Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hòa Bình , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 158
Số lượng câu trả lời 3874
Điểm GP 129
Điểm SP 3179

Người theo dõi (493)

Đang theo dõi (55)

Trịnh Xuân Sơn
Vũ Thanh Tùng
tokyo ghoul
Kaneki Ken

Câu trả lời:

Trong học tập, lao động hằng ngày ta thường gặp những khó khăn trở ngại, thậm chí có lúc bị thất bại.

Song chính sự thất bại đã làm cho con người trưởng thành, giàu kinh nghiệm và vững vàng đi tới chiến thắng. Vì thế, tục ngữ xưa đã có câu: “Thất bại là mẹ thành công”.

Câu tục ngữ thật ngắn gọn nhưng đã sử dụng cách nói so sánh. So sánh thất bại – không đạt đựơc mục đích, với thành công- thực hiện đựơc mục đích đề ra. Lời nói trên mới nghe như chứa một mâu thuẫn.

Nhưng nếu giải thích ta có một ý nghĩa rất thực tế. Thất bại là kết quả xấu, là thiệt hại, hư hỏng. “Mẹ” ở đây có ý nói là lớn, là đầy hiệu lực. Đó là một lời khuyên để mọi người vững chí bền lòng, kiên trì không nản trước khó khăn thất bại. Nếu biết học tập rút kinh nghiệm thì “thất bại” sẽ dạy cho ta cách đạt tới kết quả cao hơn.

Vì sao lại nói “Thất bại là mẹ thành công”? Đối với người nản chí thì không đúng như vậy, nhưng đối với

những người bền chí, kiên trì thì quả là đúng. Vì sau thất bại, người ta sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý báu để không còn thất bại nữa. Ngoài ra, thất bại còn rèn luyện ý chí vươn lên cho mỗi người. đã bao lần bạn vấp ngã mà có thể bạn không hề nhớ. Lần đầu tiên chập chững bước đi, bạn đã bị vấp ngã. Lần đầu tiên chơi bóng bàn, bạn có đánh trúng bóng không?…Bất cứ một kết quả nào cũng có những nguyên nhân, lí do riêng do đó thất bại cũng có lí do riêng. Muốn đổi thất bại thành công thì phải lấy sự thất bại làm bài học cho mình, rút kinh nghiệm cho mình. Tuy nhiên để làm được điều đó người ta phải thật sự nỗ lực học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân. Có như vậy chúng ta mới không vấp ngã những lần tiếp theo.

Vậy tại sao ta phải kiên trì bền bỉ trước những khó khăn thất bại? Đó là vì cuộc sống khó tránh khỏi

những khó khăn. Khi ta làm một việc lớn thì khó khăn lại càng lớn. Khó khăn có thể do chủ quan hoặc khách quan gây nên. Khi gặp khó khăn, thất bại mà ngã lòng thì sẽ thất bại hoàn toàn, mất hết ý chí, ảnh hưởng đến công việc và cuộc đời. Ngược lại, nếu vững vàng, lấy thất bại làm bài học để rút kinh nghiệm thì ý chí vững vàng, kinh nghiệm dày dặn hơn, tiếp tục vươn lên và đạt được thành công. Thực tế cuộc sống đã thể hiện điều đó.

Vậy xin chớ lo thất bại. Điều đáng sợ hơn là chúng ta bỏ qua nhiêù cơ hội chỉ vì không cố gắng hết mình.

Lời khuyên đó giúp ta vững vàng trong cuộc sống. Chúng ta cần phải rèn luyện ý chí, sự kiên trì ngay từ khi còn nhỏ, cả những việc bình thường trong cuộc sống.

Câu trả lời:

B1: Tốt cho trí nhớ, giúp cho quá trình chuyển hóa đường thành năng lượng trong cơ thể nhanh hơn, đồng thời làm cân bằng hệ thống thần kinh, tốt cho hoạt động của tim và gan. Nếu thiếu B1, trí nhớ sẽ giảm sút, cơ thể sẽ trở nên mệt mỏi. Vitamin B1 có nhiều trong thịt lợn, lòng đỏ trứng, măng tây, ngũ cốc tổng hợp, men bia.

B2: Giữ cho cơ thể trẻ lâu, thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của tế bào. Nếu thiếu Vitamin B2, da mặt sẽ sớm bị nhăn, mắt sẽ bị kém và móng tay dễ bị gãy. Vitamin B2 có nhiều trong gan động vật, cá béo, sữa...

B3: Làm sáng da: Với các loại Vitamin B khác, Vitamin B3 đảm bảo cho cơ chế cung cấp Protein, chất dinh dưỡng cho cơ thể, đồng thời còn giúp cho quá trình tiêu hóa dễ dàng hơn. Nếu thiếu Vitamin B3, da sẽ bị khô, độ đàn hồi kém và sạm dần. Vitamin B3 có nhiều thịt gia cầm, quýt, bánh mì lát...

