Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Nghệ An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 29
Số lượng câu trả lời 514
Điểm GP 148
Điểm SP 603

Người theo dõi (110)

Đang theo dõi (15)


Câu trả lời:

Một buổi trưa thật đẹp trời em đnag mơ man ngủ thì trong giấc mơ em đã được gặp vua Lý Công Uẩn em và ông ấy đã trò chuyện với nhau rất lâu em đã giớ thiệu cho ông ấy biết Thủ đo Hà Nội của nước Việt Nam ta niềm kiêu hãnh của dân tộc

Thủ đô Hà Nội là thủ đô ngàn năm tuổi, kể từ năm 1010 khi vị vua triều lí là Lí Công Uẩn đã quyết định rời đô từ kinh đô Hoa Lư về thành Thăng Long đến nay, thì thủ đô Hà Nội cũng vừa tròn một ngàn năm tuổi. Để kỉ niệm ngàn năm văn hiến của mình thì vào năm 2010 Việt Nam đã long trọng tổ chức lễ đón “Một ngàn năm Thăng Long Hà Nội” để cùng với quốc dân đồng bào cùng chia sẻ niềm tự hào của dân tộc ngàn năm tuổi, đồng thời cũng là lời tuyên bố trong tự hào với các quốc gia trên thế giới, rằng Việt nam là đất nước có truyền thống văn hóa, lâu đời.

Không phải là ngẫu nhiên mà khi xưa Lí Thái Tổ lựa chọn thành Thăng Long chính là kinh đô mới của Việt Nam. Thành Thăng Long hội tụ đầy đủ các yếu tố cả về địa lí , cả về yếu tố trọng yếu về chính trị để trở thành nơi quan trọng nhất của đất nước. Theo lập luận của Lí Thái Tổ, thành Thăng Long được thế “rồng cuộn hổ ngồi”. lại đúng ngôi nam bắc đông tây, tiện hướng nhìn sông, dựa núi. Địa hình thì rộng mà bằng, đất đai cao mà phẳng. Nếu sinh sống nơi đây người dân sẽ không phải đương đầu với nạn lụt lội, vạn vật cũng phong phú tốt tươi. Và khắp đất Việt thì thành Thăng Long chính là nơi trọng yếu hội tụ của đất nước.

Và lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn của vua Lí Thái Tổ là hoàn toàn đúng đắn, vì ngày nay, trải qua hàng ngàn năm thì thành Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay vẫn là lựa chọn hàng đầu làm thủ đô,là nơi trung tâm của đất nước. Tên gọi Hà Nội có cách đây vào khoảng cuối thế kỉ mười tám, đầu thế kỉ mười chín. Về ý nghĩa của tên gọi này có thể lí giải như sau, Hà Nội tức là thành phố nằm trong sông, cách lí giải này phù hợp với vị trí địa lí của thủ đô Hà Nội, bởi đây chính là thành phố được bồi tụ, bao bọc bởi con sông Hồng rộng lớn. Khi xưa, Hà Nội còn có tên gọi khác là sông Nhị Hà.

Câu trả lời:

câu 2 Hình ảnh nổi bật trong bài thơ của Tế Hanh là hình ảnh làng chài với những sinh hoạt vô cùng thân thuộc, những người dân chài mạnh khoẻ, cường tráng và đương nhiên không thể thiếu hình ảnh những người dân chài bơi thuyền ra khơi và cảnh đón thuyền cá về bến - những hoạt động vốn được coi là biểu tượng của làng chài.

Đoàn thuyền ra khơi trong một ngày thật đẹp:
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng.

Thời tiết đẹp không chỉ thiết thực với người dân chài (thời tiết có đẹp thì mới ra khơi được) mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của làng chài trong tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ. Sức lực tràn trề của những người trai làng như truyền vào con thuyền, tạo nên khung cảnh ấn tượng, rất mạnh mẽ và hoành tráng:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

Những con thuyền rẽ sóng băng băng và lời thơ cũng theo đó mà bay bổng trong không gian vô cùng rộng rãi, khoáng đạt. Mọi hình ảnh đều được nâng lên đến mức biểu tượng. Chiếc thuyền thì "hăng như con tấu mã", một từ "phăng" thật mạnh mẽ, dứt khoát đã đưa con thuyền "mạnh mẽ vượt trường giang”.

