Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 8
Số lượng câu trả lời 982
Điểm GP 17
Điểm SP 604

Người theo dõi (19)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Tham khảo
 

Chảy máu tĩnh mạch và động mạch có gì khác nhau về biểu hiện và cách xử lí?

   Trả lời:

    + Chảy máu ở tĩnh mạch: chảy chậm, ít. Có thể sơ cứu tại chỗ bằng băng dán hay gạc (nếu vết thương sâu thì nên đến bệnh viện).

    + Chảy máu ở động mạch: chảy mạnh do vận tốc máu trong mạch lớn, chảy thành tia gây nguy hiểm, cần sơ cứu tạm thời và đưa ngay đến bệnh viện.

  - Những yêu cầu cơ bản của biện pháp buộc dây garô là gì? Vì sao chỉ những vết thương chảy máu động mạch ở tay hoặc chân mới dùng biện pháp buộc dây garô?

   Trả lời: 

    + Những yêu cầu cơ bản của biện pháp buộc dây garô:

     • Trước khi đặt garo nên dùng vải quấn quanh da vùng định thắt để tránh xoắn và kẹt da phía dưới dây thắt.

     • Khi đặt vòng garo đầu tiên phải chặt nhất sau đó lực thắt giảm dần. Các vòng garo nằm cạnh nhau sao cho ko bị xoắn kẹp, đầu dây garo phải được cố định lại.

     • Trường hợp đặt garo đúng máu nhanh chóng ngừng chảy, chỉ trắng nhợt, phía dưới chỗ đặt garo mạch ko còn đập.

     • Nếu thắt garô quá chặt có thể gây dập nát tổ chức phần mềm, và cũng là nguyên nhân gây liệt chi.

     • Nếu đặt garo ko đủ chặt máu tiếp tục chảy, đồng thời ứ tắc tĩnh mạch (chỉ có thể tím thẫm).

    • Ko được phép để garo lâu quá 1,5 - 2h, nếu lâu quá phần dưới garo sẽ bị hoại tử. Vì vậy khi đặt garo nhất thiết phải ghi giờ vào 1 tờ giấy và đặt tờ giấy vào chỗ đặt garo, cứ 1h nới lỏng garo 1 lần, nới từ từ mỗi lần khoảng 30 giây.

     • Chuyển bệnh nhân tới bệnh viện nhanh nhất có thể.

    + Những vết thương chảy máu động mạch ở tay hoặc ở chân mới dùng biện pháp buộc day garô vì tay và chân là những mô đặc nên biện pháp buộc dây garô mới có hiệu quả cầm máu.

 

  - Những vết thương chảy máu động mạch không phải ở tay (chân) phải xử lí thế nào?

   Trả lời:

    + Ở những vị trí khác, biện pháp garô vừa không có hiệu quả cầm máu (Ví dụ: vết thương ở bẹn, ở bụng) do buộc garô sẽ không chắc chắn, vừa có thể gây ra nguy hiểm tính mạng (ví dụ: vết thương ở đầu, mặt, cổ). Do não sẽ bị thiếu O2 mà não chỉ cần thiếu O2 khoảng ¾ phút đã có thể bị tổn thương tới mức không thể hồi phục.

    + Nếu người sơ cứu có kiến thức cấp cứu vết thương thì một mặt cho băng chặt vết thương, mặt khác lấy ngón tay ấn chặn vào phía trên đường đi của động mạch (phía trên vết thương đó).

    + Nếu người sơ cứu không biết nghiệp vụ cấp cứu vết thương thì cần băng chặt vết thương để cầm máu tạm thời sau đó nhanh chóng đưa nạn nhân đến bệnh viện gần nhất.

2. Kĩ năng:

Bảng 19. Các kỹ năng sơ cứu vết thương chảy máu

 
Các kĩ năng được học

Các thao tác

Ghi chú
1. Sơ cứu vết thương chảy máu mao mạch và tĩnh mạch

- Dùng ngón tay cái bịt chặt miệng vết thương tới khi máu ngừng chảy.

- Sát trùng vết thương bằng cồn.

- Băng kín vết thương (có thể dùng băng dán với vết thương nhỏ và gạc với vết thương lớn).

Sau khi băng nếu thấy vẫn chảy máu, cần đưa đến bệnh viện cấp cứu.
2. Sơ cứu vết thương chảy máu động mạch

- Dò tìm vị trí động mạch phía trên vết thương (về phía gần tim).

- Dùng ngón tay ấn mạnh vào để cầm máu tạm thời. Với vết thương ở tay chân có thể dùng biện pháp buộc dây garô ở phía trên vết thương (cứ 15 phút lại nới dây garô).

- Sát trùng vết thương. Băng kín vết thương.

- Đưa ngay đến bệnh viện cấp cứu.

Trên khăn buộc garô cần ghi chú thời gian bắt đầu buộc garô và những khoảng cách thời gian nới garô trên đường đến bệnh viện.



CÁCH SƠ CỨU NẠN NHÂN CÓ VẾT THƯƠNG CHẢY MÁU | Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Lạng  Sơn

Câu trả lời:

Tham khảo
 

Cũng như các châu lục khác trên thế giới, trong những năm qua, châu Phi trải qua nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Từ một khu vực bị phân hoá, chìm ngập trong xung đột, đói nghèo, bệnh tật, đời sống người dân vô cùng khó khăn và hầu như không có vị trí trong đời sống chính trị, kinh tế của cộng đồng quốc tế, trong mấy năm gần đây, châu Phi có tình hình chính trị tương đối ổn định, tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 3%/ năm, riêng năm 1997 đạt khoảng 5%, trong khi tỷ lệ tăng dân số có chiều hướng giảm, các cuộc xung đột đi dần vào giải pháp hoặc bị thu hẹp, xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ngày càng được củng cố; một số nước thoát ra khỏi thảm cảnh nghèo đói bần cùng và xung đột bạo lực, bắt tay vào khôi phục nền kinh tế, xây dựng lại đất nước. Với những thành quả bước đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, với xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển trên thế giới, các quốc gia châu Phi sẽ từng bước vượt qua những khó khăn, thử thách, duy trì hoà bình ổn định, tiếp tục khôi phục kinh tế mở ra triển vọng phát triển mới trong thời gian tới.

Là lục địa lớn thứ ba trên thế giới về diện tích, châu Phi hiện nay có hơn 700 triệu người, giầu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và các khoáng sản chiến lược với trữ lượng lớn và mới khai thác. Nhưng từ thập kỷ 60 trở về trước, châu lục này bị đế quốc, thực dân đô hộ và chia cắt. Tình trạng dân trí thấp, sống du canh du cư theo bộ tộc, bộ lạc, chậm phân hoá giai cấp -xã hội, bên cạnh đó sự thống trị, bóc lột, chia rẽ và sự áp đặt của đế quốc thực dân trong việc phân định đường biên giới lãnh thổ làm cho quá trình hình thành các quốc gia - dân tộc diễn ra phức tạp, khó khăn và chứa đựng nhiều mâu thuẫn giai cấp, xã hội. Sau Thế chiến II, được sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi độc lập tự do phát triển mạnh mẽ, và đến cuối những năm 70, khi những vết tích cuối cùng của chủ nghĩa thực dân bị xoá bỏ, thì hầu hết các nước Châu Phi dành được độc lập dân tộc ở mức độ khác nhau và lựa chọn mô hình phát triển đất nước dưới tác động của chiến tranh lạnh, sự tập hợp lực lượng và đấu tranh ý thức hệ giữa hai phe, hai khối. Trong số 50 quốc gia châu Phi hiện nay, trước năm 1950 chỉ có 4 nước độc lập, những năm 50 và 60 có 38 quốc gia dành độc lập, và chỉ riêng năm 1960, một loạt 17 nước ra đời. Tình trạng nghèo nàn, chậm phát triển, những hậu quả nặng nề do chính sách áp bức bóc lột và "chia để trị" mà đế quốc, thực dân để lại cùng với tâm lý kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, sự bất bình đẳng về quyền lợi chính trị, kinh tế, xã hội, sự áp bức lẫn nhau thường là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, các cuộc đảo chính tranh giành quyền lực hoặc các xung đột khu vực mang mầu sắc tư tưởng, đối đầu Đông - Tây. Do đó các quốc gia châu Phi chưa thể ra khỏi tình trạng đói nghèo, chậm phát triển, và nguy cơ tụt hậu ngày càng lớn trong bối cảnh những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, tin học v.v...thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất trên toàn cầu.

