Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 28
Số lượng câu trả lời 1929
Điểm GP 302
Điểm SP 2299

Người theo dõi (393)

Đang theo dõi (21)


Câu trả lời:

Lê Minh Khuê là cây bút nữ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những tác phẩm đầu tay của bà ra mắt vào đầu những năm 1970 của thế kỉ XX và hầu như chỉ viết về về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở chiến trường Trường Sơn. Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” là một trong những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, được sáng tác trong thời gian ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà đang là phóng viên thực tế ở chiến trường. Và, hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong ở chiến trườngTrường Sơn đã đi vào trong truyện để sau đó tỏa sáng với những vẻ đẹp kì diệu về tâm hồn, về tinh thần dũng cảm và tinh thần đồng đội thân thương. Trong đó, nhân vật Phương Định là hình ảnh nổi bật.
Nhan đề “Những ngôi sao xa xôi” là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng rất đẹp, rất gần với hình ảnh “Mảnh trăng cuối rừng” của nhà văn Nguyễn Minh Châu. .Đó là vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái thanh niên xung phong Trường Sơn đang sống và làm việc giữa mưa bom bão đạn của quân thù.. Vẻ đẹp ấy đẹp, lãng mạn,lấp lánh giữa hiện thực khắc nghiệt và giữa đau thương mất mát.
Tác phẩm là câu chuyện kể về ba cô gái trong tổ trinh sát mặt đường tên Thao, Nho và Phương Định. Họ sống dưới chân một cao điểm trên tuyến đường trọng điểm của Trường Sơn, nơi hứng chịu trực tiếp những trận mưa bom của giặc Mĩ. Công việc của họ là “ đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe Nam tiến. Thần chết luôn “ lẫn trong ruột những quả bom”, thần kinh lúc nào cũng “căng như chão”. Trong lúc đơn vị công binh thường “ ra đường vào lúc mặt trời lặn, và làm việc có khi suốt đêm” thì tổ trinh sát lại “ chạy lên cao điểm cả ban ngày” dưới cái nóng trên ba mươi độ. Từ cao điểm trở về hang, cô nào cũng còn “ hai con mắt lấp lánh”, “ hàm răng loá lên” khi cười, khuôn mặt thì “ lem luốc”. Nhiệm vụ của họ thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ hi sinh. Từ trong hoàn cảnh nhọc nhằn vất vả ấy, ta thấy sáng ngời lên ở các cô những phẩm chất cao đẹp.
Tiểu đội này tuy gồm ba người với những tính cách khác nhau, nhưng tình cảm của họ lại thân thiết như chị em ruột thịt. Họ yêu thương, lo lắng và chăm sóc cho nhau hết mực.Và các cô gái này tuy còn rất trẻ nhưng đều giống nhau ở những phẩm chất cao đẹp. Đó là tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ được giao,là lòng dũng cảm,o sợ hy sinh,là tình đồng bội gắn bó,là trái tim dễ xúc cảm,nhiều mơ ước và quan trọng hơn là tâm hồn thích làm đẹp cho cuộc sống. Và, nhân vật nổi bật và tiêu biểu nhất trong câu chuyện chính là Phương Định.
Cô là một cô gái Hà Nội đáng yêu, rời thành phố vào chiến trường đã ba năm, đối mặt với kẻ thù, có những trải nghiệm trong cuộc sống chiến đấu, thế nhưng cô vẫn giữ những nét hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng của một thiếu nữ Hà thành. Phương Định có nét đẹp duyên dáng “hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”. Đặc biệt đôi mắt cô rất đẹp “dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng” được các anh lái xe nhận xét “cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Vẻ đẹp của Phương Định làm cho nhiều anh pháo thủ và lái xe để ý. Phương Định thường được hỏi thăm, lại được nhận những bức thư dài gửi đường dây…. Cũng như bao cô gái khác, Phương Định rất quan tâm đến hình thức của mình, thích ngắm mắt mình trong gương , cũng ra vẻ kiêu kỳ làm điệu khi xuất hiện một anh bộ đội “nói giỏi” nào đó. Thật ra, trong thâm tâm của cô “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”.
Phương Định còn là một cô gái rất nhạy cảm, hay mơ mộng và thích ca hát. Cô thích hát từ nhỏ. Cô có thể ngồi lên thành cửa sổ văn phòng của mình mà hát say sưa. Cô thích rất nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận, thích dân ca quan họ mềm mại dịu dàng, thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô, thích ngồi bó gối mơ màng để hát những bài dân ca Ý trữ tình…Sống trong cảnh bom đạn ác liệc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút, cô lại càng hát nhiều hơn. Thậm chí Phương Định còn bịa ra những lời để hát, những lời cô bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến cô cũng phải ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình… Cô hát trong những khoảnh khắc im lặng khi máy bay trinh sát “ rè rè” trên đầu, khi cơn bão lửa sắp chụp xuống cao điểm. Cô hát để động viên chị Thao, Nho và cũng để tự động viên mình…
