu hổ và tự giận mình. Chú ao ước: Giá mà tôi đọc được trót lọt cái quy tắc về phân từ hay ho ấy, đọc thật to, thật dõng dạc, không phạm một lỗi nào thì dù có phải đánh đổi gì cũng cam… Vì không thuộc bài nên Phrăng lúng túng… lòng rầu rĩ, không dám ngẩng đầu lên. Chú càng thấm thía và đau xót bởi câu nói sâu sắc của thầy:
Giờ đây những kẻ kia có quyền bảo chúng ta rằng: “Thế nào? Các người tự nhận là dân Pháp, vậy mà các người chẳng biết đọc, biết viết tiếng của các người.” Lẽ ra, Phrăng đã bị thầy trừng phạt như mọi ngày nhưng hôm nay, thầy chỉ ân cần khuyên nhủ, phân tích cho chú rõ tác hại của thói xấu coi nhẹ việc học hành, nhất là học tiếng mẹ đẻ. Phrăng thấm thía lời thầy dạy và điều không thể tin được đã xảy ra: tôi kinh ngạc thấy sao mình hiểu đến thế. Tất cả những điều thầy nói, tôi thấy thật dễ dàng, dễ dàng. Tôi cũng cho là chưa bao giờ mình chăm chú nghe đến thế. Đây là một tâm trạng Tất lạ: kinh ngạc đối với chính bản thân mình. Quả là một đột biến nhưng là sự đột biến cố quy luật, bởi chính buổi học cuối cùng này đã khơi dậy trong Phrăng niềm say mê học tập, tình yêu sâu sắc tiếng nói dân tộc mà trước đây chú – và nhiều người khác đã từng coi thương. Chính trong tâm trạng xấu hổ, tự giận mình ấy mà khi nghe thầy Ha-men giảng ngữ pháp, chú đã thấy thật rõ ràng và dễ hiểu. Sự khâm phục, tự hào của Phrăng về người thầy bộc lộ rõ nhất là trong giây phút kết thúc buổi học. Thầy Ha-men đã khơi dậy nỗi đau đớn, tủi nhục khi quê hương bị giặc thôn tính và đồng hóa; đồng thời thắp sáng tình yêu tha thiết tiếng nói của dân tộc trong lòng mọi người. Đây chính là điều khiến cho Phrăng cảm thấy thầy giáo của mình rất đỗi lớn lao. Phrăng cảm động vô cùng. Hình ảnh thầy giáo Ha-men tận tụy và đáng kính sẽ mãi mãi in sâu trong tâm trí chú bé. Thầy giáo Ha-men đã gắn bó với ngôi trường làng nhỏ bé suốt bốn mươi năm – gần như cả cuộc đời. Vậy mà sau buổi học cuối cùng này, thầy phải ra đi. Quân xâm lược Phổ bắt buộc từ ngày mai, các trường học ở vùng này phải dạy bằng tiếng Đức. Cái quy định ngạo ngược ấy làm cho thầy giáo già cảm thấy đau đớn và tủi nhục. Tuy đã chuẩn bị ra đi nhưng thầy Ha-men vẫn nặng lòng với ngôi trường quen thuộc cùng đám học trò nghèo rất đáng thương của thầy. Trong buổi học sáng nay, thầy mặc bộ lễ phục trang trọng: … chiếc áo rơ- đanh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nép mịn và đội chiếc mũ tròn bằng lụa đen thêu mà thầy chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng. Bằng cách ấy, thầy Ha-men tôn vinh buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp.
Bên trong con người thầy Ha-men cũng có những thay đổi lớn lao. Thái độ của thầy đối với học sinh khác hẳn ngày thường. Mọi khi, với chiếc thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách, thầy trừng phạt đến nơi đến chốn những trò nào đi học trễ hoặc không thuộc bài. Nhưng hôm nay, thầy thật dịu dàng và đa cảm. Thầy không quở trách Phrăng mà ân cần khuyên nhủ chú và các học sinh khác trong lớp nên chăm chỉ học hành, nhất là học cho thông thạo tiếng Pháp – tiếng mẹ đẻ của mình. Thầy ca ngợi tiếng Pháp, bảo rằng đó là ngôn ngữ hay nhất thế giới, trong sáng nhất, vững vàng nhất; phải giữ lấy nó trong chúng ta và đừng bao giờ quên nó, bởi vì một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù… Rồi thầy dạy bài ngữ pháp. Phrăng cảm thấy chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải đến thế. Cứ như thể trước khi ra đi, con người tội nghiệp muốn truyền thụ toàn bộ tri thức của mình, muốn đưa ngay một lúc tri thức ấy vào đầu óc lũ trẻ. Thầy chuẩn bị những mẫu chữ mới tinh: Pháp-An-dát viết bằng kiểu chữ “rông” thật đẹp cho học sinh tập viết với dụng ý khẳng định vùng đất này mãi mãi thuộc về nước Pháp. Thầy đề cao vai trò tiếng nói của dân tộc và coi đó như một sức mạnh tinh thần to lớn. Theo thầy thì yêu quý, giữ gìn và trau dồi ngôn ngữ dân tộc cũng là một biểu hiện cụ thể của tình yêu Tổ quốc. Cảm động biết mấy là hình ảnh thầy đứng lặng im trên bục và đăm đăm nhìn những đồ vật quanh mình như muốn mang theo trong ánh mắt toàn bộ ngôi trường nhỏ bé của thầy… Thầy Ha-men vẫn đủ can đảm để dạy cho đến hết buổi. Khi nghe tiếng chuông đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ và tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về vang lên ngoài cửa sổ… thầy Ha-men đứng dậy trên bục, người tái nhợt. Thầy nghẹn ngào nói lời chia tay với mọi người nhưng nỗi xúc động ghê gớm khiến cho thầy không nói được hết câu. Bất ngờ thay, thầy quay về phía bảng cầm một hòn phấn và dấn mạnh hết sức, thầy cố viết thật to: “Nước Pháp muôn năm!”. Đó là tất cả những gì thầy muốn nói trong giây phút cuối cùng này. Buổi học cuối cùng là một câu chuyện tự nhiên, chân thực và cảm động, chứa đựng ý nghĩa thật sâu xa. Có thể coi truyện ngắn này là bài ca về lòng yêu nước không chỉ của dân tộc Pháp mà là của chung các dân tộc trên toàn thế giới. Thông qua truyện, tác giả khẳng định rằng: muốn giữ vững được chủ quyền độc lập tự do của đất nước, trước hết mỗi người dân phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản tinh thần vô giá mà tổ tiên, ông cha để lại: đó là ngôn ngữ, là tiếng nói thiêng liêng của dân tộc tự bao đời.