Khác với các châu lục khác trên thế giới, ở châu Phi, xu hướng phát triển đất nước không phải do sự vận động của các phương thức sản xuất trong xã hội quyết định, mà chủ yếu do hệ tư tưởng của giới cầm quyền ở từng nước chi phối. Vì vậy, suốt trong nhiều thập kỷ sau khi dành độc lập, đa số chính quyền các nước châu Phi dựa vào viện trợ, giúp đỡ từ bên ngoài để duy trì chế độ thống trị độc tài, trấn áp các lực lượng đối lập, phục vụ lợi ích của giới cầm quyền. Do đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và tính chất cuộc đấu tranh dành độc lập ở từng nước, tại khu vực này đã hình thành ba khuynh hướng phát triển chủ yếu gồm: những nước được trao trả độc lập thông qua thương lượng thoả hiệp, chính quyền Trung ương do giai cấp tư sản mại bản hoặc phong kiến lãnh đạo thường lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, bị lệ thuộc vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới (Ma-rốc, Cốt-đi-voa, Nam Phi, Tuy-ni-di, Kê-ni-a, Ga-bông, Xê-nê-gan, Da-i-a v.v...). Trong khi đó, những nước dành độc lập thông qua đấu tranh vũ trang hoặc bằng bạo lực chính trị, giới lãnh đạo theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, có ý thức độc lập, tự chủ đã chọn con đường xã hội chủ nghĩa: A-rập (ai-cập, An-giê-ri, Li-bi, Ma-đa- gat-xca, Ga-na, Ghi-nê, Tan-da-ni-a, Dăm-bi-a, Bốt-xoa-na, Xô-ma-li v.v...). Còn những nước dành độc lập bằng đấu tranh vũ trang, bạo lực cách mạng, giới lãnh đạo có xu hướng tiến bộ, mác xít và trong quá trình đấu tranh được Liên Xô (trước đây), Cu-ba và các nước XHCN giúp đỡ, ủng hộ, vì vậy sau khi dành được chính quyền họ chủ trương phát triển đất nước theo khuynh hướng CHXH khoa học (Ang-gô-la, Mô-dăm-bích, Ê-ti-ô-pi-a, Công-gô(B) ). Tuy vậy, do xuất phát điểm thấp lại bị ảnh hưởng bởi các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành quyền lực liên tiếp xẩy ra trong thời gian dài nên các nước châu Phi phát triển chậm, kinh tế khó khăn, tình hình chính trị, xã hội diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, nền kinh tế của các nước châu Phi mất cân đối nghiêm trọng, chủ yếu dựa vào khai thác, xuất khẩu nguyên nhiên liệu với giá rẻ, trong khi phải nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và thiết bị với giá cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, nợ nước ngoài ngày một tăng (đến nay lên tới 400 tỷ USD).

Đề cập vấn đề kinh tế, Ngân hàng thế giới nhận xét rằng trong các năm 1996-1997, châu Phi có tốc độ tăng trưởng là 5%, lạm phát ở mức độ vừa phải, đặc biệt khu vực Nam Xa-ha- ra có thể đạt mức tăng trưởng bình quân 4% trong 10 năm tới. Tình hình phát triển kinh tế có sự khác nhau giữa các vùng, tỷ lệ tăng trưởng của các nước Cộng đồng Trung Phi chỉ đạt 1,1%, các nước khối Ma-grép gồm An-giê-ri, Ma-rốc, Li-bi, Mô-ri-ta-ni và Tuy-ni-di đạt 1,7%; khu vực tiểu lục địa Xa-ha-ra đạt 3,3%, các nước Tây Phi đạt 3,5%; trong khi các nước ở miền Đông và Nam châu Phi duy trì được tốc độ tăng truởng bình quân khoảng 5% năm. Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là do từ năm 1994, nhờ có hoà bình ổn định tương đối nên nhiều nước châu Phi có điều kiện khôi phục sản xuất, thực hiện cải cách kinh tế, tăng cường hợp tác kinh tế khu vực, đồng thời tranh thủ viện trợ kỹ thuật từ bên ngoài. Các tổ chức kinh tế của Liên Hợp Quốc cho biết sự cải thiện của nền kinh tế châu Phi trong mấy năm trở lại đây là chưa chắc chắn, bởi còn chứa đựng yếu tố nhất thời, không đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Vì xuất phát điểm thấp, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật chậm nên kinh tế châu Phi thường bị thiệt hại do tác động tiêu cực của tự do hoá quá nhanh; hơn nữa trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, do không đủ sức cạnh tranh, họ lại càng bị thua thiệt và tụt hậu rất nhiều so với các khu vực khác.

Trong những năm đầu thập kỷ 80, cục diện tình hình thế giới có nhiều thay đổi, châu Phi không còn là khu vực tranh giành ảnh hưởng và tập hợp lực lượng của các nước lớn; vì vậy từ chỗ Liên Xô (cũ) và Mỹ viện trợ ồ ạt về quân sự, kinh tế, ủng hộ chính trị đối với các nước đồng minh, nay họ điều chỉnh chiến lược, giảm đối đầu, giảm cam kết và viện trợ, đồng thời hợp tác với nhau trong việc giải quyết các xung đột khu vực nhằm tiếp tục duy trì ảnh hưởng lợi ích của họ. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự đối đầu, tranh giành ảnh hưởng giữa Liên Xô (cũ) và Mỹ, khu vực châu Phi chủ yếu tập trung vào các điểm nóng như Ang-gô-la, Mô-dăm-bích, Na-mi-bi-a, E-ti-ô-pi-a. Trong khi Liên Xô coi trọng ảnh hưởng chính trị hơn lợi ích kinh tế, thì Mỹ chú trọng cả mục đích chính trị, kinh tế, quân sự. Các nước và các tổ chức có quan hệ truyền thống với châu Phi như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, I-ta-li-a và EU nói chung có nhiều lợi ích chính trị, quân sự, kinh tế ở châu Phi; họ có chung mục đích là phối hợp với Mỹ trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và CNXH tại khu vực vốn là thuộc địa cũ của họ, nhưng họ có mâu thuẫn, tranh giành lợi ích kinh tế với Mỹ.

Từ khi nguồn viện trợ, giúp đỡ từ bên ngoài bị cắt giảm, chính quyền Trung ương của nhiều nước châu Phi mất chỗ dựa cả về chính trị, kinh tế; mặt khác lại chưa kịp điều chỉnh chính sách nên không đủ khả năng điều hành, quản lý đất nước. Trong tình trạng khủng hoảng cả về kinh tế, chính trị, xã hội, những mâu thuẫn bộc tộc, bộ lạc và tôn giáo tranh giành quyền lực vốn tồn tại âm ỉ, nay bùng nổ dẫn đến các cuộc xung đột đẫm máu xẩy ra tại Xô-ma-li, Xu-đăng, Công-gô, Da-i-a, Ang-gô-la, Mô-dăm-bích, An-giê-ri, Li-bê-ri-a, Ru-an-đa, Bu-run-đi v.v...

Nhưng nhờ nỗ lực của cộng đồng quốc tế và bản thân các dân tộc châu Phi cũng mong muốn có hoà bình, ổn định để khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống và phát triển đất nước, từ cuối những năm 70, đầu 80, một số nước đã tìm cách giải quyết xung đột hao người tốn của bằng giải pháp hoà bình, trên cơ sở dung hoà, nhìn nhận lợi ích chính đáng của nhau. Năm 1984, Mô-dăm-bích đã ký hiệp định Nơ-kô-ma-ti với chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi, theo đó Mô-dăm-bích không giúp đỡ Đại hội Dân tộc Phi (ANC) và đổi lại, Nam Phi không giúp lực lượng đối lập RENAMO chống phá Mô-dăm-bích. Tháng 12/1988, dưới sự trung gian của Mỹ-Xô, các bên Ang-gô-la, Cu-ba và Nam Phi đã ký Hiệp định hoà bình về Tây Nam Phi, theo đó Nam Phi trao trả độc lập cho Na-mi-bi-a theo Nghị quyết 435 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Cu-ba rút quân khỏi Ang-gô-la. Hiệp định về hoà bình Tây Nam Phi đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết xung đột ở Nam Phi, Mô-dăm-bích, Ang-gô-la. Chính quyền Ang-gô-la, Mô-dăm-bích cũng như Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO), Đại hội dân tộc Phi (ANC) của Nam Phi đã tiến hành đối thoại, tìm giải pháp hoà bình, thực hiện hoà giải dân tộc, thúc đẩy tiến trình hoà bình, ổn định tại khu vực miền Nam châu Phi. Một điểm khá nổi bật trong thập kỷ 80 là phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc A-pác- thai phát triển mạnh mẽ ở Nam Phi, tập hợp nhiều tầng lớp nhân dân kể cả giới kinh doanh, người da trắng và được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước Tiền tuyến miền Nam châu Phi (Ang-gô-la, Mô-dăm-bích, Bốt-xoa-na, Tan-da-ni-a, Dăm-bi-a, Dim-ba-bu-ê).; Trước sức ép quốc tế (cấm vận vũ khí, trừng phạt kinh tế, cô lập về ngoại giao) và cuộc đấu tranh kiên cường và bền bỉ của nhân dân Nam Phi dưới sự lãnh đạo của Đại hội dân tộc Phi (ANC) và Đảng Cộng Sản Nam Phi, chế độ A-pác- thai nhận thấy là không thể tiếp tục cai trị như cũ được, nên tháng 8/1989, Tổng thống Nam Phi lúc đó là De Cleeck đã tiến hành cải cách dân chủ, từng bước xoá bỏ các đạo luật phân biệt chủng tộc, trả lại tự do cho các nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, trong đó có ông Nen-xơn Man-đê-la, lãnh tụ của ANC, từng bị chế độ A-pác- thai giam cầm suốt 27 năm trời và chấp nhận chuyển giao quyền lực dần dần cho người da đen chiếm đa số ở Nam Phi. Tiếp đó chính quyền thiểu số da trắng Nam Phi tiến hành đối thoại với tất cả các lực lượng chính trị nhằm tìm giải pháp hoà giải, hoà hợp dân tộc, tiến tới xây dựng một nước Nam Phi mới đa chủng tộc.

