Ở nước ta có tỉ lệ mắc bệnh giun đũa cao là vì : Nhà tiêu. hố
xí chưa hợp Vệ sinh, tạo điều kiện cho trứng giun phát tán, ruổi nhặng đẻ
nhiều mang trứng giun (có trong phân) đi khắp mọi nơi. Ý thức vệ sinh
công cộng nói chung chưa cao (dùng phân tươi tưới rau, ăn rau sống
không qua sát trùng, mua, bán quà bánh ở nơi bụi bặm, ruồi nhặng...).
Khi gặp nguy hiểm, trai co chân, khép vỏ để bảo Vệ phân
mềm bên trong. Nhờ vỏ cứng rắn và 2 cơ khép vỏ vững chắc nên kẻ thù
không thể bùa vỏ ra để ăn phân mềm của cơ thể trai.
Cách dinh dưỡng theo kiểu hút nước để lọc lấy vụn hữu cơ,
động Vật nguyên sinh. các động vạt nhỏ khác có tác dụng lọc sạch môi
lrường nước. Ở những vùng nước ô nhiễm, người ăn trai (sò cũng vậy)
hay bị ngộ độc vì khi lọc nước lấy thức ăn chúng cũng giữ lại nhiều chất
độc trong cơ thể.
Khi nuôi cá mà không thả trai, nhưng trong ao văn có trai là
vì ấu trùng trai thường bám vào mang và da cá. Vào ao cá, ấu trùng trai
lớn lên và phát triển bình thường.
Ốc sên thường sống ở nơi cây cối rậm rạp, ẩm ướt, cũng có
khi gặp ốc sên ở độ cao trên 1000… so với mặt nước biển.
Khi bò, Ốc sên tiết ra chất nhờn làm giảm ma sát. Khi khô, chất
nhờn đó tạo nên vết màu trắng trên lá cây.
Người ta thường dùng ảnh sáng để câu và bắt mực là vì
Ngoài lập tính săn mồi bằng cách rình bắt. hay phun “hỏa mù” che mắt
kẻ thủ để trốn chạy, mực còn có các tập tính sau
Chăm sóc trứng : Mực đẻ trứng thành chùm như chùm nho bám
vào rong rêu, đẻ xong mực ở lại canh trứng. Thỉnh thoảng mực phun
nước vào trứng để làm giàu ôxi cho trứng phál triển.
Con đực có một tua miệng đảm nhiệm chức năng giao phối (tay
giao phối). Ơ một số loài, tay giao phổi có thể đứt ra mang theo các bó
tinh trùng bơi đến thụ tinh cho con cái.