Không chỉ có vè ngoài xinh đẹp mà Phương Định còn có tâm hồn thật đẹp. Nổi bật lên ở Phương Định là tinh thần dũng cảm, thái độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy. Sau những đợt thả bom của giặc, Định chạy lên cao điểm đã bị đạn bom cày nát để làm nhiệm vụ. Nơi đó vẫn còn những quả bom chưa nổ. “Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom”. Nhưng, đối diện với cái chết, Phương Định vẫn bình thản, thậm chí còn thấy thú vị. Cũng có lúc cô cũng nghĩ đến cái chết, nhưng những ý nghĩ đó chỉ “ mờ nhạt” và diễn ra thật nhanh, điều cô quan tâm nhất là “liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm thế nào để châm mìn lần thứ hai?” Mục tiêu trước mắt của Định là phải hoàn thành được nhiệm vụ nhanh chóng và an toàn nhất.
Tuy vậy, tác giả không hề lí tưởng hóa nhân vật. Cảm giác của Phương Định trong lúc phá bom cũng là những chi tiết chân thật về một cô gái có tâm hồn nhạy cảm, khi lưỡi xẻng chạm vào quả bom âm thanh của kim loại chạm vào nhau và cũng cảm thấy “rùng mình” như Phương Định. Khung cảnh, không gian xung quanh cũng căng thẳng “vắng lặng đến phát sợ. “Cây còn lại xơ xác,không có gió”,tim cô “cũng đập không rõ”, chỉ nghe âm thanh tiếng kim đồng hồ.Phương Định hồi hộp, “mồ hôi thấm vào môi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng”. Cảm giác ấy là một cảm giác rất thực của con người trong cuộc chiến mà nhà văn không hề tô vẽ, không thần thánh hóa. Để từ đó vượt lên nỗi sợ hãi, cô gái hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, hành động anh hùng bắt đầu từ những điều tưởng chừng bé nhỏ như vậy.
Phương Định còn là một cô gái có tình cảm đồng đội thắm thiết. Biết Nho thích ăn kẹo, Phương Định trao cho Nho cái kẹo chanh cuối cùng dẫu còn dính đầy cát và chảy nước.Rồi khi còn một mình ở lại trong hang trực điện thoại, cô hết sức lo lắng cho đồng đội đang quan sát địch ném bom ở phía ngoài. Sự lo lắng, tâm trạng căng thẳng đã khiến cô nói như gắt vào máy với đại đội trưởng trong lúc báo cáo tình hình. Sau khi phá bom,Nho bị Thương,chảy máu,Định thay chị Thao chăm sóc cho Nho vì cô biết Thao sợ máu “đến xanh mặt”.Cô tận tình chăm sóc cho Nho hết mực, cô “moi đất, bế Nho đặt lên đùi mình”, “rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than”, “tiêm cho Nho”, “pha sữa trong cái ca sắt”.Hình ảnh Nho “nằm tinh tươm, sạch sẽ trên chiếc giường ghép bằng những thanh gỗ to” trái ngược hẳn với hình ảnh khi bị thương “da xanh đi, mắt nhắm nghiền, quần áo đầy bụi”. Đó chính là nhờ sự chăm sóc tận tình của Phương Định, sự chăm sóc của một người chị dành cho cô em gái.
Ngược lại, Phương Định cũng cảm thấy tự tin, ấm lòng khi sống giữa tình cảm thương yêu của mọi người. Phương Định dành hết tình cảm trân trọng yêu thương quý mến của mình cho những người chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng chiến đấu với kẻ thù. Những lúc chạy đi phá bom, cô cảm thấy an tâm hơn khi “cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ đang theo dõi mình” và cô quyết định “sẽ không đi khom” vì “các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới”. Niềm tin và sự quan tâm của đồng đội giúp cho cô thêm sức mạnh hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Rồi trận mưa đá bất ngờ ào đến,lại chợt đi,gợi lên trong kí ức Phương Định bao nhiêu hình ảnh của thành phố, quê hương, về mẹ… Cô nhớ “cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố, hoặc là cây, hoặc là cái vòm tròn của nhà hát, hoặc bà bán kem đẩy cái xe chở đầy thùng kem, trẻ con háo hức bâu xung quanh...”. Cô “vui thích cuống cuồng”, “niềm vui con trẻ lại nổ tung ra, say sưa, tràn đầy”. Tâm hồn của cô vẫn giữ được sự lãng mạn, dịu dàng giữa chiến trường đầy mưa bom bão đạn. Qua đó cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn cô gái trong sáng, lung linh như những ngôi sao trên bầu trời lấp lánh. Phương Định và đồng đội là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước.
Tác phẩm để lại ấn tượng cho người đọc không chỉ bởi nội dung độc đáo mà còn bởi cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất,nhân vật Phương Định tự kể về mình và đồng đội đã khiến cho câu chuyện được diễn tả một cách chân thực cảm xúc và tâm trạng của những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu. Truyện còn sử dụng ngôn ngữ trần thuật tự nhiên, gần với khẩu ngữ, trẻ trung,nhịp kể lúc nhanh, lúc chậm thể hiện được nội tâm của nhân vật và thời gian truyện o theo trình tự thông thường mà theo nghệ thuật đồng hiện,hiện tại-quá khứ đan xen khiến cho câu chuyện thêm sức hấp dẫn.
Chiến tranh đã đi qua, nhưng những gì mà Lê Minh Khuê khắc hoạ qua chân dung Phương Định và các cô gái trong tổ trinh sát mặt đường trên cao điểm mãi mãi vẫn song trong lòng người. Bởi họ chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