Trong những năm 90, nhiều cuộc xung đột đi vào giải pháp. Tháng 5/1991, với sự trung gian của Mỹ-Xô và Bồ Đào Nha, chính phủ Ang-gô-la và UNITA ký Hiệp định hoà bình về Ang-gô-la và tiến hành bầu cử đa Đảng vào tháng 9/1992 với thắng lợi áp đảo của Đảng cầm quyền MPLA. ở Mô-dăm-bích , Chính phủ và RENAMO cũng ký Hiệp định đình chiến và tổ chức bầu cử vào tháng 10/1994 với thắng lợi tuyệt đối của Đảng cầm quyền FRELIMO. Tại Nam Phi và Mô-dăm-bích, tình hình diễn ra khá suôn sẻ. Sau cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ lần đầu tiên được tổ chức ở Nam Phi vào cuối tháng 4/1994, chính quyền da trắng Nam Phi đã chấp nhận kết quả cuộc bầu cử và Đại hội Dân tộc Phi (ANC) giành thắng lợi áp đảo tại Quốc Hội và Nghị viện địa phương đã lên nắm quyền. Ông N.Man-đê-la được cử làm Tổng thống, Chính phủ đoàn kết thống nhất dân tộc ra đời, chấm dứt 300 năm của chế độ A-pác- thai tàn bạo, đồng thời mở ra kỷ nguyên phát triển mới của cộng đồng các dân tộc Nam Phi. Tại Mô-dăm-bích, lực lượng đối lập RENAMO đã công nhận thắng lợi của Đảng cầm quyền FRELIMO trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội. Riêng tình hình Ang-gô-la diễn ra phức tạp hơn vì phe đối lập UNITA không chấp nhận kết quả bầu cử, dùng lực lượng quân sự tấn công lấn chiếm, gây xung đột trở lại ở Ang-gô-la, nhưng cuối cùng do bị thất bại và trước sức ép quốc tế, họ buộc phải đồng ý chia xẻ quyền lực theo kết quả bầu cử, nên tháng 4/1997 đã thành lập Chính phủ liên hiệp ở Ang-gô-la có sự tham gia của 13 thành viên cao cấp của UNITA trong cương vị Bộ trưởng và Thứ trưởng. Mặc dù tình hình còn diễn biến phức tạp, nhưng triển vọng cho thấy Ang-gô-la sẽ tiếp tục tiến trình hoà bình, ổn định và hoà hợp, hoà giải dân tộc. Tại Ê-ti-ô-pi-a, tình hình lại diễn ra nhanh chóng hơn do lãnh đạo Ê-ti-ô-pi-a lúc đó không thức thời điều chỉnh chính sách nên đã bị lực lượng đối lập tấn công quân sự lật đổ vào tháng 5/1991, tiếp đó đã thành lập Chính phủ liên hiệp, tình hình đất nước đi dần vào ổn định. Riêng tình hình cục diện Xô-ma-li diễn ra bi thảm hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực. Sau khi chính quyền củaTổng thống Xi-át Ba-rê bị lực lượng nổi dậy là Đại hội Thống nhất Xô-ma-li (USC) do A-li Mát-đi Mô-hám-mét cầm đầu lật đổ (5/1991), Xô-ma-li rơi vào tình trạng hỗn loạn, nạn cướp bóc, chém giết lẫn nhau cùng nạn đói và dịch bệnh đã đẩy đất nước này đến bên bờ vực thẳm. Trước tình hình đó, tháng 12/1992, trên cơ sở Nghị quyết của Liên Hợp Quốc, Mỹ và một số nước phương Tây đã đưa quân đội vào nhằm duy trì trật tự và giúp phân phối hàng cứu trợ. Tuy nhiên từ tháng 3/1193 khi lực lượng của Liên Hợp Quốc do Mỹ cầm đầu tiến hành giải giáp vũ khí đối với các lực lượng tham chiến thì họ gặp phải sự phản kháng quyết liệt của các phe phái ở Xô-ma-li, nhiều binh sỹ Mỹ bị giết hại, vì vậy Mỹ đã rút quân khỏi Xô-ma-li tháng 3/1995, và từ đó đến nay Xô-ma-li vẫn chưa có chính quyền Trung ương, hoà bình ổn định chưa được vãn hồi. Như vậy, cho đến nay, hầu hết các cuộc xung đột mang tính chất ý thức hệ đối đầu Đông -Tây hoặc những điểm nóng khu vực đã và đang được giải quyết, làm cho tình hình khu vực trong những năm gần đây phát triển theo hướng hoà dịu hơn.

Trong khi các cuộc xung đột mang tính chất ý thức hệ đi vào giải quyết thì xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành quyền lực lại bùng nổ dữ dội ở một số nơi. Đặc biệt chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có chiều hướng phát triển, gây mất ổn định tại nhiều nước Bắc Phi, Trung Phi và Đông Phi. Vấn đề sắc tộc, tôn giáo đã có từ lâu ở châu Phi mà nguyên nhân sâu xa là tâm lý kỳ thị chủng tộc, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá giữa các bộ tộc, và do hậu quả của chính sách "chia để trị", sự áp đặt phân chia biên giới lãnh thổ của đế quốc, thực dân. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đã xẩy ra xung đột sắc tộc, tôn giáo, như việc Bi-a-fra đòi li khai khỏi Ni-giê-ri-a năm 1967, xung đột miền Nam Xu-đăng, Ang-gô-la, Nam Phi, Ê-ti-ô-pi-a v.v...Nhưng lúc đó do đấu tranh về ý thức hệ, đối đầu Đông - Tây, nên việc tập hợp lực luợng là nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh này, vì vậy những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo không nổi lên mạnh. Sau chiến tranh lạnh, việc tập hợp lực lượng trên không còn nữa, cho nên các mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo vốn tồn tại âm ỉ nay bùng lên ở nhiều nơi như Ru-an-đa, Bu-run-đi, Da-i-a, An-giê-ri, Ai-cập. Riêng ở Ru-an-đa đã có gần 1 triệu người bị giết hại do tàn sát giữa hai bộ tộc, Hu-tu và Tút-si trong những năm 1994-1996. Tại vùng Hồ lớn (Hồ Victoria- lớn nhất thế giới), vấn đề xung đột sắc tộc giữa người Tút-si và người Hu-tu ở Ru-an-đa và Bu-run-đi vốn có từ lâu, trải qua nhiều cuộc xung đột đẫm máu và hiện nay vẫn còn căng thẳng. Tại Da-i-a (cũ), cuộc nổi dậy của người Ban-gia-mu-len-gi gốc Tút-si dưới sự lãnh đạo của Lau-ren Ca-bi-la tuyên thệ nhậm chức Tổng thống và lấy lại tên nước Cộng hoà Dân chủ Công Gô (K), được dư luận rộng rãi ở châu Phi và thế giới hoan nghênh. Điều đáng chú ý là từ đầu những năm 90, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan phát triển mạnh ở khu vực Tây A' và Bắc Phi, gây bất ổn định một số nước như An-giê-ri, Ai-cập, Xu-đăng, Pa-le-stin.