Sau cảnh "khắp dân làng tấp nập đón ghe về" (gợi tả không khí sinh hoạt vô cùng thân thuộc của làng chài), những câu thơ đột ngột chùng xuống:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Từ tả thực, những câu thơ lại dần nghiêng về sắc thái biểu tượng lắng sâu. Điều đó góp phần tạo cho bài thơ một cấu trúc hài hoà, cân đối. Bên trên là cảnh rẽ sóng vượt trùng dương thì đến đây là cảnh nghỉ ngơi. Cái tĩnh đi liền ngay sau cái động nhưng không tách biệt hoàn toàn. Có một sợi dây liên kết, một sự gắn bó rất mật thiết phía sau hình ành "làn da ngăm rám nắng" và "thân hình nồng thở vị xa xăm" của những người trai làng chài, bên cạnh đó còn phải kể đến chi tiết rất gợi cảm: chiếc thuyền đã trở về nghỉ ngơi trên bến nhưng vẫn "nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ . Từ "chất muối" cho đến hơi thở "vị xa xăm" đều gợi đến biển cả, đến những chuyển động vượt qua muôn ngàn sóng gió. Đó chính là khát vọng chinh phục đại dương rất mãnh liệt, đã ngấm sâu trong huyết quản của những người dân làng chài, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ai sinh ra ở vùng duyên hải hẳn chẳng lạ gì những cánh buồm. Thế nhưng những câu thơ của Tế Hanh vẫn có một cái gì đó là lạ và cuốn hút:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

Cánh buồm vô tri đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Đó chính là cái hồn thiêng liêng (trong tâm khảm nhà thơ) của ngôi làng ấy. Nhà thơ đã lấy cái đặc trưng nhất (những cánh buồm) để mà gợi ra bao ước mơ khao khát về một cuốc sống no ấm, đủ đầy. Câu thơ sau thậm chí còn “có hồn” hơn. Thuyền không phải tự ra khơi mà đang “rướn” mình ra biển cả. Hình ảnh thơ đẹp và thi vị biết bao.

Hai câu thơ dưới đây lại mang một hương vị khác - hương vị nồng mặn của biển khơi:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Hai câu thơ là một bức tranh vẽ phác về hình ảnh dân chài. Đó là những con người dường như được sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi dãi dầu mưa nắng làm cho làn da “ngăm rám” lại, trong cả “hơi thở” của thân hình cũng là hương vị xa xăm của biển. Hai câu thơ không phải chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà nó là sự cảm nhận bằng cả một tâm hồn sâu sắc với quê hương.

Trên đây là những hình ảnh sâu đậm, rõ nét nhất được tái hiện từ kí ức. Đến bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã giãi bày trực tiếp tình cảm của mình với quê hương:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ.

Trong nỗi nhớ lại thấp thoáng màu nước xanh, cát bạc, cánh buồm .. và hẳn không thể thiếu con thuyền "rẽ sóng chạy ra khơi". Có thể thấy những hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại, day dứt mãi trong tầm trí nhà thơ để rồi cuối cùng lại làm bật lên cảm xúc:

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Câu thơ được viết thật giản dị nhưng cũng thật gợi cảm, đủ nôn nao lòng người. Bởi nó có sức nặng ngay từ nỗi nhớ da diết và chân thành của tác giả đối với quê hương.

Nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là sự sáng tạo các hình ảnh thơ. Bài thơ cho thấy một sự quan sát tinh tế, một sự cảm nhận và miêu tả sắc sảo. Hình ảnh thơ phong phú, vừa chân thực lại vừa bay bổng và lãng mạn khiến cho cả bài thơ rất có hồn và tràn đầy thi vị.

Bài thơ sử dụng kết hợp phương thức miêu tả và biểu cảm. Nhưng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm phục vụ cho biểu cảm, trữ tình. Nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ vừa lột tả được chân thực, tinh tế cảnh vật và con người của cuộc sống miền biển vừa thể hiện sâu sắc những rung động của tâm hồn nhà thơ.