Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Thành phố Hồ Chí Minh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 23
Số lượng câu trả lời 2762
Điểm GP 277
Điểm SP 2300

Người theo dõi (467)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Bài tham khảo 1

a) Mở bài

Giới thiệu khái quát về loài cây mà em dự định miêu tả? (nó bắt nguồn từ đâu? có phải là loại cây đặc trưng của ngày tết hay không?)

b) Thân bài

- Miêu tả các bộ phận của cây (thân, lá, hoa).

- Thời gian hoa nở?

- Loài hoa ấy tượng trưng cho điều gì trong ngày tết.

- Nhà em có hay chơi loại hoa ấy vào ngày tết không? Hình ảnh của loài hoa ấy làm cho không khí tết có thêm hương vị như thế nào?

c) Kết bài

Mỗi khi nhìn loài hoa ấy nở cảm xúc của em như thế nào? Ấn tượng sâu sắc nhất mà loài hoa ấy để lại trong em là gì?

Bài tham khảo 2

I. Mở bài

Giới thiệu cây mai vàng đang nở hoa.

II. Thân bài

a. Tả bao quát

Dáng vẻ của cây mai (lớn hay bé, cao bao nhiêu?)

- Được trồng trong chậu hay ở vườn?

b. Tả chi tiết từng bộ phận

- Gốc mai, thân mai?

- Cành mai xòe ra xung quanh như hĩnh chữ V. Thân và cành đều nhỏ dần về-phía ngọn, mây hôm trước chưa ra nụ, trông trơ trụi và khẳng khiu.

- Nụ hoa bằng hạt đậu trắng, vỏ vẫn còn xanh nhưng đã hé ra mấy vệt vàng.

- Những bông hoa đã nở thì thật rực rỡ: Mỗi bông là một ngôi sao năm cánh màu vàng thắm...

- Nhị hoa là một cái hạt xanh xanh nằm giữa cái tua vàng.

- Bên cạnh những chùm hoa, chùm nụ, có những chồi xanh nho nhỏ.

III. Kết luận

Hoa mai là hoa ngày Tết; vẻ đẹp của nó quyến rũ tất cả mọi người.

Bài tham khảo 3

1. Mở bài:

* Giới thiệu chung:

- Cây mai của ai? ở đâu?

- Được trồng từ bao giờ?

2. Thân bài:

* Tả cây mai:

- Cảnh tuốt lá cho cây mai vào rằm tháng Chạp.

- Sau khi tuốt lá, mai ra nụ, hoa nỏ lác đác.

- Mấy ngày Tết, mai nở vàng rực...

- Thấy cây mai đẹp, ai cũng ngợi khen.

3. Kết bài:

* Cảm nghĩ của em:

- Cây mai gắn bó với người trồng.

- Ngắm hoa mai trong ngày Tết, lòng người náo nức niềm vui.

- Hoa mai tô đẹp thêm cho sắc xuân phương Nam.

Bài tham khảo 4

1. Mở bài

- Hoa đào là loài hoa đặc trưng của mùa xuân miền Bắc

- Thấy hoa đào nở là thấy xuân về.

- Em thấy lòng mìn náo nức mỗi khi nhìn thấy cây đào trước ngõ.

2. Thân bài

2.1. Cây đào nhìn từ xa

- Cây đào do ông em trồng trước ngõ đã nhiều năm.

- Cây to, gốc sù sì, cành toả rộng.

- Mùa đông, cành cây đen đúa, khẳng khiu, nhìn gầy gò, không có sức sống.

- Khi có mưa xuân, cành cây bỗng mỡ màng và dịp tết đến cây nư một ngọn đèn hồng rực rỡ thắp sáng ngõ nhà em.

2.2. Cây đào nhìn cận cảnh

- Ngày 28 tết, ông lựa cành đào đẹp nhất, cắt lấy cắm vào chiếc lục bình.

- Sắc hồng của hoa đào làm căn phòng thêm ấm cúng.

- Cành đào xoè ra với dáng vẻ tự nhiên không bị uốn nắn.