Chúng ta đều biết sau chiến tranh lạnh, cục diện đối đầu Xô- Mỹ không còn nữa, thay vào đó là sự hợp tác Nga- Mỹ đã làm tan rã hoặc thay đổi tính chất các liên minh chính trị, quân sự, kinh tế trên thế giới. Sau chiến tranh lạnh, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới và đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vấn đề Na-mi-bi-a, Ang-gô-la, Nam Phi, ký Hiệp định hoà bình Ai-cập ? I-xra-en, v.v... Tại các tiểu khu vực Trung, Đông, Bắc và Tây Phi, vốn là thuộc địa có nhiều ảnh hưởng của các nước Tây Âu và từ lâu được coi là "khu vườn cấm" của Pháp và của Anh, Mỹ đã từng bước thâm nhập về chính trị, kinh tế thông qua việc giải quyết khủng hoảng ở An-giê-ri, Ru-an-đa, Ê-ti-ô-pi-a, Công-gô, Da-i-a, Li-băng v.v... Mỹ cố gắng duy trì sự ổn định tương đối, dùng chiêu bài "bảo vệ nhân quyền", "dân chủ", quyền can thiệp nhân đạo, "chống khủng bố" để thâm nhập, can thiệp nhằm duy trì lợi ích chính trị, kinh tế, tăng cường ảnh hưởng của Mỹ, cạnh tranh và lấn át Tây Âu, Nga, Nhật Bản. Từ năm 1991 đến nay, 3 Hội nghị cấp cao Mỹ- châu Phi đã được tổ chức nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Mỹ và các nước châu Phi trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, nông nghiệp, y tế. Mỹ đứng ra dàn xếp một số điểm nóng ở khu vực (Ang-gô-la, Nam Phi, Na-mi-bi-a, Vùng Hồ lớn). Đặc biệt Mỹ ủng hộ chính quyền mới tại Cộng hoà Dân chủ Công- Gô (Da-i-a cũ); tránh can thiệp quân sự, thông qua cơ chế Liên Hợp Quốc, dùng biện pháp "tìm sự nhất trí chung" để lôi kéo lực lượng đồng minh cùng giải quyết các xung đột. Mặc khác, Mỹ ra sức cổ vũ cải cách dân chủ, chế độ đa đảng, thúc ép cải cách kinh tế theo mô hình thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thâm nhập, đầu tư của Mỹ, từng bước gạt ảnh hưởng của Pháp và Tây Âu, lôi kéo các nước châu Phi theo quỹ đạo của Mỹ. Tháng 10/1996, Ngoại trưởng Mỹ W.Christopher thăm 5 nước châu Phi (Ma-li, Ê-ti-o-pi-a, Tan-da-li-a, Ang-gô-la, Nam Phi) nhằm tăng cường sự hiện diện, vai trò và khả năng hành động của Mỹ ở châu Phi. Tiếp đó, chuyến thăm 6 nước châu Phi (Ê-ti-o-pi-a, Cộng hoà Dân chủ Công- Gô (Da-i-a cũ), Ru-an-đa, Nam Phi, Ang-gô-la, Dim-ba-bu-ê) của Bà Ngoại trưởng Mỹ M.Albright vào tháng 12/1997 là nhằm triển khai thêm một bước mới chính sách châu Phi của chính quyền Mỹ. Từ ngày 22/3 đến ngày 2/4/1998, Tổng thống Mỹ B. Clin-tơn đã thăm 6 nước châu Phi: Ga-na, Ru-an-da, U-gan-da, Nam Phi, Bốt-xa-noa, Xê-nê-gan. Cùng đi với Bill Clinton có các bộ trưởng Thương mại, Lao động, Giao thông vận tải và hơn 700 nhà kinh doanh Mỹ. Trong chuyến đi thăm này, ông B.Clin-tơn đã chủ trì cuộc họp thượng đỉnh Trung- Đông Phi tại U-ga-đa, (25/3/1998), gồm Tổng thống các nước U-gan-đa, Cộng hoà Dân chủ Công- Gô, Ru-an-đa, Ê-ti-o-pi-a, Tan-da-li-a, kê-ni-a, và Ngoại Trưởng Dim-ba-bu-ê. Tại cuộc họp này, ông B.Clin-tơn nêu chính sách mới của Mỹ đối với châu Phi dựa trên quan hệ kinh tế, thương mại, dân chủ, nhân quyền và chống hoạ diệt chủng. Mỹ công bố viện trợ cho Ga-na 67 triệu USD, viện trợ cho Ru-an-đa 32 triệu USD, phát triển kinh tế và đền bù cho nạn nhân của nạn diệt chủng; lập Quỹ tài trợ kinh tế 650 triệu USD cho châu Phi, đặc biệt là cho các nước đang cải cách kinh tế triệt để theo đường lối của IMF; viện trợ 180 triệu USD cho phát triển giao thông, y tế. Ông B.Clin-tơn cũng tuyên bố sẽ phối hợp với G-7 xoá nợ cho châu Phi 1,7 tỷ USD, trước mắt xoá nợ 30 triệu USD; đưa ra Sáng kiến ứng phó khủng hoảng ở châu Phi (ACRI) nhằm huấn luyện cho từ 10.000 đến 20.000 lính châu Phi triển khai nhanh trong trường hợp xẩy ra khủng hoảng. Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ B.Clin-tơn diễn ra trong bối cảnh những năm gần đây, tình hình châu Phi đã có những bước phát triển mới về chính trị, kinh tế và nổi lên như một thị trường rộng lớn với hơn 700 triệu người, giầu có về tài nguyên, chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn, thu hút sự chú ý của các cường quốc kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tranh giành ảnh hưởng và lợi ích chính trị, kinh tế giữa Mỹ và Pháp, Anh nói riêng và các nước Tây Âu nói chung. Chuyến công du sang châu Phi của Tổng thống B.Clin-tơn nhằm mục đích mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại Mỹ- Châu Phi, tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Châu Phi, thực hiện bành trướng vào khu vực vốn là "vườn cấm" của các cường quốc như Pháp, Anh, mở đầu việc xoá bỏ khái niệm "khu vực ảnh hưởng" được hình thành từ sau chiến tranh thế giới II, thúc đẩy châu Phi phát triển theo chiều hướng toàn cầu hoá (nhằm giải quyết các vấn đè môi trường, bệnh tật, xung đột, nạn khủng bố, nạn diệt chủng...); triển khai chiến lược "tìm lại châu Phi" của Mỹ, theo đó Mỹ chuyển dần từ chính sách truyền thống là viện trợ trực tiếp sang coi trọng buôn bán, đầu tư. Mặc khác, Mỹ khuyến khích châu Phi phát triển theo hướng dân chủ, ổn định, tự do hoá về kinh tế v.v... nhằm tạo điều kiện cho giới thương mại, đầu tư Mỹ đi vào thị trường châu Phi mới mẻ và đầy tiềm năng này. Chuyến thăm của ông Clin-tơn còn nhằm mục đích cân bằng trong quan hệ của Mỹ với các châu lục khác, tranh giành ảnh hưởng với Pháp, Anh, Nga ở địa bàn châu Phi đồng thời tranh thủ cộng đồng người Mỹ gốc Phi (hiện chiếm 13% dân số Mỹ) trong việc tuyển cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ trong năm nay.

Đối với châu Phi, vấn đề cấp bách hiện nay là giải quyết các xung đột sắc tộc , tôn giáo, tranh giành quyền lực để có hoà bình, ổn định và phát triển kinh tế bằng chính nỗ lực của bản thân mình chứ không phải trông chờ can thiệp từ bên ngoài. Tình hình mới đòi hỏi các nước châu Phi phải điều chỉnh chính sách, thực hiện cải cách dân chủ, chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng, thi hành chính sách kinh tế thị trường, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đã có một số nước theo chế độ đa nguyên, đa đảng, kinh tế thị trường, nhưng cũng không ít nước châu Phi theo chế độ một đảng, kinh tế tập trung. Từ cuối thập kỷ 80, do tác động của cục diện tình hình thế giới, mô hình kinh tế theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp không còn cơ sở để tồn tại ở châu Phi, trong khi đó mô hình kinh tế thị trường theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, trào lưu tự do dân chủ xâm nhập mạnh vào khu vực; nhiều nước đã chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng, kinh tế thị trường như An-giê-ri, Ang-gô-la, Mô-dăm-bích, Bê-nanh, Ghi-nê, Cáp-ve, Công-gô v.v...

