Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Thanh Hóa , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 2299
Điểm GP 860
Điểm SP 3231

Người theo dõi (118)

Huy Jenify
Ken Handsome
ngọc hân

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Vì sao hình thành các tổ chức liên kết khu vực? Lợi ích khi Việt Nam gia nhập ASEAN

- Nguyên nhân: Do sự phát triển không đều và sức ép cạnh tranh trong các khu vực trên thế giới, nên các quốc gia có những nét tương đồng về văn hóa, xã hội, địa lí hoặc có chung mục tiêu, lợi ích… đã liên kết lại với nhau.

Lợi ích khi Việt Nam gia nhập ASEAN

Về mặt chính trị-an ninh, gia nhập ASEAN giúp Việt Nam củng cố môi trường hòa bình, ổn định của khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng nhờ gia tăng đối thoại, tăng cường hợp tác giữa các nước trong khu vực nhằm ứng phó với những thách thức chung. ASEAN cũng tạo môi trường và không khí thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy quan hệ láng giềng với các nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề trong quan hệ song phương do lịch sử để lại hoặc mới phát sinh. Là thành viên ASEAN, Việt Nam cũng góp phần xây dựng và thúc đẩy các cơ chế, tiến trình hợp tác khu vực phát triển đúng hướng, phù hợp với lợi ích quốc gia. Trong quan hệ đối ngoại, ASEAN giúp tăng cường vị thế và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế, hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có nhiều nước lớn như: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga.

Về kinh tế, ASEAN là nơi Việt Nam hội nhập đầu tiên, là thị trường xuất nhập khẩu và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên của Việt Nam. Hội nhập ASEAN, Việt Nam đã hài hòa hóa hệ thống tiêu chuẩn, quy trình thủ tục với các nước trong khu vực. Nhờ tập dượt hội nhập thành công ở khu vực, Việt Nam đã tự tin hơn khi hội nhập sâu rộng với thế giới. Cũng nhờ ASEAN, Việt Nam đã thúc đẩy được quan hệ kinh tế với nhiều đối tác quan trọng, thông qua ASEAN đàm phán thiết lập khu vực mậu dịch tự do, thúc đẩy thương mại, đầu tư với các đối tác này. ASEAN cũng giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển, kết nối tốt hơn với các nền kinh tế phát triển trong và ngoài khu vực.

Về văn hóa-xã hội, ASEAN tạo ra rất nhiều khuôn khổ, cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau như: Giáo dục, y tế, phụ nữ, thanh niên, trẻ em, môi trường, văn hóa, thông tin, phát triển nông thôn, khoa học và công nghệ, lao động, với nhiều chương trình, dự án hợp tác đem lại lợi ích thiết thực cho Việt Nam.

Một lợi ích nữa mà hội nhập ASEAN đem lại là động lực thúc đẩy cải cách trong nước, phát triển nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ trong công tác đối ngoại, nhất là cán bộ đa phương. Nhờ đó Việt Nam đã tạo dựng được nền tảng vững chắc cho các bước hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.

Câu trả lời:

Phân biệt thời điểm (và loại phân cần bón ) bón lót và bón thúc

1. Bón phân lót là gì? tại sao phải bón phân lót.

Bón lót là bón phân vào đất trước khi gieo trồng đối với cây hàng năm.

Còn đối với cây lâu năm, bón lót bao gồm cả việc bón phân trước khi trồng và bón phân vào giai đoạn cây ngừng sinh trưởng trong năm, bón phân phục hồi cây sau khi thu hoạch.

Bón lót thường được tiến hành trước khi cày bừa làm đất, hoặc trước khi bừa lần cuối trước khi gieo cấy

Đối với cây trồng cạn, bón lót được tiến hành theo hàng, theo hốc

Ví dụ: Đối với cây đậu tương (đậu nành), cây lạc (đậu phộng), rau ...

Trong một số trường hợp, dùng phân bón xử lý hạt giống trước khi gieo cũng được coi là bón lót.

Đối với các loại phân bón mà chất dinh dưỡng chủ yếu nằm ở trạng thái khó tiêu như phân hữu cơ, phân lân. Các loại phân này cần một thời gian nhất định cây trồng mới có thể sử dụng được. Sử dụng các loại phân đó để bón lót có tác dụng nâng cao hiệu quả của phân bón, nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên việc bón lót không chỉ dùng các loại phân chậm phân giải, mà cần thiết phải kết hợp với một lượng phân dễ hoà tan ở mức độ phù hợp.

2. Nên bón lót loại phân gì? Lượng bón lót là bao nhiêu?

Lượng phân dùng để bón lót phụ thuộc vào loại phân bón, tính chất của đất đai, mùa vụ trong năm và loại cây trồng. Thường phân hữu cơ, phân lân được dùng với lượng lớn cho bón lót, trong khi đó phân đạm, phân kali chỉ bón lót một phần

Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu mùn thì có thể bón lót với lượng lớn hơn, trong khi đó đất có thành phần cơ giới nhẹ nghèo mùn nên bón lót ít hơn nhằm hạn chế hiện tượng mất dinh dưỡng do quá trình rửa trôi

Ví dụ: Vụ xuân và vụ đông ở các tỉnh miền Bắc nước ta bón lót nhiều hơn so với vụ hè và hè thu.

Các loại cây trồng ngắn ngày cần tập trung bón lót nhằm tạo điều kiện cho cây có đủ thời gian hút dinh dưỡng.

Bón lót sử dụng các loại phân cần thiết có một thời gian nhất định để chất dinh dưỡng chuyển hoá thành dạng dễ tiêu cây trồng mới sử dụng được như phân chuồng, phân xanh, phân rác, phân lân. Tuy nhiên bón lót vẫn sử dụng một phần phân dễ tan như phân đạm, phân kali.