- Mỗi đoá hoa có năm cánh hồng nhạt mỏng manh.

- Nhuỵ hoa vàng tươi.

- Những bông hoa chen với nụ nở chi chít trên cành.

- Hoa đào cùng nhau trầm đèn nến tạo nên không khí tết thật đầm ấm.

3. Kết bài

- Em rất yêu cây đào trước ngõ.

- Loài hoa mang đến niềm vui năm mới.

- Em chăm sóc cây đào để mỗi mùa xuân nó lại nở hoa.

Bài tham khảo 5

I. Mở bài

Giới thiệu cây mai vàng trước ngõ nhà em

II. Thân bài

a. Tả bao quát

Dáng vẻ của cây mai (lớn hay bé, cao bao nhiêu?)

- Được trồng trong chậu hay ở vườn? Ai trồng

b. Tả chi tiết từng bộ phận

- Gốc mai, thân mai?

- Cành mai xòe ra xung quanh thân và cành đều nhỏ dần về-phía ngọn, mây hôm trước chưa ra nụ, trông trơ trụi và khẳng khiu.

- Nụ hoa bằng hạt đậu trắng, vỏ vẫn còn xanh nhưng đã hé ra mấy vệt vàng.

- Những bông hoa đã nở thì thật rực rỡ: Mỗi bông là một ngôi sao năm cánh màu vàng thắm...

- Nhị hoa là một cái hạt xanh xanh nằm giữa cái tua vàng.

- Bên cạnh những chùm hoa, chùm nụ, có những chồi xanh nho nhỏ.

III. Kết luận

Hoa mai là hoa ngày Tết; nó thật là đẹp em rất yêu quý nó

Bài tham khảo 6

I. Mở bài

Giới thiệu cây mai vàng đang nở hoa.

II. Thân bài

a. Tả bao quát

Dáng vẻ của cây mai (lớn hay bé, cao bao nhiêu?)

- Được trồng trong chậu hay ở vườn?

b. Tả chi tiết từng bộ phận

- Gốc mai, thân mai?

- Cành mai xòe ra xung quanh như hĩnh chữ V. Thân và cành đều nhỏ dần về-phía ngọn, mây hôm trước chưa ra nụ, trông trơ trụi và khẳng khiu.

- Nụ hoa bằng hạt đậu trắng, vỏ vẫn còn xanh nhưng đã hé ra mấy vệt vàng.

- Những bông hoa đã nở thì thật rực rỡ: Mỗi bông là một ngôi sao năm cánh màu vàng thắm...

- Nhị hoa là một cái hạt xanh xanh nằm giữa cái tua vàng.

- Bên cạnh những chùm hoa, chùm nụ, có những chồi xanh nho nhỏ.

III. Kết luận

Hoa mai là hoa ngày Tết; vẻ đẹp của nó quyến rũ tất cả mọi người.

Câu trả lời:

Vào buổi chiều nắng nhẹ hồi hè năm ngoái, tôi cùng chú mèo con đi ra cách đồng trước nhà. Dưới cánh đồng xanh mượt, từng bác cua, chú ốc đang lặng lẽ kiếm ăn. Họ đào xới những chiếc tổ dành riêng cho gia đình mình. Ngồi trên bờ ngắm cảnh, tôi nhìn thấy cụ cua già đang chỉ đạo đàn con cháu xâychiếc tổ mới thay thế cho chiếc tổ nhỏ xíu trước đây bởi đứa con dâu mới về của cụ chuẩn bị sinh một đàn chắt đáng yêu cho cụ. Bên kia bờ, lại có những chị cốc dắt theo đàn con nhỏ kiếm ăn. Dường như mới lần đầu đi theo mẹ, đàn cốc bé ríu rít, ánh mắt lộ rõ vẻ hiếu kì, chăm chú nhìn xuống thửa ruộng. Bầu trời hôm nay thật đẹp, trong xanh mà mát vẻ với những đám mây trắng bồng bềnh và những làn gió nhẹ thổi qua. Trên cao, gia đình cò cùng nhau trở về tổ, họ bay chậm rãi như đang thưởng thức vài ánh nắng nhẹ nhàng của ông mặt trời. Mọi vật bận rộn với những công việc của riêng mình và cả con người cũng vậy. Bác nông dân đang nhổ đi những đám cỏ xấu xí, bé Bi đang dắt chú trâu nhà mình gặm cỏ trên đồi, mẹ tôi đang loay hoay với khu vười nhỏ xinh,... còn tôi ngồi bên bé mèo con ngắm cảnh. Cuộc sống thật vui vẻ và bình yên.