Việc chuyển sang chế độ đa đảng, kinh tế thị trường có mặt tích cực là làm cho đời sống chính trị dân chủ hơn, tránh được tình trạng độc tài, quân phiệt, gia đình trị đã từng xẩy ra tại nhiều nước châu Phi, đồng thời tạo điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của người dân, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế, xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí còn thấp, tính chất bộ tộc, bộ lạc, tôn giáo còn rất nặng nề, ý thức về tự do dân chủ còn chưa đầy đủ thì đa nguyên, đa đảng đã gây phức tạp ở nhiều nơi, một số nước lâm vào tình trạng nội bộ lục đục, tình hình đất nước bị xáo trộn, xung đột phe phái, tôn giáo, sắc tộc lại bùng lên như ở An-giê-ri, Công-gô (B), Da-i-a v.v... Điều đáng chú ý là một số nước duy trì được ổn định chính trị, khôi phục và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá như Bốt-xoa-na, Kê-ni-a, Dim-ba-bu-ê, Cốt-đi-voa, Ga-bông, trong khi chỉ có một đảng cầm quyền và rất ít đảng phái đối lập; vì vậy đa nguyên đa đảng không đồng nghĩa đem lại hoà bình ổn định và phát triển kinh tế, mà ngược lại, trong một số trường hợp, dân chủ, đa đảng trở thành một trong những yếu tố gây mất ổn định như đã xẩy ra ở An-giê-ri, Công-gô (B), Xô-ma-li v.v...

Nhìn chung, trong những năm gần đây, tuy còn nhiều khó khăn, tình hình châu Phi đã có những bước phát triển tiến bộ. Tăng trưởng kinh tế trung bình đạt khoảng 5% trong năm 1997, cải cách kinh tế theo hướng thị trường phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước (hiện khu vực này có 14 thị trường chứng khoán); Tổ chức Thống nhất châu Phi (OUA)cũng như các tổ chức kinh tế khu vực, tiểu khu vực tăng cường hoạt động, phối hợp giải quyết một số vấn đề nội bộ châu Phi không có sự can thiệp của các nước lớn hoặc của Liên Hiệp Quốc. Hợp tác kinh tế, trao đổi thông tin, liên kết khu vực v.v... đã từng bước mang lại hiệu quả thiết thực đối với các nước châu Phi. Triển vọng tình hình cho thấy các điểm nóng, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành quyền lực ngày càng bị thu hẹp cả về không gian, thời gian, xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển tiếp tục được củng cố. Các nước châu Phi sẽ nỗ lực xây dựng đất nước, lấy mục đích dân tộc làm mục tiêu cao nhất và xu hướng chung là dân chủ, đa đảng, kinh tế thị trường (hiện nay một nửa Chính phủ các nước châu Phi là do bầu cử và phát triển theo hướng chế độ dân chủ). Tuy nhiên, tình hình châu Phi còn khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn nội bộ, vị trí quốc tế có mức độ. Hiện nay các nước châu Phi đang rất cần vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý nhằm tiếp tục phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân./.

 

Câu trả lời:

Tham khảo
 

Thế nào là gia đình hạnh phúc? Khái niêm gia đình và hạnh phúc gia đình

“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, gia đình là yếu tố đã được người xưa xem trọng, là nền móng của xã hội. Trước khi có thể làm việc lớn, việc quan trọng trước hết chính là việc tu thân và gìn giữ gia đình hạnh phúc. Gía trị gia đình hạnh phúc là gì mà có thể được coi trọng đến vậy? Trước hết, hãy hiểu rõ khái niệm về gia đình.

Thế nào là hạnh phúc gia đình

Gia đình là nền móng của xã hội

Khái niệm gia đình

Theo Wikipedia định nghĩa, gia đình là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau. Có mối quan hệ tình cảm, hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và trải qua quá trình phát triển lâu dài và có những ảnh hưởng,tác động mạnh mẽ đến xã hội.

Gia đình ở nước ta thường gồm 2 hay nhiều thế hệ cùng chung sống dưới 1 mái nhà hoặc khu vực. Gia đình có thể gồm: ông bà, cha mẹ và con cháu,…. Nhưng cuộc sống hiện đại ngày nay, thường là các gia đình nhỏ gồm bố mẹ, con cái. Cả gia đình cùng chung sống dưới 1 mái nhà, quan tâm và chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cả vê tinh thần và vật chất.

Thế nào là gia đinh hạnh phúc khi ba mẹ bình đẳng

Gia đình hạnh phúc giúp con cái phát triển toàn diện hơn

Khái niệm hạnh phúc gia đình

Cũng giống như hạnh phúc,hạnh phúc gia đình cũng có rất nhiều định nghĩa. Và đối với mỗi người sẽ có những khái niệm khác nhau. Có những người, hạnh phúc gia đình là khi có điều kiện vật chất đầy đủ. Cũng có những người, hạnh phúc gia đình là khi các thành viên yêu thương và chia sẻ với nhau. Chúng ta có thể tổng hợp lại để đưa ra một định nghĩa chung nhất giải thích cho câu hỏi một gia đình hạnh phúc là như thế nào?

Thế nào là gia đình hạnh phúc và cách giữ gìn

Có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi thế nào là gia đình hạnh phúc

Hạnh phúc gia đình là gia đình có đầy đủ các điều kiện vật chất và tinh thần. Có thể khiến cho mỗi thành viên trong gia đình đều cảm thấy hạnh phúc. Với bất cứ định nghĩa nào thì điều quan trọng nhất là bạn cùng các thành viên trong gia đình đều cảm thấy thỏa mãn và hạnh phúc.

Những yếu tố tạo nên gia đình hạnh phúc

Để xây dựng và gìn giữ,vun đắp hạnh phúc gia đình là nhiệm vụ chung của mỗi thành viên trong gia đình. Mỗi thành viên trong gia đình cần tự ý thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân. Gia đình hạnh phúc cần những yếu tố nào? Hãy cùng chúng tôi đi tìm hiểu hạnh phúc trong cuộc sống.

Nền tảng gia đình hạnh phúc là gì

Có nhiêu yếu tố là nền tảng gia đình hạnh phúc

Quan tâm và chia sẻ mỗi ngày

Quan tâm và chia sẻ mỗi ngày giúp các thành viên kết nối, gắn kết lẫn nhau. Cuộc sống gia đình, có chia sẻ, dành thời gian quan tâm nhau mỗi ngày sẽ hòa thuận, hạnh phúc hơn. Trong một gia đình, vợ chồng hòa thuận ảnh hưởng rất lớn tới các mối quan hệ khác. Như mối quan hệ mẹ chồng- nàng dâu, giữa cha mẹ và con cái. 

Thế nào là gia đình hạnh phúc và cách giữ gìn

Các thành viên trong gia đình cần dành thời gian chia sẻ cùng nhau

Cuộc sống hiện đại ngày nay, thời gian cha mẹ dành để quan tâm và nói chuyện với con cái mỗi ngày trở nên hiếm hoi. Chính bởi lý do này, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên xa cách, lạnh nhạt. Nếu không thể sắp xếp thời gian bên nhau mỗi ngày, bạn có thể tụ tập các thành viên trong gia đình vào cuối tuần, có thể cùng nhau ăn bữa tối hoặc những chuyến picnic ngắn ngày cũng là một lựa chọn thú vị.

Các thành viên trong gia đình tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau

Trong một gia đình, ai cũng cần được tôn trọng, kể cả những đứa trẻ. Sự tôn trọng làm cho các thành viên trong gia đình thêm tin tưởng lẫn nhau. Việt Nam còn bị ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Trong nhiều gia đình, vai trò và tiếng nói của người phụ nữ không được tôn trọng. Rất dễ dẫn đến tình trạng người chồng không tôn trọng người vợ. Từ đó, con cái bị ảnh hưởng rất nhiều về nhận thức và cách cư xử sau này với gia đình riêng. Mặc dù trình độ văn hóa ngày càng được nâng cao nhưng vẫn còn nhen nhóm trong cuộc sống xung quanh chúng ta.

Gía trị hạnh phúc gia đình là gì

Các thành viên trong gia đình hãy tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau

Tôn trọng lẫn nhau còn thể hiện ở việc cha mẹ tôn trọng ý kiến và không kiểm soát con cái. Nhiều bậc phụ huynh luôn bắt buộc con cái phải làm theo những gì mình sắp xếp mà quên mất hỏi ý kiến con cái có mong muốn điều đó hay không. Sắp xếp sẵn tương lại cho con nhưng lại không hề tôn trọng ý kiến của con.