Câu trả lời:

“Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của Hữu Thỉnh, từng được nhiều người ưa thích. Bài thơ gồm có ba khổ thơ; mỗi khổ thơ bốn câu là một nét thu đẹp êm đềm của đất trời, tạo vật trong buổi đầu thu - thu mới về, thu chợt đến.

“Sang thu” thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi chớm thu. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta.

Với thi sĩ Xuân Diệu thì tín hiệu đầu thu là sắc “mơ phai" của lá được bàn tay tạo hóa "dệt” nên giữa muôn ngàn cây:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng."

(Đây mùa thu tới)

Nhưng với Hữu Thỉnh là “hương ổi" của vườn quê dược "'phả vào" trong làn gió thu se lạnh. Cái hương vị nồng nàn ấy nơi vườn nhà mà tuổi thơ mỗi chúng ta sẽ mang theo mãi trong tâm hồn, đi suốt cuộc đời:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió dịu."

"Phả" nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng (Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê). Hữu Thỉnh không tả mà chỉ gợi, đem dến cho người đọc những liên tưởng về màu vàng ươm, về hương thơm lừng, thơm ngát tỏa ra, bốc lên từ những trái ổi chín nơi vườn quê trong những ngày cuối hạ, đầu thu. Vì gió thu “se” lạnh, nên hương ổi mới thêm nồng nàn phả vào đất trời và hồn người.

Nhiều người đã biết: Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Bằng Sơn, Nguyễn Đình Thi,... đã viết thật hay về hương cốm Vòng (Hà Nội), một nét đẹp mến yêu về hương vị mùa thu của quê hương đất nước:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới...”

( Đất nước - Nguyễn Đinh Thi)

“Hương ổi" được hữu hình trong bài “Sang thu" là một cái mới trong thơ, đậm dà màu sắc dân dã của Hữu Thỉnh.

Sau “hương ổi" và “gió se", nhà thơ nói đến sương thu. Cũng không phải là “Sương thu lạnh... Khói thu xây thành” trong “Cám thu tiền thu" của Tản Đà. Cũng chẳng phải là giọt sương lạnh và tiếng thu buồn những ngày xa xưa: “Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun” (Chinh phụ ngâm). Mà là sương thu chứa đầy tâm trạng “chùng chình” cố ý làm chậm chạp để kéo dài thời gian:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.”

Sương thu đã được nhân hóa; hai chữ “chúng chình" diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu về. Nếu các từ ngữ "bỗng nhận ra" biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên thì hai chữ “hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ vừa chợt phát hiện và cảm nhận.

Chữ “se” vần với chữ “về" (vần chân, vần bằng, vần cách) đã góp phần tạo nên sự phong phú về vần điệu và nhạc điệu, làm cho giọng thơ nhẹ nhàng, mênh mông gợi cảm.

Không gian nghệ thuật của bức tranh “Sang thu" được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai tiếp theo:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."