B5: Giữ cho tính tình điềm đạm, giúp tái tạo một số loại hóc môn cần thiết cho cơ thể. Nó còn có tác dụng phòng tránh bệnh rụng tóc. Nếu thiếu Vitamin B5, cơ thể sẽ gặp các rắc rối về tim, tính cách sẽ dễ trở nên cáu bẳn. Vitamin B5 có nhiều trong tôm, rau xanh, nấm và nhiều loại hải sản.

B6: Tăng cường sinh lực, tham gia vào việc cấu tạo các hợp chất cần thiết cho cơ thể, giúp ăn ngon miệng và dễ tiêu. Thiếu Vitamin B6 sẽ làm thiếu năng lượng, đặc biệt là ở tuổi trưởng thành hoặc có thể gây ra những rối loạn trong quá trình phát triển ở tuổi dậy thì. Vitamin B6 có nhiều trong cá hồi, quýt, chuối, hạt dẻ, ngô, đậu nành, khoai tây.

B9: Thúc đẩy sự phát triển của cơ thể. Vitamin B9 có vai trò đặc biệt quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển của hồng cầu và tế bào. Thiếu Vitamin B9 còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi. Vitamin B9 có nhiều trong gan động vật, rau chân vịt, trứng, nấm, sò, men bia.

B12: Giúp hoàn thiện vóc dáng. Vitamin B12 giúp cơ thể hoàn thiện một cách hoàn chỉnh, đảm bảo hoạt động của tế bào, các sợi mô và các cơ. Nếu thiếu Vitamin B9, cơ thể sẽ có vấn đề về thị lực, hệ thống thần kinh. Vitamin B12 có nhiều trong các sản phẩm sữa, cá biển và đậu nành.

Câu trả lời:

Lớp Thú (danh pháp khoa học: Mammalia/məˈmeɪli.ə/, còn được gọi là Động vật có vú hoặc Động vật hữu nhũ) là một nhánh động vật có màng ối nội nhiệt được phân biệt với chim bởi sự xuất hiện của lông mao,[a] ba xương tai giữa, tuyến vú, và vỏ não mới (neocortex, một khu vực của não). Não bộ điều chỉnh thân nhiệt và hệ tuần hoàn, bao gồm cả một trái tim bốn ngăn. Lớp Thú bao gồm các động vật lớn nhất còn sinh tồn (như cá voi xanh và một vài loài cá voi khác), cũng như những động vật thông minh nhất - như voi, vài loài linh trưởng và cá voi. Kích thước cơ thể động vật có vú dao động từ 30–40 mm (1,2–1,6 in) dơi ong nghệ tới 33 mét (108 ft) cá voi xanh.

Tên khoa học Mammalia được đặt bởi Carl Linnaeus năm 1758, xuất phát từ tiếng Latinmamma ("vú"). Tất cả con cái cho con bú bằng sữa tiết ra từ tuyến vú. Theo Mammal Species of the World, 5.416 loài được biết đến vào năm 2006. Lớp Thú được phân thành 1.229 chi, 153 họ và 29 bộ.[1] Năm 2008, IUCN đã hoàn thành việc khảo sát đánh giá động vật có vú toàn cầu kéo dài 5 năm với sự tham gia của 1.700 nhà khoa học để lập Sách đỏ IUCN, trong đó ghi nhận 5.488 loài được công nhận vào cuối thời kỳ đó.[2]

Trừ 5 loài thú đơn huyệt (đẻ trứng), tất cả động vật có vú còn lại đều đẻ con. Ba bộ đa dạng và giàu số lượng loài nhất là Bộ Gặm nhấm (chuột, chuột cống, hải ly, chuột lang nước, chuột lang, và các loài khác), Bộ Dơi (dơi), và Bộ Chuột chù (chuột chù, chuột chũi và solenodon). Các bộ đa dạng khác là Bộ Linh trưởng, Bộ Guốc chẵn, và Bộ Ăn thịt (mèo, chó, chồn, gấu, hải cẩu và họ hàng).[1]Trong khi việc phân loại các động vật có vú ở cấp độ họ đã tương đối ổn định, phương pháp phân loại khác nhau ở các cấp độ cao hơn-subclass, infraclass, order-xuất hiện trong sách vở đương thời, đặc biệt là cho các loài thú có túi. Thay đổi nhiều trong thời gian gần đây đã phản ánh kết quả phân tích cladistic và di truyền phân tử. Kết quả từ di truyền phân tử đã dẫn đến việc áp dụng các nhóm mới như Afrotheria và việc từ bỏ các nhóm truyền thống như sâu bọ.

Các tổ tiên động vật có vú đầu synapsid là pelycosaurs sphenacodont, một nhóm bao gồm cả Dimetrodon. Vào cuối kỷ Cacbon, nhóm này tách ra từ dòng sauropsid và phát triển thành loài bò sát và các loài chim ngày nay. Dẫn trước bởi nhiều nhóm đa dạng của động vật có vú không synapsids (đôi khi được gọi là bò sát giống động vật có vú), các động vật có vú đầu tiên xuất hiện trong đầu thời đại Trung Sinh. Các loài động vật có vú hiện đại xuất hiện trong các giai đoạn của kỷ Paleogen và Neogen, sau sự tuyệt chủng của loài khủng long 66 triệu năm trước đây.