Câu trả lời:

Câu 1:

Giáo dục và thi cử :

+) Vua Lê Thái Tổ cho dựng lại quốc tự giám ở kinh đô Thăng Long . Ở các đạo , phủ đều có trường công , hàng năm mở khoa thi tuyển chọn quan lại . Đa số dân đều được đi học lại , trừ kẻ phạm tội và người làm nghề ca hát . Nội dung học tập , thi cử là cải sách của Đạo Nho . Nho giáo chiếm địa vị độc tôn . Phật giáo , Đạo giáo bị hạn chế .

+) Thời Lê Sơ ( 1428 - 1527) tổ chức được 26 khoa thi , đỗ 989 bằng tiến sĩ và 20 trạng nguyên .

-Văn học:

+) Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm vị trí ưu thế , văn học chữ Nôm chiếm vị trí quan trọng . Văn thời Lê Sơ có nội dung yêu nước sâu sắc , thể hiện niềm tự hào dân tộc , khí phách anh hùng và tinh thần bất khuất của dân tộc .

+) Sử học có tác phẩm Đại Việt sử kí toàn thư , Đại Việt sử kí , Lam Sơn thực lục …

+) Địa lí có tác phẩm Hồng Đức bản đồ , Dư địa chí , An Nam hình thăng đồ …

+) Y học có Bản thảo thực vật toát yếu

-Nghệ thuật:

+Nghệ thuật sân khấu: ca, múa, chèo, tuồng phát triển.

+Nghệ thuật kiến trúc: lăng tẩm, cung điện Lam Kinh (Thanh Hóa) đồ sộ.

Câu 2:

- Giống nhau: về bản chất mang tính giai cấp và đẳng cấp. Mục đích chủ yếu để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, trước hết là đặc quyền đặc lợi của vua, triều đình, của các quan lại cao cấp, cùng cố chế độ quân chủ trung ương tập quyền. Có một số điều luật khuyến khích nông nghiệp phát triển, ổn định xã hội.
- Khác nhau: luật pháp thời Lê sơ được nhà nước rất quan tâm. Bộ luật Hồng Đức được ban hành là bộ luật hoàn chỉnh, đầy đủ, tiến bộ nhất trong các bộ luật thời phong kiến ở Việt Nam. Một số điều trong bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ (về kinh tế, gia đình, xã hội).

Câu trả lời:

Địa danh khu di tích Sóc Sơn hay còn gọi là đền Sóc Sơn là một địa danh văn hoá nổi tiếng thờ Thánh Gióng. Đây là một trong những anh hùng chống giặc ngoại xâm và là một trong Tứ bất tử của Việt Nam. Đền Sóc Sơn hiện nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội.
Đền Sóc Sơn nằm trên dãy núi Mã, trong vòng cung Tam Đảo. Đây là nơi được cho là cái rốn tích tụ mọi linh khí của trời đất. Khu di tích Sóc Sơn gồm nhiều kiến trúc có liên quan. Đầu tiên là đền Thượng. Đây là công trình kiến trúc được khởi dựng sớm nhất. Đền có bố cục mặt bằng kiểu chữ Công, gồm tiền tế, ống muống và hậu cung. Đền Thượng đã được xây dựng từ lâu đời, đến thế kỉ thứ X thời Lê Đại Hành thì được trùng tu và sau đó được sửa chữa nhiều lần. Lần trùng tu gần đây nhất của đền là vào năm 1993. Đến nay, đền Thượng đã mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn.
Toà tiền tế của đền gồm 5 gian, chồng diêm hai tầng tám mái, các góc đao thanh thoát. Hiện trong đền còn lưu giữ nhiều đồ thờ tự quý giá như đôi ngựa gỗ, một trong những hiện vật còn lại sau trận hoả hoạn năm 1898. Toà ống muống gồm ba gian dọc. Toà nhà này cũng được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng mái.
Hậu cung là nơi đặt tượng Thánh Gióng cùng các thiên thần võ sĩ. Tương truyền, tượng Thánh Gióng được đắp với ba đặc điểm: Thiên - Thổ - Mộc. Tượng đắp lộ thiên bên ngoài bằng vôi mật, cốt bên trong là gỗ trầm hương. Đây là loại gỗ theo truyền thuyết là anh hùng làng Gióng đã cởi áo vắt lên trước khi bay về trời. Để gợi nhớ điều này nên người dân đã lấy gỗ trầm hương làm cốt cho tượng.
Trước cửa khu đền Thượng là dãy núi Mã, trong đó núi Vây Rồng được tương truyền là nơi ông Gióng đã cởi giáp sắt để lại.
Đền Hạ được xây dựng muộn hơn. Theo truyền thuyết và tấm bia đá 8 mặt của di tích thì đền Hạ được khởi dựng vào thời Lê Đại Hành. Khi đó, vua Lê đến đền thờ thần núi Vệ Linh để cầu nguyện dẹp tan giặc Tống. Lời cầu xin linh ứng. Vua Lê Đại Hành cho tu sửa đền Thượng, xây dựng thêm đền Hạ và phong tên hiệu cho thần là Sóc Sơn Đổng Thiên Vương, Đà Giang hiển thánh, phủ Thánh giá, Đại vương Thượng đẳng Sơn thần.
Đền Hạ thờ vị Sơn thần, Thổ địa cai quản núi Sóc (nơi có đền thờ ông Gióng). Toà tiền tế của đền có các bia hậu, ngoài việc thờ cúng thần linh, nơi đây còn là hậu cung của khu đền. Hậu cung có pho tượng Thánh Thần Vương bằng đồng hun đen, niên hiệu thời Nguyễn. Một trong những tấm bia có giá trị nhất còn lưu lại tại đền là bia tám mặt mang niên hiệu Dương Đức 1 (1672) ghi lại câu chuyện về Thánh Gióng và lịch sử xây dựng đền.
Lễ hội chính của đền Sóc là vào ngày mồng 6 tháng Giêng Âm lịch, thu hút hàng vạn người tham gia. Trong lễ hội có lễ rước nước, rước ngà voi, mang đậm dấu ấn của lễ nghi nông nghiệp. Đặc biệt lễ rước hoa tre là một lễ hội độc đáo gợi lại hình tượng Thánh Gióng nhổ gốc tre ngà đánh tan giặc Ân. Ngoài ra, lễ hội còn có lễ chém tướng diễn tả chiến công của Thánh Gióng và nhiều tiết mục sinh hoạt văn hoá dân gian. Hội Gióng được đánh giá là đỉnh cao của sinh hoạt văn hoá dân tộc truyền thống.
Du khách trẩy hội Gióng ở đền Sóc cũng như những người dân Việt Nam có thể đều biết câu ca dao:

Tháng Giêng giỗ Thánh Sóc Sơn
Tháng Ba giỗ Tổ Hùng Vương nhớ về

Khu di tích đền Sóc Sơn ngoài giá trị lịch sử - văn hoá còn một giá trị đặc biệt hiếm thấy trên đất thủ đô với cảnh quan trời đất, núi non hoà quyện, hữu tình. Nữ sĩ Ngô Chi Lan (thời vua Lê Thánh Tông) đã đến thăm đền và lưu lại những vần thơ được vua Lê Thánh Tông hết sức ngợi khen. Đó là:

Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn
Muôn tía nghìn hồng đẹp thế gian
Ngựa sắt bay rồi tên sử sách
Anh hùng mãi mãi với giang sơn