Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hải Dương , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 57
Số lượng câu trả lời 223
Điểm GP 30
Điểm SP 313

Người theo dõi (52)

Vũ Thế Hải
Akisamisakura
vu van hai
b. ong bong

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

rừng có vai trò đối với môi trường sinh thái và đời sống của con người là

Vai trò của rừng là vô cùng quan trọng với cuộc sống
Tổng quan;
(Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người,là nơi du lịch,thám hiểm,…)

Cụ thể:
Nếu như tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%). Và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%) oxy để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm (S.V. Belov 1976),(Rừng là lá phổi xanh của Trái Đất).
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 – 500 kg, 16 tấn oxy ( rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn).
Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm.
Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5 °C.
Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão.
Lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng.
Rừng là nguồn gen vô tận của con người, là nới cư trú của các loài động thực vật quý hiếm.
Vì vậy tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng ( diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu là ≥ 45% tổng diện tích).

Ngoài ra rừng cũng có vị trí rất quan trọng trong quốc phòng nhất là ở Việt Nam:"Rừng che bộ đội,rừng vây quân thù".(Tố Hữu).

Câu trả lời:

ĐỀ CƯƠNG ÔN LỊCH SỬ 6 - KÌ 1

Câu 1: Lịch sử là gì ? Dựa vào đâu để biết và dựng lại lịch sử ?
-Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ . Lịch sử là một khoa học vì lịch sử tìm hiểu và dựng lại toàn bộ hoạt động của con người và xã hội loài người trong quá khứ .
-Dựa vào 3 nguồn tư liệu :+ Tư liệu truyền miệng +Tư liệu hiện vật +Tư liệu chữ viết
Câu 2: Đời sống của người tinh khôn có những điểm nào tiến bộ hơn người tối cổ ?Vì sao xã hội nguyên thủy tan rã ?

-Người tinh khôn sống thành thị tộc,biết trồng trọt chăn nuôi,biết làm đồ gốm ,dệt vải ,làm đồ trang sức.
-Khoảng 4000 năm TCN kim loại xuất hiện->dùng kim loại chế tạo công cụ -> diện tích trồng trọt tăng ->tạo ra sản phẩm dư thừa-> xuất hiện kẻ giàu người nghèo =>xã hội nguyên thủy tan rã.
Câu 3:Kể tên các quốc gia cổ đại phương Đông ?Xã hội cổ đại phương đông bao gồm những tầng lớp nào?

-Ai Cập ,Lưỡng Hà, ,Trung Quốc, Aán Độ. -Gồm 3 tầng lớp:vua- quý tộc ,nông dân và nô tì .
Câu 4:Kể tên các quốc gia cổ đại phương Tây ?Em hiểu thế nào là chế độ chiếm hữu nô lệ ?
-Gồm Hy Lạp Và Rô Ma.
-Gồm 2 giai cấp : chủ nô và nô lệ .
+Chủ nô có quyền hành , đời sống sung sướng bóc lột nô lệ .
+Nô lệ là lực lượng sản xuất chính , lao động nặng nhọc bị bóc lột .
Câu 5: Thế nào là âm lịch và dương lịch ?
-Aâm lịch :tính theo sự di chuyển của mặt trăng quanh trái đất -Dương lịch :theo sự di chuyện của trái đất quanh mặt trời
Câu 6:Nêu những thành tựu văn hóa của các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây?
+Phương Đông:
*Chữ số ,chữ viết : sáng tạo ra chữ viết đặc biệt là toán học. *Về các khoa học :sáng tạo ra âm lịch và dương lịch .
*Về các công trình nghệ thuật: Kim Tự Tháp ( Ai Cập ), Thành Babilon(Lưỡng Hà)
+Phương Tây :
*Chữ viết ,chữ số:sáng tạo ra chữ cái a,b,c.
*Về các khoa học :biết làm lịch và các tri thức khoa học :toán ,vật lý ,sử học , địa lý ,văn học .
*Về các công trình nghệ thuật :điêu khắc nổi tiếng , tượng lực sĩ ném đĩa, thần vệ nữ .
Câu 7: Con người xuất hiện như thế nào?
-Khoảng 3- 4 triệu năm qua quá trình tìm kiếm thức ăn người vựơn cổ chuyển thành người tối cổ đi = 2 chân , 2 tay cầm nắm,.biết sử dụng những hòn đó làm công cụ.
-Những hài cốt được tìm thấy ở nhiều nơi :Miền Đông Châu Phi , Đảo Giava (Inđonêsia),Bắc Kinh (Trung Quốc)
-Sống theo bầy săn bắt và hái lượm , ở hang động , chế tạo công cụ lao động , biết dùng lửa.
Câu 8: So sánh người tối cổ và người tinh khôn?
Ngừời
Thể tích não
Công cụ lao động
Cách thức kiếm sống
Tổ chức xã hội

Tối cổ
850-1.100cm3
Đá cũ
Săn bắt ,hái lượm
Bầy đàn

Tinh khôn
1.450 Cm3
Đá mới
Trồng trọt , chăn nuôi
Thị tộc

 LỊCH SỬ VIỆT NAM
Câu 9:Nêu những đặc điểm mới trong đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thủy Hòa Bình , Bắc Sơn ,Hạ Long?
Họ sống trong các túp lều , thường xuyên cải tiến công cụ
Biết làm đồ gốm ,sống thành từng nhóm nhỏ ,định cư lâu dài ,chế độ thị tộc đầu tiên được hình thành
Biết làm đồ trang sức
Chôn người chết cùng công cụ lao động
Câu 10:Trình bày những chuyển biến trong đời sống kinh tế của người nguyên thủy ?
- Công cụ lao động được cải tiến , loại hình công cụ và đồ gốm đa dạng phong phú
-Nghề trồng lúa nước ra đời ở các vùng đồng bằng ven sông.
Câu 11: Lập bảng hệ thống các giai đoạn phát triển của người nguyên thủy trên đất nước ta ( thời gian , địa điểm ,công cụ )
Các giai đoạn
Thời gian
Địa điểm
Công cụ

