HOC24
Lớp học
Môn học
Chủ đề / Chương
Bài học
Những tiếng "bình" mang nghĩa là yên ổn là: Bình ổn, bình yên, bình lặng.
- Thiên địa: trời đất, thế giới.
+ Thiên: trời
+ Địa: đất
- Giang sơn: sông núi và dùng để chỉ đất đai thuộc chủ quyền một nước.
+ Giang: sông
+ Sơn: núi
- Huynh đệ: anh em trai
+ Huynh: anh
+ Đệ: em
- Quốc gia: một lãnh thổ có chủ quyền, trong đó những con người sống trên lãnh thổ đó gắn bó với nhau.
+ Quốc: nước.
+ Gia: nhà
- Cường nhược: Mạnh và yếu ( cường thịnh và suy nhược ).
+ Cường: mạnh
+ Nhược: Yếu
- Tiến thoái: Tiến lùi.
+ Tiến: tiến lên
+ Thoái: Lùi xuống
- Sinh tử: sống chết.
+ Sinh: sống
+ Tử: Chết
- Tồn vong: sự tồn tại và tiêu diệt.
+ Tồn: tồn tại.
+ Vong: tiêu diệt
- Thâm căn cố đế: điều đã ăn sâu vào không thể thay đổi được.
+ Thâm: sâu
+ Căn: nền tảng nguồn gốc vấn đề.
+ Cố: bền
+ Đế: cuống hoa
- Kim chi ngọc diệp: con cái nhà quyền quí trong xã hội phong kiến.
+ Kim: Vàng
+ Chi: cành
+ Ngọc diệp: Lá ngọc
- Sơn cước: Chân núi.
+ Cước: chân
Đoạn thơ trên là sự cảm nhận tinh tế của tác giả trước những dấu hiệu của mùa thu về. Qua câu thơ "Bỗng nhận ra hương ổi" ta thấy hương ổi nồng nàn ngọt ngào được làn gió thu đưa đến là dấu hiệu mùa thu đầu tiên được nhà thơ Hữu Thỉnh lựa chọn cảm nhận. Từ “bỗng” thể hiện sự ngạc nhiên, bất ngờ đánh động mọi giác quan để con người nhận ra sự chuyển mình của trời đất. Hương ổi phả vào trong gió se mang đến cảm giác làn hương ổi không bị tan ra loãng đi mà như được sánh lại ở độ đậm nhất. Ấn tượng tiếp theo về mùa thu của tác giả là làn sương chùng chình được giăng mắc trước ngõ "Sương chùng chình qua ngõ". Từ láy "chùng chình" diễn tả làn sương mỏng nhẹ chầm chậm chuyển động trong không gian như cố ý chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp của phút giao mùa. Từ những dấu hiệu ấy mà tác giả đưa ra kết luận "Hình như thu đã về": Tình thái từ "hình như" chỉ cái không chắc chắn kết hợp với phó từ "đã" tâm trạng của tác giả có một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng không thật rõ ràng. Dường như nhà thơ quá yêu mùa thu, quá khao khát, mong chờ mùa thu nên khi thu đến, nhà thơ cũng không dám tin là thu đã về. Qua khổ thơ trên ta thấy dược bức tranh phút giao mùa lúc sang thu thật thơ mộng và đồng thời ta thấy tình yêu sâu sắc với mùa thu và tình yêu thiên nhiên của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Phương châm về chất vì Đản nói đúng sự thật những gì thằng bé quan sát, chứng kiến với Trương Sinh.
Biện pháp nhân hóa đá "ngồi" dưới bến "trông nhau".
Tác dụng:
- Tăng tính biểu hình biểu đạt gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.
- Khắc họa bức tranh thiên nhiên sống động, đầy sức sống.
- Khả năng quan sát tinh tế của tác giả với thiên nhiên
- Trường từ vựng mùa trong năm: thu, xuân.
- Trường từ vựng chỉ thiên nhiên: thủy, sơn, hoa, liễu.
Ví dụ:
- Trong bốn mùa tôi thích mùa xuân nhất.
- Những đóa hoa trong vườn đang nở rộ.
Từ ghép: tài sắc, thu thủy, xuân sơn.
Từ láy: sắc sảo, mặn mà.
Thành ngữ "Nghiêng nước nghiêng thành"
Nội dung chính của đoạn thơ: Miêu tả vẻ đẹp tuyệt sắc giai nhân của Thúy Kiều. Nàng không chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn cả tài năng xuất chúng.
Vẻ đẹp của các vùng quê là: Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
- Tăng tính biểu hình biểu đạt gây ấn tượng với người đọc.
- Miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên sau mưa.
- Trí tưởng tượng đầy thú vị của tác giả kết nối giữa hành động giữa con người và thiên nhiên.
a. Việc sử dụng các câu hỏi trong đoạn trích trên để miêu tả tâm trạng bối rối và phân vân của cô bé bán diêm. Cô bé muốn được sưởi ấm giữa cái rét buốt của đêm giao thừa nhưng vẫn có phần ngần ngại.
b. Các từ thuộc trường từ vựng màu sắc: xanh lam, trắng, hồng.
Tác dụng: đặc tả ánh sáng phát ra từ que diêm cô bé đốt. Dường như những màu sắc ấy cũng thắp lên chút hi vọng cho cô bé tội nghiệp.