Làm tròn nghĩa vụ và bổn phận trong gia đình

Mỗi thành viên trong gia đình đều có các nghĩa vụ và bổn phận riêng. Con cháu trong nhà có nghĩa vụ học hành, ngoan ngoãn, tôn trọng người lớn. Còn người lớn cũng cần tôn trọng trẻ nhỏ, tôn trọng lẫn nhau.Vợ chồng cùng nhau cố gắng, xây dựng gia đình hạnh phúc,vun đắp cho cả nhà. Mỗi thành viên trong gia đình đều có những nghĩa vụ phải thực hiện khác nhau.

Nền tảng của gia đình hạnh phúc là gì

Là tròn bổn phận trong gia đình giúp gia đình hạnh phúc

Dù bạn đóng vai trò gì trong gia đình thì cũng đều phải đảm bảo bổn phận và nghĩa vụ của mình với gia đình ấy. Bởi nếu các thành viên không giữ đúng bổn phận của mình thì gia đình sẽ không còn gắn kết, không có sự tôn trọng lẫn nhau.
Du lịch cùng gia đình là một ý tưởng tuyệt vời để gắn kết các thành viên với nhau, tạo thêm nhiều niềm vui, kỷ niệm và hạnh phúc gia đình tăng thêm. Hãy đến MEDI Thiên Sơn để cả gia đình bạn cùng nhau tận hưởng những giây phút thư giãn, sống chậm và gắn kết nhau hơn cùng nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp với tất cả các thành viên gia đình bạn.
Liên hệ ngay hotline 0355 70 9988 / 0355 646699 để được những tư vấn viên tận tâm giúp bạn.

Câu trả lời:

Tham khảo :
 

Tôi là một người nông dân làng chợ Dầu. Mọi người thường gọi tôi là ông Hai Thu. Kháng chiến bùng nổ tôi muốn ở lại làng cùng anh em bộ đội và dân quân kháng chiến. Nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên tôi phải cùng gia đình đi tản cư. Ở nơi tản cư tôi rất nhớ làng và thường có hay khoe về làng mình. Hôm nào tôi cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Hôm ấy, vớ được anh dân quân đọc rất to, rõ ràng, rành mạch tôi nghe được bao nhiêu tin hay - toàn tin quân ta giết được địch, ruột gan tôi cứ múa hết cả lên. Đang trong tâm trạng náo nức thì tôi nghe được tin làng chợ Dầu của tôi theo Tây làm Việt gian. Lúc đó cổ họng tôi nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Tôi lặng ti tưởng như không thở được. Một lúc lâu tôi mới dặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, tôi hỏi lại về cái tin ấy thì người ta đã khẳng định một cách chắc chắn. Tôi vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng về nhà. Về đến nhà, tôi nằm vật ra giường nhìn lũ con tôi thấy tủi thân, nước mắt tôi cứ ràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Tôi ngờ ngợ chả nhẽ bọn ở làng lại đốn đến thế ư rồi tôi tự kiểm điểm trong óc thấy họ đều là những người có tinh thần yêu nước, yêu kháng chiến chẳng nhẽ lại đi làm cái điều nhục nhã ấy nhưng không có lửa làm sao có khói. Tôi cảm thấy tủi nhục, chiều hôm ấy vợ tôi về cũng có vẻ khác. Trong nhà có cái sự im lặng thật là khó chịu. Mãi đến khuya vợ tôi mới hỏi tôi về cái tin ấy. Tôi im lặng rồi gắt lên vậy là bà ấy im bặt. 3-4 ngày hôm sau tôi không dám bước chân ra ngoài chỉ ở trong gian nhà trật trội để nghe ngóng tin tức. Lúc nào tôi cũng nơm nớp lo sợ, hễ nghe đến chuyện ấy là tôi lại giật mình. Trong tôi giờ đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh nội tâm gay gắt khi mụ chủ nhà có ý đuổi gia đình tôi đi. Tôi lâm vài tình trạng bế tắc: về làng hay ở lại. Cuối cùng tôi đến quyết định: làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù. Trong tâm trạng đau đớn tủi hờn, tôi tâm sự với thằng con út. Sau khi tâm sự xong, nỗi khổ của tôi với đi phần nào. Rồi một hôm khoảng 3h chiều, có người đàn ông đến nhà tôi chơi. Ông ấy rủ tôi đi theo ông ấy đến sẩm tối tôi mới về. Lúc ấy tôi rất vui. Đến bực cửa tôi đã bô bô khoe rằng Tây nó đốt nhà tôi rồi, ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên cải chính, ông ấy cho biết cái tin làng tôi theo Tây làm Việt gian là sai sự mục đích. Cứ thế tôi lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm ấy tôi sang gian bác Thứ nói chuyện về làng của tôi

Đóng vai ông Hai để kể lại đoạn truyện miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc 2

Đó là một ngày nắng. Cũng cách đây mấy năm rồi. Và tôi thì cũng không còn nhớ rõ cho lắm.
Trưa ấy, trời nắng ghê lắm. Nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa. Nắng như muốn thiêu rụi cả con người. Có mấy tiếng gà trưa cất lên eo éo. Tiếng lũ ve thì ngân mãi không thôi, não lòng. Xong việc, tôi có cả một khoảng thời gian mà nằm nghĩ vẩn vơ. Và thế là tôi nhớ về cái làng Dầu của tôi, nhớ ghê gớm.

Tôi ngóng đứa con gái lớn từng lúc một. Mong nó về nhanh nhanh để trông nhà trông cửa, để tôi còn được làm cái việc mà tôi vẫn làm. Một lúc sau, nó về. Tôi dặn dò con vài câu rồi bước vội ra ngoài. Đường vắng hẳn người qua lại. Trời lồng lộng gió nhưng vẫn không đủ để thổi đi cái nắng nóng của mùa hè. Nắng thế này thì ***** chúng nó. Tôi nghĩ rồi nói lớn. Có người đi ngang qua, bỡ ngỡ hỏi lại:

- Chúng nó nào?

- Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi vị trí giờ bằng ngồi tù.

Nói rồi tôi bước thẳng. Cũng như thường lệ, tôi ghé vào trạm thông tin nghe ngóng tình hình chiến sự. Biết bao là tin hay. Ruột gan tôi cứ như múa cả lên. Vui quá! Nhưng dường như hạnh phúc của con người thật là bé nhỏ. Ngờ đâu cái vui vẻ ấy chỉ là một ngày lặng gió trước khi giông tố nổi lên. Bước ra khỏi phòng thông tin, tôi rẽ vào dặn vợ vài việc rồi theo lối huyện cũ mà đi. Tôi tạt qua quán nước ngồi. Ở đây, những tốp người tản cư dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố. Nghe một người đàn bà nói bọn Tây nó vào làng Chợ Dầu, nó khủng bố, tôi lo lắng, quay phắt lại lắp bắp hỏi:

- Nó… Nó vào làng Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?

- Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa!

Giọng người đàn bà the thé, đầy mùi căm giận. Nó như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt tôi. Tôi bàng hoàng. Cổ họng nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, tưởng như đến không thở được. Khóe mắt cứ giật giật, các dây thần kinh như tê liệt. Một lúc lâu sau, tôi mới rặn è è, nuốt cái gì vương vướng ở cổ, hỏi lại, giọng lạc hẳn đi:

- Liệu có thật không hở bác? Hay lại chỉ…

- Thì chúng tôi vừa ở dưới đấy lên đây mà lại…

Tôi chưa dứt lời thì người ta đã nói. Dứt khoát. Chắc như đinh đóng cột. Tôi đờ người. Hai tai ù ù. Chẳng còn nghe thấy gì cả. Giọng người kia như lẫn vào trong gió. Tôi trả tiền nước, lảo đảo đứng dậy. Chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng:

- Hà, nắng gớm, về nào…

Tôi nói với mình mà như chẳng nói với ai. Tôi tự trấn an mình. Lảng ra một chỗ rồi bước hẳn, không dám quay đầu lại nhìn. Tôi cúi gằm mặt xuống mà đi, như mình vừa làm điều gì đó tội lỗi lắm. Về đến nhà, tôi nằm vật ra giường. Tay chân như nhũn hẳn ra, không còn sức. Tôi thở dốc. Mấy đứa nhỏ len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.

Nhìn lũ con, chẳng hiểu sao nước mắt tôi cứ giàn ra. Mắt mờ đi, nhạt nhòa. Mấy đứa nhở… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Tôi nắm chặt hai tay, móng đâm vào da thịt, đau nhói. Tôi rít lên như một con thú bị thương, đau đớn đến tột cùng:

- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian ban nước để nhục nhã thế này.

