Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Gia Lai , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 864
Điểm GP 153
Điểm SP 914

Người theo dõi (185)

Sad....
Tuyết Nga
Jp♦HoaAn
Huyy Kenn

Đang theo dõi (42)

Akai Haruma
Hai Yen
Nguyễn Minh Như

Câu trả lời:

- Thứ nhất, ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc.

Binh pháp vẫn có câu, cách phòng thủ tốt nhất là tấn công. Nhìn thấy kế hoạch xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt, đã nghĩ ngay đến biện pháp phòng thủ ấy. Ông tâu với vua Lý Nhân Tông: "Ngồi im đợi giặc chi bằng đem quân đi trước để chặn thế mạnh của giặc".

Một câu hỏi đặt ra là, tại sao Lý Thường Kiệt có thể nghĩ đến một giải pháp phiêu lưu như vậy? Vì, so với Tống, rõ ràng, nước ta là nước nhỏ. Thế nên, cần phải nói rõ nguyên do góp phần củng cố sự lựa chọn của Lý Thường Kiệt. Nội tình nước Tống khi ấy không ổn định. Cương giới bị một số nước lân bang uy hiếp, triều đình thì chia rẽ sau những cải cách mạnh tay của vị tể tướng trẻ Vương An Thạch. Chính điều đó là một trong những lý do thuyết phục Lý Thường Kiệt rằng sự chỉ đạo của triều đình Tống dành cho kế hoạch chuẩn bị này thiếu sự tập trung và quyết đoán. Đó là cơ sở, để quân ta có thể tiến hành một cuộc tấn công chớp nhoáng dằn mặt quân địch.

Sau khi phân tích, Lý Thường Kiệt cho rằng quân Tống có thể đi vào nước ta theo hai đường, trong đó, nhánh đường bộ có thể lấy châu Ung (Nam Ninh - Quảng Tây), còn nhánh đường thuỷ có thể lấy châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông) làm cứ điểm tập kết binh, lương. Vì vậy, mục tiêu tấn công mà vị tướng này chuẩn bị nhắm tới là ba thành trên với nhiệm: đốt phá kho lương và tiêu diệt sinh lực địch.

Cuộc tiến công "tiên phát chế nhân" của Lý Thường Kiệt diễn ra vào tháng 10-1075. Ông và các tù trưởng Tông Đản, Thân Cảnh Phúc chỉ huy 10 vạn quân, chia làm 2 đạo thuỷ bộ bí mật tiến vào đất Tống.

Bí mật và bất ngờ, đội quân thuỷ do Lý Thường Kiệt đốc lãnh đã nhanh chóng hạ được hai thành châu Khâm và châu Liêm. Từ châu Liêm, ông đưa quân sang châu Ung, hợp với cánh quân bộ tiêu diệt thành châu Ung - mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của cuộc hành quân. Thành châu Ung bị hạ sau 42 ngày vây hãm. Lý Thường Kiệt cho quân huỷ hết các kho tàng và lương thực của giặc rồi nhanh chóng thu quân về nước.

Từ một kẻ chủ động tiến hành xâm lược, quân Tống bỗng nhiên bị đẩy vào tình thế thất trận ngay từ khi chuẩn bị kéo quân.

Chiến thắng áp đảo trong cuộc hành quân chế địch của Lý Thường Kiệt đã tạo ra nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến cục diện cuộc kháng chiến của nhân dân Đại Việt, hay nói cách khác, cuộc xâm lược của quân Tống. Chiến thắng làm người dân Việt nức lòng, khơi dậy sự tự tin mạnh mẽ của họ vào chiến thắng cuối cùng của cuộc kháng chiến, buộc địch phải kéo dài thời gian chuẩn bị và đặc biệt đẩy quyền chủ động sang tay quân dân nhà Lý.

Không những bảo toàn được binh lực, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy địch vào tình thế bị động, cuộc tấn công phủ đầu của Lý Thường Kiệt còn nâng cao sĩ khí. Nói như vậy cũng có nghĩa là cuộc tấn công đã đạt được nhiều mục đích hơn cả một cuộc phòng thủ thông thường.Thế mới biết cũng có cách tự vệ đầy sáng tạo và chủ động như vậy. Cho quân lui về nước, nắm thế chủ động trong tay, Lý Thường Kiệt bắt tay vào triển khai một thế trận mới. Ông cho chuẩn bị binh lực, phòng bị và thiết lập phòng tuyến sẵn sàng nghênh địch.

- Thứ hai, tấn công rất quyết liệt.

