Đất nước Việt Nam ta vốn rất phong phú , đa dạng về các sản phẩm có từ lâu đời. Đặc biết trong số đó có chiếc nón lá. Một trong những vận dụng thiết yếu trong cuộc sống lao động sinh hỏa của người dân Việt Nam.
Theo như các tài liệu nghiên cứu , nón lá ra đời từ thế kỉ XIII nhà Trần nhưng cho đến đầu thế kỉ XX nón lá bắt đầu được cải tiến thanh thoát như bây giờ. Trong đời sống LĐ- SH hằng ngày theo thời gian lịch sử có nhiều loại nón khác nhau. Chiếc nón đầu tiên thời phong kiến được các vị quan trường hay đội nón ngắn chóp nhọn, ở phía sau có một đuôi sam . Hay với bây giờ ở các vùng quê quan họ bắc Ninh có nón ba tầm (quai thao) mái bằng rộng hình thúng các anh các chị hay dùng để hát đối đáp giao duyên. Nón bài thơ ở Huế có hình chóp mái mỏng người con gái xứ Huế hay dùng loại nón này. Ngoài ra , còn một số các làng nghề nổi tiếng làm nón như : Nón chuông hà Đông, nón Quảng Bình, Thanh Hóa,...
Nón có 2 bộ phận chính : mái nón và quai nón . Nguyên liệu để làm một chiếc nón lá rất đơn giản chủ yếu làm từ nứa , lá. Nón được dựng lên thành khung hình chóp nhọn đầu. Gồm có 14 vòng tròn to nhỏ khác nhau. Vòng nhỏ nhất là đỉnh nón, xuống phía dưới là miệng nón. Vòng này được làm bằng tre có độ cứng. Sau đó người ta sử dụng lá gồi non phơi khô làm phẳng lớp lên mái. Chiếc nón dùng cho người lao động. Phần mái được phủ lớp dày hơn. Lá mái được khâu lại bằng những sợi móc, sợi cước nilong có độ chắc bền để nón lá khi sử dụng không bị chòng chành. Quai nón có thể làm bằng trải lụa thêu hoặc hoa văn cầu kì dành cho các thiếu nữ. Với người lao động thì chiếc nón giản dị hơn rất nhiều. Quai nón được buộc về phía trong 2 bên mái nón.
Trong đời sống lao động người nông dân, nền nông nghiệp nón là một người bạn thân thiết , gắn bó với họ ra đồng cày bừa, cấy hái dù là trời mưa hay nắng bảo vệ sức khỏe cho người lao động. Hay là những lúc họ nghỉ ngơi bên cạnh gốc cây đa nón lại thành một chiếc quạt mát mẻ. các bà, các chị, các mẹ đi chợ ra ngoài không có nón thì rất cực nhọc. Ngày nay, có rất nhiều các loại vận dụng , mũ , ô, dù màu sắc đa dạng phong phú có thể thay thế cho nón nhưng vẫn có nhiều người ở thành phố vẫn chọn nón để sử dụng. Nón còn trở thành mặt hàng xuất khẩu mang nguồn thu nhập lớn giải quyết vấn đề làm việc cho nhiều người ở nông thôn. Nhưng làng nghề thủ công truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác.Nón lá trở thành một sản vật đặc trưng của đất nước. Những năm gần đây, Việt Nam là điểm đến thú vị cho khách du lịch của tất cả mọi người trên thế giới. Người ta không quên mua về làm quà cho người thân. Nón còn trở thành những tác phẩm nghệ thuật mang những nét đẹp của Việt Nam. Khi chúng ta giao lưu văn hóa, nghệ thuật Axean điệu múa nón " Việt Nam quê hương tôi " đi cùng với tà áo dàu người con gái Việt Nam. Quảng bá về sản vật của đất nước, đánh giá cao. Trước đây người ta vịnh thơ hay vẽ lên mái nón thành tác phân nghệ thuật đặc sắc. Gần đây Huế còn tổ chức một sự kiện fesival thì hình ảnh dàn dựng bằng nón xuất hiện biết bao bức ảnh kỉ niệm của du khắc du lịch khi tới đây để thấy rõ được giá trị của chiếc nón đặc sắc về vật chất làm tinh thần.
Nón lá là một vật dụng thiết yếu trong cuộc sống của người dân. Nguyên liệu chủ yếu là nứa và lá rất dễ bị cháy. Nếu để gần lửa hoặc bị mục nát do mưa nắng gây nên cho nên khi người ta sử dụng người ta phải để nón ở một nơi cao trong nhà để tránh chó mèo hoặc em nhỏ làm rách. Nón không chỉ dùng để bưng bê các đồ dùng nặng , để nón bền người ta quét lên một lwps nhực thông bóng đẹp bảo vệ lá. Nước mưa trợn không bị ngấm vào bên trong.
Có thể nói nón lá là một đồ dụng vận dụng rất tiện lợi , hữu ích nhất trong cuộc sống nhất là cuộc sống người lao động. Nón giúp ta bảo vệ sức khỏe để bảo vệ lao động sức khỏe nên sử dụng bảo quản nó đúng mục đích.