Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 31
Số lượng câu trả lời 94
Điểm GP 8
Điểm SP 70

Người theo dõi (3)

Đang theo dõi (4)

Tlinhh (05)
Knguyenn (07)
Nam Nguyen (KQE)

Để tính số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này, ta cần tính tổng số trường hợp có thể xảy ra và loại bỏ các trường hợp không hợp lệ.

Tổng số trường hợp có thể xảy ra là:
4^20 * 3.75^20 * 3.5^15 * 20^2 (mỗi câu hỏi có 4 hoặc 3.75 hoặc 3.5 hoặc 20 trường hợp trả lời tùy theo quy tắc tính điểm)

Loại bỏ các trường hợp không hợp lệ:

Trường hợp số câu trả lời đúng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 52: không thể xảy raTrường hợp số điểm cuối cùng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 100: không thể xảy ra

Đối với diện ưu tiên, ta cần tính điểm ban đầu của từng thí sinh trước khi tính điểm cuối cùng. Sau đó, ta tính số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi với từng trường hợp ưu tiên và cộng lại.

Đối với học sinh lớp 10 trở lên: không được ưu tiên thêm.Đối với học sinh khối THCS: từ lớp 9 trở xuống, cứ dưới 1 bậc lớp so với lớp 10 thì được cộng 20 điểm ban đầu.Đối với học sinh khối Tiểu học: trả lời sai sẽ không bị trừ điểm, không trả lời sẽ được 25% số điểm câu đó nếu trả lời đúng. Điểm ban đầu bằng với diện ưu tiên học sinh lớp 6.Đối với diện học sinh khối THCS trở lên hoặc học nghề đạt giải Olympic Toán học Quốc tế: không cần làm 20 câu đầu và số điểm đạt được 20 câu này là tối đa, và được nhân đôi thêm.Đối với diện học nghề: cộng thêm 25 điểm vào tổng điểm.

Lưu ý khi xét diện ưu tiên, thí sinh tham dự được lấy tối đa 2 trong 5 phương thức ưu tiên trên.

Vậy, số khả năng có thể xảy ra 

cho số điểm của đề thi với từng trường hợp ưu tiên, ta cần tính điểm ban đầu của từng thí sinh trước khi tính điểm cuối cùng.

Đối với học sinh lớp 10 trở lên: không được ưu tiên thêm. Điểm ban đầu là 50 điểm.Đối với học sinh khối THCS: từ lớp 9 trở xuống, cứ dưới 1 bậc lớp so với lớp 10 thì được cộng 20 điểm ban đầu. Điểm ban đầu là 70 hoặc 90 điểm.Đối với học sinh khối Tiểu học: trả lời sai sẽ không bị trừ điểm, không trả lời sẽ được 25% số điểm câu đó nếu trả lời đúng. Điểm ban đầu bằng với diện ưu tiên học sinh lớp 6 (tức là 50 điểm).Đối với diện học sinh khối THCS trở lên hoặc học nghề đạt giải Olympic Toán học Quốc tế: không cần làm 20 câu đầu và số điểm đạt được 20 câu này là tối đa, và được nhân đôi thêm. Điểm ban đầu là 100 điểm.Đối với diện học nghề: cộng thêm 25 điểm vào tổng điểm. Điểm ban đầu là 75 điểm.

Sau khi tính điểm ban đầu, ta tính số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi với từng trường hợp ưu tiên và cộng lại. Lưu ý rằng mỗi thí sinh chỉ được lấy tối đa 2 trong 5 phương thức ưu tiên trên.

Vậy, số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này là tổng số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi với từng trường hợp ưu tiên và số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi không có ưu tiên.

      

Câu 1:
Để tính số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này, ta cần tính tổng số trường hợp có thể xảy ra và loại bỏ các trường hợp không hợp lệ.

Tổng số trường hợp có thể xảy ra là:
3^40 (mỗi câu hỏi có 3 trường hợp trả lời: đúng, sai hoặc không trả lời)

Loại bỏ các trường hợp không hợp lệ:

Trường hợp số câu trả lời đúng lớn hơn 40: không thể xảy raTrường hợp số câu trả lời đúng nhỏ hơn 40: có thể xảy ra, nhưng không tính trong số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này

Vậy, số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này là số trường hợp có thể xảy ra trừ đi số trường hợp không hợp lệ:
3^40 - (số trường hợp có ít hơn 40 câu trả lời đúng)

Câu 2:
Để tính số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này, ta cần tính tổng số trường hợp có thể xảy ra và loại bỏ các trường hợp không hợp lệ.

Tổng số trường hợp có thể xảy ra là:
4^50 (mỗi câu hỏi có 4 trường hợp trả lời: đúng, sai, không trả lời hoặc bỏ qua)

Loại bỏ các trường hợp không hợp lệ:

Trường hợp số câu trả lời đúng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 50: không thể xảy raTrường hợp số điểm cuối cùng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 100: không thể xảy ra 

 lớn hơn 50) - (số trường hợp có số điểm cuối cùng nhỏ hơn 0 hoặ còn thiếu

Trường hợp số điểm cuối cùng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 100: không thể xảy ra

Để tính số trường hợp có số câu trả lời đúng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 50, ta sử dụng phương pháp tương tự như câu 1.

Số trường hợp có số câu trả lời đúng nhỏ hơn 0 là số trường hợp có ít hơn 40 câu trả lời đúng, vì mỗi câu trả lời sai được tính là -1.5 điểm. Tương tự, số trường hợp có số câu trả lời đúng lớn hơn 50 là số trường hợp có nhiều hơn 10 câu trả lời sai.

Vậy, số khả năng có thể xảy ra cho số điểm của đề thi này là:
(số trường hợp có thể xảy ra) - (số trường hợp có số câu trả lời đúng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 50) - (số trường hợp có số điểm cuối cùng nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 100)

 

Câu trả lời:

Câu 1: Trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 là trận chiến giữa quân ta chống lại quân Nam Hán xâm lược. Quân ta dùng chiến thuật "điều binh đạn" để đánh tan đoàn tàu của quân Nam Hán, khiến quân Nam Hán bị đánh tan tác chiến và thất bại.

Câu 2: Trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 được coi là một trận chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta vì nó đã chứng tỏ sức mạnh của quân và dân ta trong việc đánh bại quân xâm lược. Nó cũng là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự độc lập của đất nước và mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước.

Câu 3: Ngô Quyền là một vị tướng tài ba, anh dũng và có công lớn trong việc bảo vệ đất nước. Ông đã lãnh đạo quân và dân ta đánh bại quân Nam Hán trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938, đánh dấu sự độc lập của đất nước. Công lao của Ngô Quyền đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển đất nước.

Câu 4: Từ trận chiến trên sông Bạch Đằng, chúng ta rút ra bài học quan trọng về tinh thần đoàn kết, sự hy sinh và sự dũng cảm trong việc bảo vệ đất nước. Những giá trị này vẫn còn rất quan trọng trong công cuộc bảo vệ đất nước hiện nay. Chúng ta cần luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, sẵn sàng hy sinh và dũng cảm để bảo vệ đất nước khỏi những nguy cơ tiềm ẩn từ bên ngoài.