Sau sự thất thủ chóng vánh của các thành Ung châu, Khâm châu và Liêm châu, vua quan nhà Tống vạch lại kế hoạch và chuẩn bị thật kỹ càng cho một trận phục thù. Với mục đích “sau khi bình được Giao Châu (tên Tống gọi Đại Việt), sẽ đặt châu huyện như ở nội địa”, nhà Tống cử Quách Quỳ và Triệu Tiết - hai tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc - chỉ huy cuộc tấn công. Có thể nói lần đương đầu thứ hai và cũng là lần đương đầu quyết định này của quân dân Đại Việt với quân Tống sẽ cho thấy rõ một Lý Thường Kiệt bản lĩnh, biết địch biết ta và biết cách khiến cho quân địch trở nên vô dụng.

Để toàn tâm tập trung cho cuộc đối đầu với quân Tống ở mặt bắc, triệt tiêu mưu đồ xúi giục Chiêm Thành và Chân Lạp quấy rối nước ta của triều đình nhà Tống, Lý Thường Kiệt đưa quân vào tuần tra, trấn áp khu vực biên giới phía nam Đại Việt.

Đoán biết mục tiêu thứ nhất của quân Tống là chiếm phá kinh thành Thăng Long, phá lâu đài, cung điện. Đối với các vua chúa đời xưa, đó là hành động phá nước. Sau đó, địch sẽ nhắm đến lăng tẩm của các vua nhà Lý đặt tại Thiên Phúc, làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Lý Thường Kiệt cho xây dựng một phòng tuyến kiên cố bên bờ nam sông Như Nguyệt – sông Cầu ngày nay. Không chỉ là một hào nước lớn tự nhiên bảo vệ kinh thành Thăng Long và lăng miếu nhà Lý, con sông này án ngữ tất cả các tuyền đường đi từ Quảng Tây tới Thăng Long.

Phòng tuyến cản quân địch qua sông của Lý Thường Kiệt được đắp bằng đất cao, vững chắc, có nhiều lớp giậu tre dày đặc, dài khoảng 100 km dọc theo khúc sông từ Đa Phúc đến Phả Lại. Thành đất, luỹ tre nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế bờ nam và cả con sông Nam Định (sông Như Nguyệt) thành một bức tường thành và hào che chở cho cả nước Việt. Ngoài ra, trước thành đất và cọc tre dày đặc đó, Lý Thường Kiệt lại cắt đặt thêm thuỷ quân, sắn sàng tiếp chiến với quân địch nếu chúng vượt sông.

Vì thế cho nên, chỉ nguyên vượt qua sông cũng là cả một thử thách nhọc nhằn đối với quân địch. Ngoài ra, để chặn bước tiến của thuỷ quân địch Lý Thường Kiệt giao cho Lý Kế Nguyên chỉ huy một đội thuỷ quân đợi sẵn ở Đông Kênh (dải nước ven biển giữa đất liền và các hải đảo vùng biển Đông Bắc nước ta) - đường tiến vào cửa Bạch Đằng.

Dễ dàng nhận thấy phòng tuyến sông Như Nguyệt là xương sống trong trân tuyến nghênh địch của Lý Thường Kiệt. Dễ dàng nhận thấy, thuỷ binh sẽ là lực lượng nòng cốt triển khai thế trận ấy. Ngoài sự đắc địa của khúc sông Như Nguyệt, chắc chắn thế trận thuỷ binh của vị tướng 58 tuổi này xuất phát từ một thực tế mà ông biết rõ ràng rằng, không giỏi thuỷ chiến là một nhược điểm trầm trọng của quân Tống.

- Thứ ba, đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động, phản công nhanh chóng và quyết liệt ngay khi bị kẻ thù tiến công.

Cuối năm 1076, 10 vạn bộ binh tinh nhuệ, 1 vạn ngựa chiến cùng 20 vạn dân phu do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy ồ ạt tiến vào nước ta. Dụ dỗ được một số đội quân của các tộc trưởng khiến quân Tống dễ dàng vượt qua khu vực biên giới tiến sâu nội địa Đại Việt. Tuy nhiên, sự suôn sẻ của quân Tống kết thúc khi chúng đến bờ bắc sông Như Nguyệt.

Để tiến thêm và đánh những đòn chí tử vào đại quân nhà Lý rồi chiếm kinh thành Thăng Long, quân của tướng Quách Quỳ phải vượt qua khúc sông và phòng tuyến Như Nguyệt vô cùng kiên cố. Quân Tống lúng túng. Bản thân chúng không quen với thuỷ trận.