Câu trả lời:

Câu 1. Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên tình huống bi kịch của nhà thơ như thế nào? Dựa vào phần Tiểu dẫn để phân tích tình huống ấy?

Trả lời:

Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên tình huống bi kịch của nhà thơ:

Việc thế lôi thôi tuổi tác này,

Mênh mông trời đất hát và say.

Bi kịch mà tác giả gặp phải là bi kịch về việc đời và tuổi tác: khi mà việc đời còn mờ mịt nhưng người thì đã già. Nỗi buồn vì tuổi tác một lần nữa được nhắc lại trong câu 7: Quốc thù chưa trả già sao vội, cho thấy nỗi ám ảnh của nhà thơ về bi kịch này. Tình cảnh và bi kịch ấy khiến người anh hùng càng trở nên cô độc.

Câu 2. Trong hai câu thơ 3-4 tác giả đem đối lập “bậc anh hùng” và “người làm nghề hàng thịt và kẻ câu cá” nhằm nói ý gì? Điều ấy cho biết tâm trạng nhà thơ như thế nào?

Trả lời

Trong hai câu thơ 3-4 tác giả đem đối lập “bậc anh hùng” và “người làm nghề hàng thịt và kẻ câu cá”:

Gặp thời đồ điếu thừa nên việc,

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm Bức tranh của em gái tôi

Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay.

Biện pháp đối lập đã thể hiện rõ nỗi niềm thời thế với tâm trạng oán hận của tác giả. “Đồ điếu” nghĩa là mổ thịt, câu cá; tác giả sử dụng điển cố về Phàn Khoái bán thịt chó và Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên sự nghiệp lớn. Biện pháp đối lập còn không phải nhằm mục đích thể hiện sự xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ nỗi lòng cảm khái sâu sắc về thời vận lỡ dở.

Câu 3. Tâm trạng bi tráng của nhà thơ được thể hiện như thế nào qua hai câu 5-6? Hãy giải thích ý nghĩa biểu tượng đặc biệt của hai câu thơ đó

Trả lời

 

Tâm trạng bi tráng của nhà thơ được thể hiện rõ qua hai câu 5-6:

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

(Giúp chúa những lăm giằng cốt đất)

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

(Rửa đòng không thể vén sông mây)

“Phù địa trục” có nghĩa là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. “Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa, hàm ý chỉ điển cố Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. Vì thế “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, tạm dừng chiến tranh.

Bài thơ được ra đời trong giai đoạn Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Mặc dù tác giả đã mượn hình ảnh “kéo sông thiên hà” từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ- nhằm rửa bịn khí đi không dùng nữa, nhưng tác giả Đặng Dung đã vận dụng có sáng tạo để thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Nghĩa của câu thơ này nên hiểu là không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh.

Câu 4. Phân tích vẻ đẹp tráng lệ của hai câu kết

Trả lời:

Mặc dù trong tình thế bi kịch nhưng đến cuối bài thơ, chúng ta thấy được chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu:

Quốc thù chưa trả già sao vội,

Xem thêm:  Dàn ý bài phân tích bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác của Ăng Ghen

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy.

Vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng và nung nấu ý chí mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Tuy trong câu thơ này, ám ảnh bi kịch vẫn còn bởi mối thù nước chưa trả vẫn đang thôi thúc trong khi tuổi đã cao, sức lực không còn sinh ra bi kịch. Nhưng cũng chính trong bi kịch ấy, chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng toát lên rõ nét.

Tấn bi kịch cùng chí khí của người anh hùng đã được làm nổi bật một cách bi tráng. Tình cảm, khát vọng của tác giả đã được nhấn mạnh thông qua những hình ảnh kì vĩ, lớn lao và mang tầm vóc vũ trụ.