Đạm – dưỡng chất thiết yếu
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu về lượng hấp thụ với tầm quan trọng cao nhất, chiếm 2-3% tổng vật chất khô của cây trồng. Mỗi năm, cả nước sử dụng trên 2 triệu tấn đạm urê, đây là loại đạm dễ sử dụng vì không làm thay đổi tính axit, bazơ của đất; riêng vùng Nam bộ là hơn 1 triệu tấn.
Tuy nhiên đây lại là loại phân bón dễ thất thoát, đặc biệt qua con đường bay hơi khiến lượng đạm cây trồng hấp thụ được chỉ từ 30 – 40 % lượng cung cấp. Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả, tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường là quan tâm hàng đầu của tất cả bà con nông dân nói chung và người trồng tiêu nói riêng.
Khi đạm vào trong cây sẽ được tổng hợp để giúp tạo thành các loại protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần cơ bản của cơ thể sống. Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng.
Ngoài ra, đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổi nước và cacbonic thành đường bột, nuôi sống toàn thể giới động vật.
Phân đạm là thức ăn chính của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển; lá có kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất cây trồng.
Bón thiếu phân đạm, cây sẽ sinh trường còi cọc, lá già toàn thân biến vàng, toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây sẽ bị trì trệ do thiếu chất hình thành tế bào, các quá trình sinh hóa cũng bị ngưng trệ.
Bón thừa phân đạm, cây trồng sẽ lớn nhanh, đẻ nhánh nhiều, dễ bị đổ ngã, chậm ra hoa và khó đậu quả. Mặt khác, thừa đạm làm tăng mức độ lây nhiễm sâu bệnh do cây thiếu sức đề kháng, lá mềm, màu sắc xanh đậm của lá thu hút các loại côn trùng và nấm bệnh gây hại.
Hiện nay, nhà nông học khuyến cáo chỉ sử dụng phân đạm với liều lượng vừa đủ, tránh hiện tượng dư thừa, làm một số nông dân hiểu nhầm đây là chất độc khi bón quá mức cần thiết. Cần phải khẳng định phân đạm không phải là chất độc, các bất lợi xảy ra khi bón thừa đạm đều do cây “quá bổ”. Tiêu dài lóng, tay mềm, dễ bị gãy tay khi gặp gió lớn.
Thất thoát đạm và cách hạn chế
Đạm urê dùng để bón cho cây (NH2)2CO thường là chất rắn màu trắng, dễ tan trong nước, chứa khoảng 46% N. Khi gặp nước, urê sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH4), là loại đạm cây dễ hấp thu. Tuy nhiên, khi cây không hấp thụ kịp, amôn nhanh chóng bị enzym phân giải thành amôniac (NH3) và bốc hơi có mùi khai. Bên cạnh đó, đạm urê còn bị phản nitrat hóa, tạo thành oxit nitơ và bay hơi. Đây là 2 con đường bay hơi gây thất thoát chủ yếu khi sử dụng đạm.
Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thất thoát như nhiệt độ, độ ẩm, độ pH của đất… Vào lúc thời tiết nắng nóng, lượng đạm bị thất thoát trong một ngày có thể lên tới 50 %.
Để tránh thất thoát khi bón urê cho tiêu, nên áp dụng cách bón lấp. Tuy nhiên, cách này rất mất thời gian, công sức và trong thực tế cách này rất ít được áp dụng. Các biện pháp như bọc phân đạm trong các chất khác cũng có một số hiệu quả nhưng chưa cao.
Chia lượng phân đạm cần bón ra làm nhiều lần để bón là cách sử dụng hiệu quả nhất. Theo khuyến cáo của nhà nông học, bón đạm nói riêng và phân khoáng nói chung cho cây tiêu nên chia làm nhiều lần, không chỉ giúp cây thường xuyên có phân để hấp thu mà còn khỏi bị “sốc” vì tiêu là loại cây khá mẫn cảm. Ngoài ra, có thể bón đạm trực tiếp cho tiêu bằng cách :
-Hòa tan phân đạm trong nước với tỷ lệ 5 phần ngàn để tưới cho tiêu qua hệ thống tưới tiết kiệm.
-Hòa tan phân đạm với tỷ lệ 1,5 – 2 phần trăm để phun trực tiếp lên lá cây vào sáng sớm hay chiều mát.
Khái niệm về phân đạm: Phân đạm là từ chung, dùng để chỉ các loại phân có chứa nitơ. Căn cứ vào gốc chứa đạm mà phân thành 2 loại, loại chứa gốc amôn gọi là phân amôn và loại chứa gốc nitrat gọi là phân nitrat.
Các loại phân amôn:
- Amôn sunfat (NH4)2SO4 – còn gọi là phân SA: có chứa 20-21%N và 23-24%S. Phân amôn sufat có thể làm chua đất, khắc phục bằng cách kết hợp với các loại phân lân kiềm như phân lân nung chảy hoặc bột phôtphorit. Là loại phân tốt vì có cả N và S, hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Có tác dụng nhanh đối với các loại cây trồng, cảnh giác khi bón cho cây con vì dễ bị cháy lá.