Bình thường, quân Tống không có sẵn thuỷ binh hay các chiến thuyền. Lúc cần đến, nhà Tống mới cho chế tạo thuyền mành và chiêu nạp hoặc cưỡng bách dân chài tòng quân. Và điều quan trọng lúc này, đội thuỷ quân thiếu chuyên nghiệp của quân Tống đang “mắc cạn” tại Đông Kênh vì bị quân của Lý Kế Nguyên chặn đánh thua đến hơn 10 trận và không thể tiến sâu thêm.

Sự bất lực của thuỷ quân Tống vô hình chung đã khiến cuộc tiến công của Quách Quỳ lao đao.

Hạ trại trên bờ bắc sông Như Nguyệt mà mãi thuỷ quân chưa đến, Quách Quỳ quyết định cho quân vượt sông. Nhưng cả hai lần vượt sông không những đều thất bại mà còn bị tổn thất nặng nề về người vì gặp phải sự chống trả ác liệt của quân Lý.

Sau nhiều lần cố sức vượt sông nhưng thất bại ấy, Quách Quỳ thất vọng ra lệnh: “Ai bàn đánh sẽ chém” và từ thế tiến công chuyển sang thế phòng ngự. Quân sĩ Tống vì thế mà ngày càng nhụt nhuệ khí, lại cộng thêm với khí hậu phương nam vốn không hợp với người phương bắc nên chết dần chết mòn.

Nắm thời cơ đó, cuối mùa xuân năm 1077, Lý Thường Kiệt mở cuộc tấn công lớn vào trận tuyến của địch. Đang đêm quân Lý lặng lẽ vượt sông Như Nguyệt, bất ngờ đánh thẳng vào các doanh trại giặc. Quân Tống thua to, “mười phần chết năm sáu”. Chúng lâm vào tình thế hết sức khó khăn tuyệt vọng.

- Thứ tư, sự kết hợp khéo léo giữa tiến công và phòng ngự tích cực.

Cũng giống như việc lui binh sau khi đánh phủ đầu quân Tống, đứng trên thế của người chiến thắng, Lý Thường Kiệt chủ động đề xuất giảng hoà, kết thúc chiến tranh. Quân Tống chấp nhận, rút về nước và không còn có ý định tiến chiếm Đại Việt thêm lần nào nữa..

Hiện thực hoá sống động và tài tình một loại nghệ thuật phòng thủ đầy tính sáng tạo và chủ động, tận dụng và khoét sâu nhược điểm của địch, đẩy địch vào tình thế buộc phải lựa chọn giải pháp của phía mình, đó chính là bãn lĩnh và phong cách chỉ huy của Lý Thường Kiệt. Một bãn lĩnh mà những lời thơ hào sảng trong "Nam quốc sơn hà" mãi còn ghi:

“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

P/s: bài làm của t tuy hơi dài nhưng nó có thể giúp bạn hiểu sâu sắc thêm về kế đánh giặc của vị tướng tài hoa Lý Thường Kiệt. Chúc bạn học tốt nhé!

Câu trả lời:

1.

- Văn hoá :

+ Từ thế kỉ IV, người Chăm đã sáng tạo ra chữ viết trên cơ sở chữ Phạn của Ấn Độ.

+ Người dân chủ yếu theo 2 loại tôn giáo là Hindu giáo và Phật giáo.

+ Người Chăm có tục hoả táng người chết, bỏ tro vào bình hoặc vò gốm rồi ném xuống sông hay xuống biển. Họ ở nhà sàn và cũng có thói quen ăn trầu cau.

- Xã hội :

+ Được chia thành 3 tầng lớp là : quý tộc, dân tự do, nông dân phụ thuộc và nô tì.

+ Giữa người Chăm với các cư dân Việt ở Nhật Nam, cửu Chân và Giao Chỉ có mối quan hệ chặt chẽ từ lâu đời. Nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân Tượng Lâm và Nhật Nam được nhân dân Giao Châu ủng hộ. Nhân dân Tượng Lâm và Nhật Nam cũng nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

- Nghệ thuật phát triển rất rực rỡ, điển hình là tháp Chăm, các đền, tượng, các bức chạm nổi, . . . .

- Kinh tế:

+ Rất phát triển, nền kinh tế chủ yếu dựa trên việc trồng lúa nước, mỗi năm hai vụ.

+ Người Chăm-Pa còn biết dùng công cụ bằng sắt, dùng trâu bò để kéo cày.

+ Người Chăm còn làm ruộng bậc thang ở sườn đồi, núi.

+ Họ sáng tạo ra xe guồng nước để đưa nước từ sông, suối lên ruộng và từ ruộng thấp lên ruộng cao.

