Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Quảng Nam , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 55
Số lượng câu trả lời 1430
Điểm GP 107
Điểm SP 893

Người theo dõi (145)

Mai Nguyễn
Vũ Kiều
Trần Diệp Nhi

Đang theo dõi (20)


Câu trả lời:

Trong những ngày Tết đến xuân về náo nức trên mọi nẻo đường, người yêu thơ lại khẽ lắng mình trong một nhịp thơ giản dị đầy nhân văn của nhà thơ Vũ Đình Liên: bài thơ "Ông đồ".

Bài thơ ra đời khi ông đồ đã trở thành cái di tích của một thời tàn. Nho học đã bị thất sủng, người ta đua nhau chạy theo thời đại với chữ Pháp chữ Tây.

Hai đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay.

Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ các thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đó là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội như có lần Tản Đà đã làm. Ngày tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thú chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ trên cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc. Lớp người mới lớn không có liên hệ gì để mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu...

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kể đón người đưa, Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi, Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ "đắt khách" nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa rơi trên mặt giấy, nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng ỉến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi. Cái lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ rồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này tới đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.

Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã nhìn thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông đã bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc, về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.

(bn tham khao nha ) chúc hc tốt

Câu trả lời:

Sinh con ra trong bao nhiêu khó nhọc, mẹ ru con, yêu con tha thiết”. Những ca từ trong bài hát “Mẹ yêu” như nhắc nhở chúng ta về hình bóng người mẹ hiền không quản mưa nắng dãi dầu để lo lắng cho con từng miếng ăn, giấc ngủ. Có lẽ trong mỗi con người, hình ảnh người mẹ chính là hình ảnh không bao giờ có thể nhạt phai.Sinh tôi ra từ năm mẹ 30 tuổi, đến nay, người phụ nữ ngoài 50 ấy vẫn tần tảo sớm hôm, đều đặn mỗi ngày trước khi gà gáy, bươn chải tìm kế sinh nhai, gánh vác cả giả đình. Có lẽ vì phải vất vả như thế nên nhìn mẹ có phần khác hơn so với mẹ của những bạn học cùng lớp. Tóc mẹ không phải là màu đen tuyền mà lốm đốm vài sợi bạc nơi chân tóc, da mẹ không trắng mịn mà hơi ngăm đen với vẻ mặn mòi, mẹ cũng không phải là người có thân hình thon thả mà đầy đặn với vẻ mạnh mẽ đủ để bảo vệ các con. Mái tóc xoăn dài được bới cao càng làm rõ khuôn mặt trái xoan rạng rỡ của mẹ dù xuất hiện vài vết đồi mồi và dấu chân chim nơi khóe mắt. Mẹ tôi hay đùa bảo trước đây mẹ là hoa khôi của vùng Tân Quới, Vĩnh Long nhưng từ khi có gia đình, mẹ trở nên già nua thế này, “lỗi đó là tại mấy đứa”. Mẹ là một người rất giản dị, mỗi ngày ra chợ bán, mẹ chỉ khoác chiếc áo bà ba bên ngoài, đội chiếc nón lá cũ cùng chiếc giỏ xách bằng vải bố vàng nhạt. Chỉ cần vậy là đã đủ sức bươn chải trước nắng gió ngoài kia. Còn nhớ có lần mẹ đội xề chôm chôm ở bến Ninh Kiều, thuở ấy người ta có chủ trương dọn dẹp vỉa hè, đưa tất cả vào chợ họp cách đó không xa, nhưng mẹ không có tiền để đăng kí sạp, cũng không tranh giành được một chỗ bán hàng trong chợ, nên đành đội xề lặn lội ra ngoài. Mỗi lần thấy chú công an từ xa, mẹ tất tả gom hàng rồi nắm tay tôi mà “chạy”. Có hôm chạy không kịp, mẹ giằng co cùng chú công an, khóc nức nở xin lại xề trái cây vì đó là miếng cơm duy nhất của cả gia đình. Đồ bị tịch thu, mẹ dắt tôi về trong thất thỉu và mệt mỏi, phần vì tay chân trầy trụa, phần vì ngày hôm ấy, các con phải ăn mì gói thay cơm. Vậy mà sáng hôm sau, mẹ cũng lại tất tả từ ba giờ, tiếp tục chặng đường kiếm miếng cơm cho bọn trẻ ở nhà.Nhà tôi không giàu có, nhưng mẹ luôn dành những thứ tốt đẹp nhất cho bọn tôi. Có lúc là trái ổi, trái xoài, dù chỉ là hàng “dạt”, có lúc là những ly sương sáo nước cốt dừa béo ngậy mà mẹ vừa đổi bằng vài ký trái cây. Tuổi thơ của tôi lớn lên bằng những thứ quà giản dị nhưng lại đầy ắp tình cảm như thế. Không thể nào kể hết được những nỗi niềm hy sinh mà mẹ dành cho bọn tôi! Một mình mẹ, với xề trái cây nhỏ, nuôi hai chị tôi vào đại học, nuôi anh tôi vào cấp ba còn tôi vẫn ngày ngày đến lớp với quần áo mới tinh, thơm tho mùi nước xả vải. Hiếm khi nào mẹ đi chơi với các cô trong xóm nhưng mọi người quý mẹ vô cùng. Có gì ngon người ta cũng mang qua bảo gửi cho mẹ, có áo quần gì còn mới người ta không mặc nữa người ta cũng mang đến hỏi “Chị Út có xài không?”. Có lẽ họ thấy mẹ tôi hiền lành, cam chịu và vất vả để nuôi con nên mới thương và quý đến thế. Có lần mẹ sắm một chiếc áo mới, chiếc áo màu đỏ đô rất hợp với làn da trắng của tôi. Tôi rất thích và nói với mẹ rằng “Con mặc chiếc áo này là phải đi với dì Năm mới xứng hé mẹ”. Dì Năm là em của mẹ, dì Năm có cách cư xử nhã nhặn và vẻ bề ngoài sang trọng chứ không lam lũ như mẹ của tôi. Mẹ gật đầu bảo “Ừ! Áo này con mặc đẹp lắm”. Mẹ nói vậy nhưng tôi thoáng thấy mẹ buồn, chợt giật mình và thấy chẳng ra gì khi nói ra những lời như thế. Từ hôm ấy, tôi không bao dám làm điều gì tương tự khiến mẹ phải buồn lòng. Mẹ! Có nghĩa là bắt đầu Cho sự sống, tình yêu, hạnh phúc Có lẽ những câu thơ trên chính là định nghĩa chính xác nhất về mẹ – tiếng gọi khi ta vừa mới bập bẹ nhưng đến lúc trưởng thành sẽ cũng chẳng hiểu được sự bao dung của tiếng gọi thân thương ấy. Chỉ biết rằng mình phải luôn yêu thương, luôn dành những điều tốt đẹp cho người phụ nữ đẹp nhất cuộc đời này. Bởi cổ tích của cuộc đời chúng ta đều bắt đầu từ Mẹ.