Người tối cổ


Cách đây 40-30 vạn năm

Hang Thẩm Khuyên ,Thẩm Hai (Lạng Sơn),Núi Đọ ,Quan Yên (Thanh Hóa ), Xuân Lộc (Đồmg Nai )
Đá ghè đẻo thô sơ dùng để chặt , đập

Người tinh khôn (giai đoạn đầu)
Khoảng 3-2 vạn năm

Câu trả lời:

I. VỀ THỂ LOẠI (tương tự bài Treo biển). Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội

Soạn bài Văn bản lớp 10Soạn bài Danh từSoạn bài Cảnh khuya và Rằm tháng giêngSoạn bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ)

Xem thêm: Văn nghị luận

  

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khoe khoang của cải là một thói xấu đôi khi khiến người khoe tự đẩy mình vào tình thế lố bịch, bị người đời cười chê. Những người khoe của thường là những kẻ hợm hĩnh, coi của cải là trên hết, có chút gì mà người khác không có cũng khoe ra để chứng tỏ là mình hơn người. Loại người này thường xuất hiện nhiều từ thời xưa, khi cuộc sống còn khổ cực, giá trị vật chất được đặt lên hàng đầu, thậm chí là duy nhất. Không chỉ người giàu khoe của mà ngay cả người nghèo cũng khoe. Người giàu khoe của vì hợm của, người nghèo khoe của vì họ cho đó là cách tốt nhất để khẳng định vị thế, che giấu hoàn cảnh thực của mình.

Anh đi tìm lợn khoe của trong tình huống nhà sắp có đám cưới mà lợn lại sổng mất. Lẽ ra trong câu hỏi của anh phải có những thông tin mà người được hỏi cần biết về con lợn (con lợn to hay nhỏ, màu lông ra sao, gầy béo thế nào…), anh lại hỏi về con lợn cưới. Thông tin này là thừa với người được hỏi (Ai cần biết con lợn ấy anh để làm gì?).

2. Anh muốn khoe áo đứng hóng ở cửa, đợi được người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều mà vẫn chẳng ăn thua, đang đầy thất vọng thì có người chạy qua, thế là không bỏ lỡ dịp may – cũng chẳng cần biết người đó hỏi gì – liền vội khoe ngay: “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…”. “Chiếc áo mới” ở đây là một thông tin thừa. Người hỏi đang cần biết thông tin về con lợn, chứ đâu cần biết chiếc áo anh đang mặc là mới hay cũ và anh mặc nó từ bao giờ!

3. Tình tiết gây cười bật ra ngay trong câu hỏi của anh đi tìm lợn. Mục đích của anh là hỏi để người ta giúp anh tìm con lợn. Thay vì cung cấp những thông tin cần thiết về con lợn, anh lại nhằm vào một mục đích khác: khoe nhà giàu, cỗ cưới to (Ngày xưa, đám cưới mà mổ cả một con lợn hẳn là to lắm). Anh được hỏi cũng chẳng vừa, lẽ ra chỉ cần thông báo điều mà người hỏi muốn biết (không nhìn thấy con lợn), anh lại cũng tranh thủ khoe luôn chiếc áo mới của mình.

 

Như thế gọi là “kẻ cắp bà già gặp nhau”. Anh khoe của lại gặp đúng cái anh cũng thích khoe của, mà anh kia khoe của còn tài hơn. Anh tìm lợn dù sao cũng chỉ cài thêm thông tin vào một cách khéo léo (con lợn ấy là con lợn cưới), từ đó khiến anh kia suy ra rằng nhà anh sắp có cỗ bàn to lắm. Anh khoe áo thì nói huỵch toẹt: Từ lúc tôi mặc cái áo mới này… thông tin của anh hoàn toàn không liên quan gì đến vấn đề mà anh kia quan tâm (con lợn bị sổng chuồng).

4. Qua truyện Lợn cưới, áo mới, nhân dân ta phê phán tính hay khoe khoang của con người, nhất là khoe khoang về của cải. Tính khoe của biến con người thành những kẻ lố bịch, hợm hĩnh, trở thành đối tượng cho mọi người cười chê.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Tóm tắt:

Anh chàng hay khoe của vừa may được chiếc áo mới, đứng suốt từ sáng đến chiều chưa khoe được thì gặp một anh chàng khác cũng đang tìm cơ hội khoe con lợn cưới. Cuộc đối đáp giữa họ thật độc đáo:

- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua không?

- Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!

 

2. Lời kể:

Khi kể diễn cảm câu chuyện này cần thể hiện rõ giọng của ba nhân vật: người dẫn chuyện, người khoe lợn cưới (vai hỏi) và người khoe áo mới (vai trả lời). Chú ý nhấn mạnh các chi tiết nhằm tô đậm các thông tin thừa:

- lợn cưới

- từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này

để thấy rõ dụng ý gây cười của tác giả dân gian.