Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Nghệ An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 1
Số lượng câu trả lời 133
Điểm GP 24
Điểm SP 186

Người theo dõi (39)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Tham khảo nhé bạnvui:

1. Hoàn cảnh bùng nổ phong trào Cần vương:

-Sau 2 hiệp ước Hắc-măng và Pa-tơ-nốt được kí kết Pháp hoàn thành việc xâm lược nước ta và bắt đầu xây dựng chế độ bảo hộ và chính quyền thực dân trên toàn bộ nước ta. Trong khi đó phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống Pháp vẫn tiếp tục phát triển gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề.

-Hành động của phái chủ chiến đã khiến cho Pháp tìm mọi cách kìm kẹp và loại nhóm này khỏi triều đình: trước tình thế đó Phái chủ chiến quyết định ra tay trước: Đêm 4 rạng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết cho quân tấn công quân Pháp ở tòa khâm sứ và đồn mang cá. Sáng 5/7/1885 Pháp phản công Phái chủ chiến buộc phải rút khỏi kinh thành ra phòng tuyến Tân Sở(Quảng Trị ). Tại đây Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi ra chiếu cần vương.

=> Chiếu Cần Vương đã thổi bùng lên 1 phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi kéo dài 12 năm.

2.Sự khác biệt giữa khởi nghĩa Yên Thế với phong trào Cần Vương:

Tiêu chí Phong trào cần vương khởi nghĩa yên thế
Lãnh đạo Các văn thân sĩ phu, người có học Là những nông dân
Lực lượng tham gia Đông đảo tầng lớp từ người có học đến giai cấp nông dân Chủ đạo là nông dân
Quy mô Rộng lớn trên phạm vi cả nước Chỉ diễn ra chủ đạo ở vùng Yên Thế và một số vùng rừng núi xung quanh
Hình thức Khởi nghĩa vũ trang Khởi nghĩa vũ trang kết hợp giảng hòa
Mục tiêu Giúp vua cứu nước mà bản chất là chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc Phong trào tự vệ của những nông dân bảo vệ xóm làng quê hương nơi sinh sống
Thời gian Nổ ra rầm rộ nhưng chỉ kéo dài hơn 10 năm Khoảng gần 30 năm

Câu trả lời:

Tham khảo nhé bạn vui:

1. Tính chất: Đó là 1 cuộc cách mạng tư sản.

2.Nhận xét về xã hôi nước Pháp trước cách mạng:

Xã hội phân chia thành 3 đẳng cấp:Tăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ 3.

-Đẳng cấp quý tộc và tăng lữ nắm mọi quyền hành và có moi quyền lợi không phải đóng thuế.

-Đẳng cấp thứ 3 (tư sản, nông dân và bình dân thành thị) không có quyền lợi chính trị, phải đóng thuế.

-Tư sản đứng đầu đẳng cấp thứ 3, nông dân nghèo khổ nhất và bị nhiều tầng bóc lột.

3. Hệ quả của cách mạng công nghiệp tới các nước:

-Về kinh tế:

+nâng cao năng suất lao động làm ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội.

+Thay đổi bộ mặt các nước tư bản, nhiều trung tâm công nghiệp mới và thành thị trung tâm ra đời.

-Về xã hội:

+Hình thành 2 giai cấp mới là tư sản công nghiệp và vô sản công nghiệp.

+Tư sản công nghiệp nắm tư liệu sản xuất và quyền thống trị.

+Vô sản công nghiệp làm thuê đời sống cơ cực dẫn đến chiến tranh giữa vô sản với tư sản.

4.Chứng minh tại sao Anh là chủ nghĩa đế quốc thực dân còn Pháp là chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi:

Chủ nghĩa đế quốc Anh được gọi là "chủ nghĩa đế quốc thực dân” vì : Cho đến cuối thế kỉ XIX, cả hai đảng Tự do và Bảo thủ cầm quyền ở Anh đều thực hiện chính sách tích cực mở rộng hệ thống thuộc địa, đặc biệt ở châu Á và châu Phi. Đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, thuộc địa của Anh đã rải khắp Địa cầu, chiếm 1/4 diện tích lục địa (33 triệu km2) và 1/4 dân số thế giới (400 triệu người). Giai cấp tư sản Anh đã tự hào là "Mặt Trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ Anh", Anh đã trở thành cường quốc thực dân hạng nhất. Khác với Pháp, Đức, phần lớn tư bản xuất cảng của Anh đều nằm ngoài châu Âu, chủ yếu là đầu tư sang các thuộc địa. Các công ti lũng đoạn thuộc địa của Anh đã dùng nhiều thủ đoạn bóc lột tinh vi, tàn nhẫn, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, thu vẻ những khoản lợi nhuận kếch xù.
- Chủ nghĩa đế quốc Pháp là "chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi" vì : Đặc điểm nổi bật của tổ chức độc quyền ở Pháp là sự tập trung ngân hàng đạt mức cao : 5 ngân hàng lớn ở Pa-ri nắm 2/3 tư bản của các ngân hàng trong cả nước. Không giống với Anh, Đức, hầu hết tư bản của Pháp được đầu tư ngay tại châu Âu, dưới hai hình thức chủ yếu : quốc trái (cho các nhà tư bản châu Âu vay) và thị trái (cho các tỉnh châu Âu vay). Pháp xuất khẩu rất ít tư bản sang thuộc địa (khoảng 10%). Năm 1913, tổng số lãi của tư bản xuất khẩu là 2,3 tỉ phrăng. Trong hệ thống kinh tế thế giới, Pháp là một trong những chủ nợ lớn nhất. Vào năm 1914, Pháp có 2 triệu/39 triệu dân sống bằng nghề cho vay lãi.