Tôi bỗng ngừng lại, ngờ ngợ. Tôi nhớ lại từng người. Họ toàn những người có tinh thần cả mà. Họ quyết không chịu đi để ở lại giữ làng, định bụng một phen sống mái với lũ chúng nó. Có đời nào họ chịu nhục nhã mà đi làm cái điều kinh khủng ấy!... Nhưng không! Không có lử thì làm sao có khói? Ai người ta đi đặt điều vu oan cho mà làm gì? Chao ôi! Cực nhục chưa? Cả làng Việt gian! Rồi đây biết sống ra sao? Ai người ta chứa? Ai người ta buôn bán mấy?... Tôi cứ bần thần nghĩ ngợi. Mọi thứ rối tung lên, như tơ vò, một mớ bòng bong. Gỡ thế nào cũng không ra được. Thôi thì cắt đi cho nhẹ nợ. Bụng bảo dạ, tôi cố nhét cho sâu cái chuyện đó vào sâu trong bộ não. Nhưng dường như vợ tôi cũng biết chuyện đó rồi. Chiều về, bà ấy uể oải, cái mặt nặng như đeo chì. Mãi khuya, bà ấy mới dám lôi chuyện ấy ra. Vừa nói, hỏa khí trong tôi đã bùng lên. Thế là im bặt, nhẫn nhục.

Đêm xuống yên ắng đến lạ. Đêm đen như mực, như chỉ trực đợi tôi nhắm mắt là sẽ ôm trọn tâm hồn tôi. Tôi vẫn trằn trọc không sao ngủ được. Hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài. Chợt lặng hẳn đi, tôi nghe có tiếng léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ… Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực tôi đập thình thịch. Nín thở, ruột gan như sôi lên, tôi lắng tai nghe ra bên ngoài…

Từ ngày hôm ấy, tôi chỉ ru rú một góc nhà, đến cả nhà bác Thứ cũng không dám sang. Tủi hổ lắm! Tôi còn mặt mũi nào mà nhìn người ta nữa?... Ruột gan tôi lúc nào cũng như lửa đốt. Cứ một đám đông túm lại tôi cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa cũng nơm nớp lo sợ, thoáng nghe thấy mấy tiếng Tây, Việt gian… là lại chột dạ. Lủi thủi trong nhà, nin thin thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! Các cụ đã nói “Ghét của nào trời chao của ấy”. Đúng như nhũng gì tôi lo sợ, mụ chủ đã đến, ý tứ đuổi khéo chúng tôi. Phải rồi! Ai người ta dại mà đi chứa lũ bán nước cơ chứ? Tất cả đang quay lưng lại với tôi. Thật đáng sợ! Thật là tuyệt đường sống! Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết đâu người ta chứa gia đình tôi? Cứ nghĩ, nghĩ và nghĩ mãi. Những ý nghĩ đen tối, ghê rợn cứ theo đó mà len lỏi vào tâm chí tôi. Từng bước, từng bước một, chúng thống lĩnh suy nghĩ của tôi… Hay là quay về làng?...

Nước mắt tôi cứ giàn ra. Mặn chát. Về làng ư? Không… Không… Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Về làng đồng nghĩa với việc chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Không thể được! Làng thì yêu. Yêu thật! Nhưng làng theo Tây mất rồi. Làng đã phản bội lại ta thì phải thù.

Tôi bế thằng út, xoa đầu nó, hỏi khẽ:

- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?

- Là con thầy mấy lị con u.

- Thế nhà con ở đâu?

- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.

- Thế con có thích về làng mình không?

Thằng bé cúi mặt, vân vê gấu áo như suy nghĩ cái gì đó. Nó nép đầu vào ngục tôi, khẽ trả lời :

- Có.

Tiếng nó khẽ khàng. Như tiếng lòng của chính bản thân tôi. Sao tôi vẫn cứ yêu cái làng ấy đến thế? Tôi lại hỏi:

- Thế con ủng hộ ai?

- Con ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

Mắt thằng bé mở to hết cỡ. Đôi mắt long lanh ấy ánh lên một niềm vui bất tận. Thằng bé trả lời dứt khoát. Nước mắt tôi lại trào ra, ấm áp.

- Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ.

Tôi thủ thỉ với thằng bé. Tôi khắc sâu vào lòng thằng bé mà cũng như tự nhủ với lòng mình, tự minh oan cho chính mình. Cái lòng bố con tôi như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

Cứ như vậy cho đến ngày hôm ấy. Tôi nhận được tin cải chính. Như trút được gánh nặng trong lòng, tôi mua quà cho lũ trẻ. Rồi lật đật đi khoe với hàng xóm láng giềng. Phải! Phải! Phải cho mọi người cùng biết cái tin ấy chứ. Tay chân tôi cứ múa hết cả lên. Đi đến đâu tôi cũng hô thật to:

- Tây nó đốt làng tôi rồi. Nhà tôi bây giờ chỉ còn lại một đống tro đên sì. Ông chủ tịch làng tôi vừa lên cải chính,,, cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo giặc ấy mà. Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn sai sự mục đích cả!

Cái nhà cháy ấy là minh chứng cho việc làng tôi không theo giặc. Tôi hô hào như để trút bỏ những phiền muộn vừa qua. Đã thật! Ai cũng mừng, cũng vui cho tôi…

Tiếng mấy đứa con léo réo. Thằng út kéo tay tôi gọi lớn, kéo tôi ra khỏi hồi tưởng. Tôi nhìn quanh. Mắt ngân ngấn lệ. Tôi nhấc bổng thằng nhỏ, hôn nó cái chụt. Nó cười khúc khích, tiếng cười như tan vào gió, như mang niềm hạnh phúc của tôi bao trùm lên cả làng Dầu. Tôi gói ghém những hồi ức đó, nhét vào một nơi thật sâu rồi vững bước, thẳng về phía trước, thẳng về cái làng của tôi. Còn hồi ức kia, nó chỉ làm cho tình yêu làng của tôi thêm nồng đượm mà thôi… Tôi tin rằng, tương lai vẫn còn ở phía trước. Và tôi sẽ gieo hạt ở nơi đây để hạnh phúc nở hoa nơi chốn này.

Đóng vai ông Hai để kể lại đoạn truyện miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc mẫu 3

Tôi là ông Hai trong câu chuyện “Làng” tôi yêu cái làng Chợ Dầu của tôi – cái làng mà tôi đã sinh ra và lớn lên, cái làng mà tôi đã sinh ra và lớn lên, cái làng đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi từ thủa nào. Giờ đây xa làng ở nơi tản cư tôi nhớ làng da diết - nhớ những ngày tham gia kháng chiến, và có lẽ tình yêu làng càng được trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tôi nếu như không có một ngày…

Nghe theo chính sách của Đảng, gia đình tôi phải đi tản cư, phải xa ngôi làng thân yêu, xa quê tôi tích cực lao động vỡ vạt đất rậm ngoài suối để trồng thêm vài gốc sắn. Nằm giường tôi nghĩ về cái làng và nghĩ về những ngày cùng làm việc với anh em, ồ sao độ ấy vui thế, tôi thấy mình như trẻ ra và cảm thấy náo nức vô cùng, tôi lại muốn về làng, muốn được cùng anh em đào đường đắp u, xẻ hào, khuôn đá… tôi tự hỏi lòng mình không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc còn khướt lắm! Chao ôi! tôi nhớ làng nhớ cái làng quá.

Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt đất, có tiếng gà trưa cất lên. Gian nhà lịm đi, mờ mờ hơi đất, tôi nghĩ đến mụ chủ nhà, thảo nào cũng phải nghe những tiếng chửi con mắng cái của bà, lại kêu vại nước chóng cạn, cái bếp bừa bộn mà tôi nghe đến nỗi phát ngán. Tấm che cửa bỗng kêu lạch xạch, gian nhà sáng lên tôi nghĩ đứa con gái lớn bán hàng đã về nên tôi cất tiếng hỏi khi không thấy nó bước vào.

- Ở ngoài ấy làm gì mà lâu thế mày?

Không để con kịp trả lời tôi vội vơ cái nón dặn nó trông hai em rồi bảo nó trông nhà, đừng để mụ chủ lấy đồ của gia đình.

- Nó thì rút ruột ra, biết chửa?

Tôi bước ra ngoài, trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói lừ đừ. Đường vắng hẳn người qua lại, họ dạt cả vào những khoảng bóng cây - tránh nắng, một vài tiếng động nhẹ khẽ gợi lên, oi ả. Đi nghênh ngang giữa đường vắng, tôi mong nắng cho Tây nó chết.

- Nắng này bỏ mẹ chúng nó.

