Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Vĩnh Long , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 10
Số lượng câu trả lời 277
Điểm GP 8
Điểm SP 130

Người theo dõi (13)

Minz Ank
$Mr.VôDanh$
lengocanh
WANNA ONE
gadgahudh

Đang theo dõi (9)

$Mr.VôDanh$
Mai Hà Trang
Ngô Thanh Sang
Lê Hà Phương

Câu trả lời:

1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ" của Mĩ ở miền Nam
Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt", Mĩ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ - được tiến hành bằng lực lượng quân đội Mĩ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn - lúc cao nhất (vào năm 1969) lên gần 1.5 triệu quân.
Dựa vào ưu thế quân sự, với quân số đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, Mĩ vừa mới vào miền Nam đã cho quân mở ngay cuộc hành quân "tìm diệt" vào căn cứ của quân giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi). Tiếp đó, Mĩ mở liền hai cuộc phản công chiến lược mùa khô: đông - xuân 1965 - 1966 và 1966 -1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân "tìm diệt" và "bình định".
2. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ
Nhân dân ta vẫn giành được thắng lợi bằng sức mạnh của cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương cùng với ý chí “quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược”. Mở đầu là thắng lợi ở Vạn Tường (Quảng Ngãi).
Mờ sáng 18 - 8 -1965, Mĩ huy động 9 000 quân, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến, mở cuộc hành quân vào thôn Vạn Tường.
Sau một ngày chiến đấu, một trung đoàn chủ lực của ta cùng với quân du kích và nhân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 900 địch, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, hạ 13 máy bay.

Vạn Tường đã mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam.

Sau trận Vạn Tường, khả năng chiến thắng Mĩ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ" của quân dân ta tiếp tục được chứng minh trong hai mùa khô.
Bước vào mùa khô thứ nhất (đông - xuân 1965 - 1966), với 720 000 quân (trong đó có 220 000 quân Mĩ), địch mở đợt phản công với 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn nhằm vào hai hướng chiến lược chính ở Đông Nam Bộ và Khu V, với mục tiêu đánh bại chủ lực quân giải phóng.
Bước vào mùa khô thứ hai (đông - xuân 1966 - 1967), với lực lượng được tăng lên hơn 980 000 quân (riêng quân Mĩ và đồng minh chiếm hơn 440 000), Mĩ mở đợt phản công với ba cuộc hành quân lớn “tìm diệt” và "bình định”, lớn nhất là 
cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh)nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta. Kết quả sau hai mùa khô, trên toàn miền Nam, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 240 000 tên địch, bắn rơi và phá hủy hơn 2700 máy bay, phá hủy hơn 2 200 xe tăng và xe bọc thép, hơn 3 400 ô tô.

Ở hầu khắp các vùng nông thôn, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, quần chúng đã đứng lên đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng “ấp chiến lược”. Trong hầu khắp các thành thị, giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động khác, học sinh, sinh viên, Phật tử, binh sĩ Sài Gòn... đấu tranh đòi Mĩ rút về nước, đòi tự do dân chủ. Vùng giải phóng được mở rộng, uy túi của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được nâng cao trên trường quốc tế.

Đến cuối năm 1967, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã có cơ quan thường trực ở các nước xã hội chủ nghĩa và ở một số nước khác. Cương lĩnh của Mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực lên tiếng ủng hộ.

Câu trả lời:

1. Thuận lợi

- Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ, hưởng được không khí độc lập tự do nên họ càng quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do.

- Đảng được tôi luyện và trưởng thành qua các phong trào cách mạng và ngày càng trưởng thành trong lãnh đạo cách mạng.

- Phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao ở nhiều nước, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang hình thành.

Đó là những thuận lợi hết sức cơ bản có tác dụng cổ vũ, động viên nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền, bảo vệ độc lập dân tộc.

2. Khó khăn

Vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình thế vô cùng hiểm nghèo.

a. Kinh tế: Nước ta vốn là nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, sản xuất bị đình trệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Thêm vào đó là thiên tai hạn hán, lũ lụt thường xuyên đe dọa.

- Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 vẫn còn nghiêm trọng làm cho 2 triệu người chết đói.

b. Tài chính: Ngân quỹ Nhà nước khô cạn, chỉ còn chưa tới 1 triệu bạc rách, thêm vào đó bọn Tưởng Giới Thạch tung ra trên thị trường Đông Dương đồng “Quan kim”, “Quốc tệ” mất giá trị làm cho tài chính của ta rối loạn.


c. Văn hóa giáo dục:

- Sau Cách mạng tháng Tám 95% dân số nước ta bị mù chữ do chính sách ngu dân của đế quốc và phong kiến.

- Di sản văn hóa của thực dân để lại nặng nề, đó là các tệ nạn xã hội: rượu chè, cờ bạc, nghiện hút khá phổ biến.

d. Thù trong giặc ngoài:

* Thù trong: Bọn phản động trong nước âm mưu ngóc đầu dậy chống phá cách mạng để khôi phục lại ngai vàng đã mất của chúng.

* Giặc ngoài:

- Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân Tường với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp phát xít Nhật, nhưng thực chất là cướp nước ta, chúng đã mang theo bọn Việt quốc, Việt cách để âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền phản cách mạng.

- Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam thực dân Anh cùng với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật nhưng thực dân Anh đã hà hơi tiếp sức cho Pháp quay lại xâm lược nước ta.

Như vậy, sau Cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối phó với những khó khăn hết sức to lớn: nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm...

Những khó khăn ấy đang đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng đang đứng trước tình thế: “ngàn cân treo sợi tóc”.

Câu trả lời:

Trong bài "Đồng Chí" của Chính Hữu , ông đã thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó, keo sơn của những người lính có chung cảnh ngộ, lí tưởng cách mạng.

" Đêm nay rừng hoang sương muối"

Tác giả miêu tả tình cảnh chiến đấu của người lính trong thời chống Pháp với những hình ảnh cô đúc, ngắn gọn, quen thuộc tạo nên sự gợi hình gợi cảm cho bài thơ.Cảnh vật đêm chiến đấu cực kì lãng mạng làm cho câu thơ mang sắc thái vui vẻ, lạc quan chiến đấu.

" Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới"

Hình ảnh những anh lính đồng cam cộng khổ thể hiện tình đồng chí sát cánh bên nhau sẵn sàng chiến đấu tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh.Tinh thần bất khuất anh dũng đã trở thành dũng khí để các anh" chờ giặc" chớ không phải tránh giặc

" đầu súng trăng treo"

Đây là hình ảnh lãng mạng nhất trong bài , chúng mang nhiều lớp ý nghĩa ."Đầu súng" là biểu tượng của chiến tranh,"trăng treo" là biểu tượng của hoà bình. Với hình ảnh trên Chính Hữu đẫ thể hiện khát vọng hoà bình và chắc chắn cách mạng chúng ta sẽ đạt được thắng lợi.Không nhưng thế " Đầu sứng" còn thể là biểu tượng của người chiến sĩ với nhiệm vụ trực tiếp đánh giặc. "Trăng treo" là hình ảnh của người thi sĩ ,tuy không ra tiền tuyến như những anh bộ đội nhưng thi sĩ lại có thể dùng ngòi bút đánh giặc hay cụ thể hơn là cố động khích lệ tinh thần cho người người chiến sĩ