- Amôn clorua (NH4Cl): chứa 24-25%N và 75%Cl-. Amôn clorua không được ưa chuộng vì: gây chua và để lại ion Cl- tồn dư trong đất. Cl- tích lũy nhiều có thể gây mặn và ảnh hưởng xấu đến hệ sinh vật trong đất. Một số cây hạn chế sử dụng amôn clorua như: thuốc lá, thuốc lào, hành, tỏi, khoai tây, cà chua, cỏ chăn nuôi, cà rốt, đậu rau …
- Diamôn phôphat (DAP): là loại phân phức chứa 2 yếu tố nitơ và phôtpho với tỷ lệ 18-20% N và 46-50%P2O5.
- Urê [CO(NH2)2]: chứa 44-48% N ở dạng amin (NH2). Urê có thể dùng cho các loại cây trồng và các loại đất, thích hợp đất chua phèn. Urê có thể trộn được với phân lân Tômat hay Tômat sơlăc, phân lân nung chảy nhưng không nên giữ quá lâu.
- Amôn bicacbônat (NH4HCO3): là loại phân kết tinh màu trắng có chứa 17,5%N, hòa tan trong nước dễ dàng và tạo phản ứng kiềm tạm thời, có thể khắc phục độ chua của đất nhưng khi gốc amôn được cây hút thì phản ứng trở lại trung tính.
- Canxi xianamit (CaCN2): có 2 loại trắng và xám đen. Chứa 20-21% CN2 và 20-28% CaO. Canxi xianamit có tác dụng khử chua mạnh. Canxi xianamit có thể dùng bón thúc nếu được sử dụng trộn với đất 5-7 ngày trước lúc bón.
Các loại phân nitrat
- Natri nitrat (NaNO3): Phân đạm được sử dụng đầu tiên là natri nitrat, chứa 16% N và 25% Na2O và một ít vi lượng Bo. Nó thường được sử dụng làm phân phức có chứa Na và Bo có lợi cho cây lấy đường như mía, củ cải đường và các loại cây lấy củ như cà rốt, khoai tây, khoai lang …
- Canxi nitrat [Ca(NO3)2]: chứa 15-15,5%N và 25%CaO. Canxi nitrat là loại phân kiềm mạnh nên rất có lợi cho vùng đất chua. Một tỷ lệ canxi nitrat trong phân phức sẽ là nguồn cung cấp canxi thích hợp cho cây trồng đất chua.
- Canxi-magiê nitrat: 13-15%N và 8%MgO dễ tan. Loại phân này thường được sử dụng ở các loại đất thiếu magiê.
- Amôn nitrat: (NH4NO3): Chứa 33-35%N ở cả 2 dạng NH4+ và NO3-. Dạng tinh thể, màu vàng xám, dễ chảy nước. Là phân sinh lý chua, thích hợp với cây trồng cạn như bắp, thuốc lá, bông, mía…
- Phân kali nitrat (KNO3): Chứa 13%N và 44%K2O. Vì kali trong phân cao hơn N nên thường dùng như một loại phân kali.
Vai trò của phân đạm đối với cây trồng
Đạm là một nguyên tố quan trọng bật nhất trong các nguyên tố cấu tạo nên sự sống. Đạm có trong thành phần tất cả các protein đơn giản và phức tạp, mà nó là thành phần chính của màng tế bào thực vật, tham gia vào thành phần của axit Nucleic (tức ADN và ARN), có vai trò cực kỳ quan trọng trong trao đổi vật chất của các cơ quan thực vật. Đạm còn có trong thành phần của diệp lục tố, mà thiếu nó cây xanh không có khả năng quang hợp, có trong các hợp chất Alcaloid, các phecmen và trong nhiều vật chất quan trong khác của tế bào thực vật
Thiếu đạm cây có biểu hiện sinh trưởng còi cọc, lá toàn thân biến vàng. Thiếu đạm có nghĩa là thiếu vật chất cơ bản để hình thành tế bào nên khả năng sinh trưởng bị đình trệ, hàng loạt các quá trình sinh lý sinh hóa trong cây cũng bị ngưng trệ, diệp lục ít được hình thành nên làm lá chuyển vàng. Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt. Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm vô cơ gây độc cho cây. Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng. Các hợp chất cacbon phải huy động nhiều cho việc giải độc đạm nên không hình thành được các chất “xơ” nên làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch ….
Bón đạm quá mức thường gây ảnh hưởng xấu sau đây: cành lá phát triển mạnh nhưng ra hoa quả ít và muộn. Rễ phát triển ít mà nông. Phần trên mặt đất, cành lá rậm rạp, không cân đối với phần dưới mặt đất, cây dễ bị đổ... Cây lá rậm rạp, xanh non, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng chiếu trực tiếp nên sâu bệnh phát triển nhiều hơn. Cành, thân, lá non mềm sâu bệnh dễ xâm nhập.