Sông mùa thu trên miền Bắc nước ta nước trong xanh, êm đềm trôi: “Trắng xóa tràng giang, phẳng lặng tờ" (“Tức cánh chiều thu" - Bà Huyện Thanh Quan). Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng”, nhẹ trôi như cố tình chậm chạp, thiếu khẩn trương, để mất nhiều thì giờ... Chim bay “vội vã", đó là những đàn cu ngói, những đàn sâm cầm, những đàn chim đối mùa, tránh rét, từ phương Bắc xa xôi bay về phương Nam. Trong số đàn chim bay “vội vã" ấy phải chăng có những đàn ngỗng trời mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nói tới trong “Thu vịnh”:

“Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"

Dòng sông, cánh chim, đám mây mùa thu đều được nhân hóa. Bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Hữu Thỉnh không dùng những từ ngữ như: lang thang, lơ lửng, bồng bềnh, nhẹ trôi,... mà lại dùng chữ vắt.

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."

Mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và độc đáo: cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo.

Khổ thơ cuối nói lên một vài cảm nhận và suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Nắng, mưa, sấm, những hiện tượng của thiên nhiên trong thời điểm giao mùa: mùa hạ - mùa thu được Hữu Thỉnh cảm nhận một cách tinh tế. Các từ ngữ: vẫn còn, đã vơi dần, cũng bớt bất ngờ, gợi tả rất hay thời lượng và sự hiện hữu của sự vật, của thiên nhiên như nắng thu, mưa thu, tiếng sấm buổi đầu thu. Mùa hạ như còn níu giữ. Nắng, mưa, sấm mùa hạ như còn vương vấn hàng cậy và đất trời. Nhìn cảnh vật sang thu buổi giao mùa, từ ngoại cảnh ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. "Sấm" và “hàng cây đứng tuổi là những ẩn dụ tạo nên tính hàm nghĩa của bài "Sang thu". Nắng, mưa, sấm là những biến động của thiên nhiên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những thay đổi, biến đổi, những khó khăn thử thách trong cuộc đời. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi" là một ẩn dụ nói về lớp người đã từng trải, được tôi luyện trong nhiều gian khổ, khó khăn:

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi"

Hữu Thỉnh viết bài thơ “Sang thu" vào đầu những năm 80 của thế kỉ trước. Lúc bấy giờ, đất nước ta tuy đã được độc lập và thống nhất nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách mới về kinh tế, về xã hội. Hai câu kết bài thơ mang hàm nghĩa khẳng định bản lĩnh cứng cỏi và tốt đẹp của nhân dân ta trong những năm tháng gian khổ, khó khăn ấy.

“Sang thu" là một bài thơ hay của Hữu Thỉnh, được in trong tập thơ “Từ chiến hào tới thành phô" xuất bản vào tháng 5.1985. Bao cảm xúc dâng dầy trong những vần thơ đẹp, hữu tình, nên thơ. Nhà thơ không sử dụng bút màu để vẽ nên những cành thu, sắc thu rực rỡ. Chỉ là một số nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều nhưng tác giả đã làm hiện lên cái hồn thu thanh nhẹ, trong sáng, êm đềm, mênh mang... đầy thi vị.

Nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, cách chọn lọc từ ngữ khá tinh tế là những thành công của Hữu Thỉnh để lại dấu ấn đẹp và sâu sắc trong “Sang thu". Thơ ngũ ngôn trong "Sang thu” thể hiện một cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt mới mẻ, hàm lắng đọng và hồn nhiên. “Sang thu" là một tiếng lòng trang trải, gửi gắm, báo mùa thu của quê hương đất nước; một tiếng thu nồng hậu, thiết tha.



Câu trả lời:

2.Khi Pháp vào xâm lược nhà Nguyễn với tư cách là người đứng ra lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến đã tiếp tục mắc phải những sai lầm trong đường lối đánh giặc đưa đến hậu quả nước ta rơi vào tay Pháp
-Ngay từ đầu trước cuộc xâm lăng của kẻ thù, triều đình đã có ý thức chuẩn bị kháng chiến nhưng sự chuẩn bị này lại chậm trễ, bị động, thiếu tích cực và trong quá trình kháng chiến triều đình có tư tưởng ngại địch, sợ địch không chủ động tấn công nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh giặc (dẫn chứng)
-Triều đình đã sử dụng đường lối thủ để hoà, ảo thưởng về kẻ thù, trông chờ vào lương tâm, hảo ý của địch nên đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác xuất phát từ những toan tính ích kỉ muốn bảo vệ quyền lợi dòng họ nên từ chỗ kháng cự yếu ớt đến đầu hàng(d/c: lần lượt kí các bản hiệp ước đầu hàng)
-Triều đình đã không biết phát huy cuộc kháng chiến toàn dân không phối hợp với nhân dân đánh giặc đến cùng mà đã từng bước bỏ rơi, ngăn cản cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp.
-Triều đình sai lầm trong chủ trương cầu viện bên ngoài.
- Triều đình tiếp tục duy trì đường lối bảo thủ, khước từ mọi đề nghị canh tân , đổi mới đất nước.