Theo thói quen, việc đầu tiên tôi vào phòng thông tin nghe đọc báo, tôi tuy biết mặt chữ nhưng chữ in khó đọc khiến tôi khổ tâm hết sức, tôi ghét thậm những anh cậy ta lắm chữ đọc báo lại cứ đọc thầm một mình, không đọc ra thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy. May sao hôm nay vớ được anh dân quân đọc rất to, dõng dạc, rành rọt từng chữ, tôi sung sướng khi nghe bao nhiêu là tin hay về tinh thần kháng chiến của dân ta. Nào là em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kì lên tháp Rùa, nào là một anh trung đội trưởng sau khi giết được bảy tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng, đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sống mọt tên quan hai bốt thao ngay giữa chợ “khiếp thật, tinh những người tài giỏi cả”. Lại còn bao nhiêu tin đột kích nữa, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng ống cũng vậy, hôm nay dàm khẩu, ngày mai dàm khẩu, tích tiểu thành đại làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm. Tai nghe mà ruột gan tôi cảm tưởng như đang múa cả lên, vui quá!

Tôi náo nức bước khỏi phòng thông tin, rẽ vào quán dặn vội mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ, tôi ngồi vào một cái quán nước, hút một điếu thuốc lào, uống một hụm chè tươi nóng, bao nhiêu ý thích chen chúc trong đầu tôi. Tiếng quạt, tiếng thở. tiếng trẻ con khóc cùng tiếng của cánh đi phá đường râm ran cả góc đường. Dưới chân đồi, những ruộng lúa xanh mượt uốn quanh co dưới trời nắng, lấp lánh như một khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dập dờn.

- Các ông, các bà ở đâu ta lên đây à?

- Thưa ông, chúng cháu ở Gia Lâm lên đây ạ, đi bốn năm mới lên đến đây, vất vả quá.

Tôi hỏi chuyện lúa má ở dưới xuôi rồi rít một hơi thuốc lào nữa gật gù cái đầu “Hừ, đánh nhau cứ đánh nhau, cày cấy cứ cày cấy, tản cư cứ tản cư… hay đáo để”.

- Này bác có biết mấy hôm nay súng bắn ở đâu mà nghe rát thế không?

Một người đàn bà cho con bú mé bên kia xen vào:

- Nó rút ở Bắc Ninh về qua Chợ Dầu, nó khủng bố ông ạ!

Tôi giật mình khi nghe tên Chợ Dầu, tôi lắp bắp hỏi:

- Nó… nó vào làng chợ Dầu hở Bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?

Người đàn bà ẵm con cong môi đỏng đảnh:

- Có giết được thằng nào đâu, cả làng chúng nó theo việt gian theo Tây còn giết gì nữa.

Tôi cảm thấy như cổ ghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân, lặng người đi, tôi tưởng như không thể thở được, một lúc lâu mới hết bàng hoàng không tin vào những gì đã nghe tôi hỏi lại.

- Liệu có thật không hả bác? hay là chỉ tại…

- Thì chúng tôi vừa ở dưới đó lên mà, Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi cơ ông ạ! Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô. Thằng Chánh Bệu thì khuôn cả từ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xa cam-nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại.

Tôi đau đớn đến uất nghẹn, tôi trả tiền nước, đứng dậy chèm chẹp miệng, cố cười nói to.

- Hà, nắng gớm, về nào…

Tôi cố đánh lảng đi và đứng dậy đi thẳng, tôi vẫn nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú.

- Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm còn được người ta thương, cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát.

Tôi nghe mà cứ tưởng như nói mình vậy, chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi, tôi chợt nghĩ đến mụ chủ nhà, rồi mụ chủ có để yên cho gia đình lão già này hay không? Về đến nhà tôi nằm vật ra giường, nhìn lũ con tủi thân nước mắt tôi cứ giàn ra, chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúm hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…

Tôi đau đớn đến tột độ nắm chặt hai tay mà rít lên:

- Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồn mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này? Rồi tôi ngẫm nghĩ lại, chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được, đối với tôi họ đều là người có tinh thần cả mà, họ đã ở lại làng quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy, mà thằng Chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi, không có lửa làm sao có khói. Chao ôi! cực nhục chưa cả làng Việt gian, rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa? Ai người ta buôn bán mấy, suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt Gian bán nước, lại còn bao nhiêu người làng tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cơ sự này chưa?

Chiều hôm ấy vợ tôi về cũng có vẻ khác, chắc lại vì cái chuyện làng Việt gian rồi, trong nhà sự im lặng thật ngột ngạt và khó chịu. Mãi khuya, vợ tôi mới xuống bếp tính tiền hàng:

- Này, thầy nó ạ!

Nằm rũ trên giường tôi vờ như không nghe, tôi bực dọc, tức tối người lặng hẳn đi chân tay nhũn ra, có tiếng léo nhéo ở gian nhà trên tiếng mụ chủ… tôi nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài.

- Thầy nó ngủ rồi ư? Dậy tôi bảo cái này đã.

Tôi bật ngóc đầu dậy giơ tay trỏ lên nhà tôi rít hai hàm răng lại nghiến:

- Im, khổ lắm, nó mà nghe thấy lại không ra cái gì bây giờ, hai chữ Việt gian cứ lảng vảng trong đầu tôi khiến tôi vô cùng sợ hãi tủi hổ, tôi không dám bước ra ngoài, hễ thoáng qua những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông,… là tôi lủi ra góc nhà, nín thít. Thôi, lại chuyện ấy rồi, tôi lại nghĩ đến mụ chủ nhà. Chắc là mụ vui lắm, thích lắm, mỗi lần đi qua cửa mụ lấy chuyện bóng gió mà nói như khía vào thịt tôi. Nhẫn nhịn vì có chỗ cho gia đình chui ra chui vào là tốt lắm rồi, nhưng mụ có để yên cho tôi đâu, mụ có ý muốn đuổi nhà tôi đi bằng những lời nói ngọt xớt, vợ tôi phải nhẫn nhịn xin bà ta cho ở đây bài ba hôm nữa…

Từ hôm đó, tôi ngồi lặng trên một góc giường, bao nhiêu ý nghĩ đen tối ghê rợn nối tiếp trong đầu óc tôi, biết đem nhau đi đâu bây giờ, ở đâu họ cũng đuổi người Chợ Dầu đi. Trời ơi! Cái câu nói của người đàn bà hôm trước cứ dội lên trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ:

- Hay là quay về làng.

- Không về làm gì cái làng ấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ, về làng tức là chịu làm nô lệ cho thằng Tây. Không thể được, làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.

Hàng ngày không biết tâm sự giãi bày lòng mình với ai, tôi lại vu vơ nói với hỏi chuyện thằng con út:

- Út à, thầy hỏi con nhé, con là con ai?

- Là con thầy mấy lị con u.

- Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?

Thằng bé nép đầu vào tôi khe khẽ:

- Có

- À. thầy hỏi con nhé! thế con ủng hộ ai?

Thằng bé giơ tay mạnh bạo và rành rọt.

- Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

Nước mắt tôi giàn ra, ròng ròng trên hai má, tôi nói thủ thỉ.

– Ừ, đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ Con nhỉ!

Tôi nói để ngỏ lòng mình, càng nghĩ tôi lại càng đau, anh em đồng chí biết cho bố con tôi, cái lòng của bố con tôi là như thế đấy có bao giờ dám đơn sai, mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy trong lòng tôi cũng vơi đi được đôi phần.

Nhưng thật bất ngờ, cái tin cải chính được đưa lên, hôm ấy tôi cùng người làng Chợ Dầu đi về làng, vui mừng không sao tả siết, tôi hô hào với bọn trẻ:

- Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia cho.

Tôi chạy sang bác Thứ khoe khắp nơi:

- Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ! đốt nhẵn, ông chủ tịch làng tôi vừa lên đây cải chính ông ấy cho biết cải chính là cái làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà, láo! láo hết, toàn là sai mục đích cả.

Tưởng mụ chủ nhà sẽ sa sầm xuống mà tức tối nhưng mụ lại tỏ ra vui sướng, từ hôm ấy tôi lại càng hãnh diện về làng, lại sang bác Thứ trò chuyện về làng và lại tích cực lao động.

Chuyện là vậy đó mọi người ạ! nói ra tôi lại thấy lòng mình bồi hồi, nao nức. Cho đến tận bây giờ tôi cũng không thể quên từng việc, từng lời nói về làng tôi. Qua đây, tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng: hãy yêu làng của mình - nơi chôn rau cắt rốn của ta, nơi đã nuôi ta khôn lớn, trưởng thành giống như tôi yêu làng Chợ Dầu của tôi vậy, hãy đặt niềm tin vào làng thân yêu bạn sẽ luôn cảm thấy cuộc sống thật hạnh phúc - giống như tôi đã đặt niềm tin vào làng Chợ Dầu và tôi đã trở thành người hạnh phúc.