Những điểm cần lưu ý khi sử dụng phân đạm
- Phân bốc nhanh, xanh lá, đẻ nhiều
- Cần thiết cho cây trồng lấy lá
- Đối với những cây có nhu cầu đạm nhiều, khi bón cần chia ra làm nhiều lần bón nhất là đối với chân đất chua, độ mùn trong đất kém, dung tích hấp thụ thấp… Cần bón đúng đặc tính và nhu cầu của cây, đất đai. Đối với các loại cây trồng cạn như: ngô, mía, bông v.v.. bón đạm nitrat là thích hợp, nhưng đối với lúa nước nên bón đạm clorua hoặc SA. Cây họ đậu thời gian đầu chưa có nốt sần vần bón phân đạm (20-30kg N/ha) tốt nhất là phân đạm trộn với phân chuồng hoai.
- Phần lớn phân đạm và phân chua sinh lý, cần chú ý phối hợp với phân kiềm, tro hoặc vôi kẻo chua đất và hiệu lực kém.
- Không bón khi trời sắp mưa, giông sẽ thất thoát do tràn bờ, rửa trôi. Nếu không tưới được, nắng hạn kéo dài cũng không bón đạm.
- Bảo quản phân đạm chú ý không đổ ra nền, không tựa vào tường, phải để vào bao giấy tốt hoặc bao nilon, kê cao …
Phân đạm là từ chung, dùng để chỉ các loại phân có chứa nitơ. Căn cứ vào gốc chứa đạm mà phân thành 2 loại, loại chứa gốc amôn gọi là phân amôn và loại chứa gốc nitrat gọi là phân nitrat.
Các loại phân amôn:
- Amôn sunfat (NH4)2SO4 – còn gọi là phân SA: có chứa 20-21%N và 23-24%S. Phân amôn sufat có thể làm chua đất, khắc phục bằng cách kết hợp với các loại phân lân kiềm như phân lân nung chảy hoặc bột phôtphorit. Là loại phân tốt vì có cả N và S, hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Có tác dụng nhanh đối với các loại cây trồng, cảnh giác khi bón cho cây con vì dễ bị cháy lá.
- Amôn clorua (NH4Cl): chứa 24-25%N và 75%Cl-. Amôn clorua không được ưa chuộng vì: gây chua và để lại ion Cl- tồn dư trong đất. Cl- tích lũy nhiều có thể gây mặn và ảnh hưởng xấu đến hệ sinh vật trong đất. Một số cây hạn chế sử dụng amôn clorua như: thuốc lá, thuốc lào, hành, tỏi, khoai tây, cà chua, cỏ chăn nuôi, cà rốt, đậu rau …
- Diamôn phôphat (DAP): là loại phân phức chứa 2 yếu tố nitơ và phôtpho với tỷ lệ 18-20% N và 46-50%P2O5.
- Urê [CO(NH2)2]: chứa 44-48% N ở dạng amin (NH2). Urê có thể dùng cho các loại cây trồng và các loại đất, thích hợp đất chua phèn. Urê có thể trộn được với phân lân Tômat hay Tômat sơlăc, phân lân nung chảy nhưng không nên giữ quá lâu.
- Amôn bicacbônat (NH4HCO3): là loại phân kết tinh màu trắng có chứa 17,5%N, hòa tan trong nước dễ dàng và tạo phản ứng kiềm tạm thời, có thể khắc phục độ chua của đất nhưng khi gốc amôn được cây hút thì phản ứng trở lại trung tính.
- Canxi xianamit (CaCN2): có 2 loại trắng và xám đen. Chứa 20-21% CN2 và 20-28% CaO. Canxi xianamit có tác dụng khử chua mạnh. Canxi xianamit có thể dùng bón thúc nếu được sử dụng trộn với đất 5-7 ngày trước lúc bón.
Các loại phân nitrat
- Natri nitrat (NaNO3): Phân đạm được sử dụng đầu tiên là natri nitrat, chứa 16% N và 25% Na2O và một ít vi lượng Bo. Nó thường được sử dụng làm phân phức có chứa Na và Bo có lợi cho cây lấy đường như mía, củ cải đường và các loại cây lấy củ như cà rốt, khoai tây, khoai lang …
- Canxi nitrat [Ca(NO3)2]: chứa 15-15,5%N và 25%CaO. Canxi nitrat là loại phân kiềm mạnh nên rất có lợi cho vùng đất chua. Một tỷ lệ canxi nitrat trong phân phức sẽ là nguồn cung cấp canxi thích hợp cho cây trồng đất chua.
- Canxi-magiê nitrat: 13-15%N và 8%MgO dễ tan. Loại phân này thường được sử dụng ở các loại đất thiếu magiê.
- Amôn nitrat: (NH4NO3): Chứa 33-35%N ở cả 2 dạng NH4+ và NO3-. Dạng tinh thể, màu vàng xám, dễ chảy nước. Là phân sinh lý chua, thích hợp với cây trồng cạn như bắp, thuốc lá, bông, mía…
- Phân kali nitrat (KNO3): Chứa 13%N và 44%K2O. Vì kali trong phân cao hơn N nên thường dùng như một loại phân kali.
Tham khảo thôi nha