+ Ngoài ra còn trồng thêm các loại cây ăn quả (cau, dừa, mít...) và cây công nghiệp (bông, gai...) hay khai thác lâm sản, thổ sản (trầm hương, ngà voi, sừng tê...), làm đồ gốm, đánh bắt thủy sản. \(\rightarrow\) khá phát triển.

+ Cư dân sống ven biển, ven sông có nghề đánh cá.

+ Người Chăm thường trao đổi, buôn bán với nhân dân các quận ở Giao Châu, Trung Quốc, Ấn Độ. Một số lái buôn Chăm còn kiêm nghề cướp biển và buôn bán nô lệ.

2.

- Kế hoạch chuẩn bị của Ngô Quyền:

+ Năm 937 Dương Đình Nghệ bị Kiều công Tiễn giết, Ngơ Quyền kéo quân ra Bắc trị tội Kiều Công Tiễn.

+ Kiều Công Tiễn cầu cứu nhà Nam Hán. Quân Nam Hán xâm lược nước ta lấn thứ hai.

+ Ngô Quyền tiến quân vào thành Đại La (Tống Bình – Hà Nội), bắt giết Kiều Công Tiễn, chuẩn bị chống xâm lược: xây dựng trận địa cọc ngầm ở lòng sông Bạch Đằng, gần cửa biển và cho quân mai phục hai bên bờ.

+ Ngoài ra, kế hoạch của Ngô Quyền chủ động và rất độc đáo. Điển hình: Chủ động bằng cách đón đánh quân xâm lược. Độc Đáobằng cách bố trí trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng và dựa vào hiện tượng thiên nhiên (thủy triều lên, thủy triều xuống)

- Diễn biến, kết quả:

+ Cuối năm 938, đoàn thuyền chiến của quân Nam Há do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy kéo vào vùng biển của nước ta.

+ Ngô Quyền cho một số thuyền nhẹ ra đánh nhử quân Nam Hán vào trận cọc ngầm lúc nước triều đang lên. Quân giặc hăm hở đuổi theo, vượt qua bãi cọc ngầm mà không biết

+ Khi nước triều bắt đầu rủ nhanh, theo lệnh của Ngô Quyền, quân ta dốc toàn lực đánh quật trở lại, đồng thời, quân mai phục hai bên bờ đánh tạt ngang đội hình của giặc. Nhiều thuyền lớn của địch va vào bãi cọc đang nhô lên, bị vỡ tan tàn gần hết. Quân ta lao vào đánh giáp lá cà, làm cho quân địch bị chết nhiều, Hoằng Tháo tử trận.

+ Vua Nam Hán hốt hoảng hạ lệnh rút quân về nước. Trận Bạch Đằng kết thúc thắng lợi hoàn toàn.

- Ý nghĩa:

+ Cuối năm 938, đoàn thuyền chiến của quân Nam Há do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy kéo vào vùng biển của nước ta.

+ Ngô Quyền cho một số thuyền nhẹ ra đánh nhử quân Nam Hán vào trận cọc ngầm lúc nước triều đang lên. Quân giặc hăm hở đuổi theo, vượt qua bãi cọc ngầm mà không biết

+ Khi nước triều bắt đầu rủ nhanh, theo lệnh của Ngô Quyền, quân ta dốc toàn lực đánh quật trở lại, đồng thời, quân mai phục hai bên bờ đánh tạt ngang đội hình của giặc. Nhiều thuyền lớn của địch va vào bãi cọc đang nhô lên, bị vỡ tan tàn gần hết. Quân ta lao vào đánh giáp lá cà, làm cho quân địch bị chết nhiều, Hoằng Tháo tử trận.

+ Vua Nam Hán hốt hoảng hạ lệnh rút quân về nước. Trận Bạch Đằng kết thúc thắng lợi hoàn toàn.

3.

- Về đời sống tinh thần:

+ Người nguyên thủy đã biết vẽ trên vách hang động những hình mô tả cuộc sống tinh thần của mình.

+ Trong quan hệ thị tộc, tình mẹ con, anh em ngày càng gắn bó.

+ Biết làm đồ trang sức, vẽ trang trí, có tục chôn cất người chết.

- Về đời sống vật chất:

+ Luôn cải tiến công cụ để nâng cao năng suất

+ Biết trồng trọt, chăn nuôi.

+ Biết thường xuyên cải tiến công cụ lao động và sử dụng nhiều loại nguyên liệu làm công cụ và làm đồ gốm.

+ Ngoài các hang động, mái đá, con người còn biết làm các túp lều bằng cỏ, cây để ờ. làm cho cuộc sống ngày càng ổn định hơn.