Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Phú Thọ , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 18
Số lượng câu trả lời 110
Điểm GP 3
Điểm SP 52

Người theo dõi (16)

Đang theo dõi (7)

Le Quynh Nga
Vương Hạ Mĩ
Lộ Mạn Mạn
Trang Nguyen

Câu trả lời:

Soạn bài: Con Rồng cháu Tiên

I. Về thể loại

Truyền thuyết

- Là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ.

- Thường có yếu tố tưởng tượng, kì ảo.

- Thể hiện quan điểm, thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.

II. Tóm tắt

Xưa, ở miền đất Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi Rồng, tên là Lạc Long Quân. Trong một lần lên cạn giúp dân diệt trừ yêu quái, Lạc Long Quân đã gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ vốn thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Sau đó Âu Cơ có mang và đẻ ra cái bọc một trăm trứng; nở ra một trăm người con. Vì Lạc Long Quân không quen sống trên cạn nên hai người đã chia nhau mỗi người mang năm mươi người con, người lên rừng, kẻ xuống biển. Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, xưng là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Khi vua cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, từ đó về sau cứ cha truyền con nối đến mười tám đời, đều lấy hiệu là Hùng Vương.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên có nhiều chi tiết thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ:

- Cả hai đều thuộc dòng dõi các thần

+ Lạc Long Quân là con trai thần Long Nữ (thường ở dưới nước)

+ Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông (ở trên núi).

- Lạc Long Quân có sức khoẻ vô địch, có nhiều phép lạ, thường giúp dân diệt trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi

- Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần.

Câu 2:

Về việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có nhiều điều kì lạ: Một vị thần sống dưới nước kết duyên cùng một người thuộc dòng họ Thần Nông ở trên núi cao

- Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra trăm con, đàn con "không cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi, sức khoẻ như thần" => chi tiết hoang đường kỳ ảo.

- Cuộc chia tay đầy ân tình, cảm động, 50 người theo mẹ lên chốn non cao, 50 người theo cha xuống biển => sự phát triển của cộng đồng dân tộc để mở mang đất nước.

Như vậy, người Việt Nam là con Rồng cháu Tiên. Nguồn gốc này rất cao quý và đáng tự hào.

Câu 3:

Chi tiết tưởng tượng, kì ảo là những chi tiết không có thật. Đó là những chi tiết có tính chất hoang đường, kì lạ. Các chi tiết này khiến cho các nhân vật và sự kiện lịch sử mang màu sắc thần thoại. Nó được gọi là truyền thuyết.

Trong truyện Con Rồng cháu Tiên, những chi tiết này có vai trò tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ của các nhân vật (Lạc Long Quân và Âu Cơ), đồng thời chứng tỏ người Việt có nguồn gốc khác thường, rất cao quý và đẹp đẽ. Qua đó, nhân dân ta muốn nhắn nhủ người đời sau hãy luôn luôn tự hào, tôn kính tổ tiên mình. Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo trong truyện vừa phản ánh một trình độ hiểu biết nhất định ở giai đoạn lịch sử sơ khai, vừa là kết quả của óc tưởng tượng phi thường của người Lạc Việt.

Câu 4:

Truyện Con Rồng cháu Tiên tuy có những yếu tố tưởng tượng, kì ảo nhưng về cơ bản đã giải thích, suy tôn nguồn gốc của đất nước ta. Đồng thời truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thống nhất từ xa xưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi, trong Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, có chung dòng dõi "con Rồng cháu Tiên", vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Câu trả lời:

VỊNH HAI BÀ TRƯNG

Giúp dân dẹp loạn trả thù mình,

Chị rủ cùng em kết nghĩa binh.

Tô Ðịnh bay hồn vang một trận,

Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.

Mới dày bảo vị gia ơn trọng,

Ðã đội hoa quan xuống phúc lành.

Còn nước còn non còn miếu mạo,

Nữ trung đệ nhất đấng tài danh.

NHỊ TRƯNG MIẾU

Lục thập dư thành tận vọng phong,

Thùy tri nữ tử diệc anh hùng.

Đương thì khởi đặc bình Tô Định,

Mã Viện cơ phi “Quắc thước ông”

Đặng Minh Bích

Dịch thơ:

Hơn sáu mươi thành hết sức trông,

Ai hay nhi nữ cũng anh hùng.

Há riêng Tô Định tan thần xác,

Mã Viện chi còn “Quắc thước ông” !

Nhóm Lê Quí Đôn dịch.

Bà Trưng quê ở Châu Phong

Giận phường tham bạo, thù chồng chẳng quên

Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân

Ngàn tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã đến gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta

Ba thu gánh vác sơn hà

Một là báo phục, hai là bá vương.

Uy thanh động đến Bắc phương

Hán sai Mã Viện lên đường tiến công

Hồ Tây đua sức vẫy vùng

Nữ nhi mà chống anh hùng được nao

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo

Chị em thất thế cùng liều với sông

Phục Ba mới dựng cột đồng

Ải quan truyền đến biên công cõi ngoài

Trưng Vương vắng mặt còn ai

Đi về thay đổi mặc người Hán quan.

Đại Nam quốc sử diễn ca.

VỊNH HAI BÀ TRƯNG

Cột đồng chìm chín suối,

Bia đá rọi nghìn thu.

Vì nước thương người khuất,

Xúm tay chỉ đứa thù.

Non sông tươi nét mặt,

Hào kiệt hổ chòm râu.

Ai biết, ai không biết,

Hồ Tây nước thẳm sâu.

Đặng Văn Bá.

*

VỊNH HAI BÀ TRƯNG

Trăm năm trong cõi người ta,

Khí thiêng chung đúc một nhà lạ thay.

Kìa xem sử Việt xưa nay,

Thoa quần mà cũng có ngày đế vương.

*

Giai nhân nan tái đắc (1)

Trong doanh hoàn dễ được mấy Trưng Vương.

Hội phong trần sinh ở xứ Đông Dương,

Vững gan sắt lấy cương thường làm trọng.

Quốc sĩ phu thù thiên bất cộng

Tỷ trinh muội liệt thế vô vong (2)

Đem phấn son thay lấy việc anh hùng,

Lưỡi thư kiếm chẳng dong phường khấu tặc.

Đuổi Tô Định thẳng về đất Bắc,

Rửa tanh hôi mà gánh các lấy non sông,

Làm gương cho khách quần hồng.

Nguyễn Ngô Đoan

Chú thích:

(1) Ý nói người đẹp khó mà có lại được.

(2) Nhục nước thù chồng thề không đội trời chung với giặc

Chị tiết trinh, em oanh liệt đời không bao giờ quên.

*

VỊNH BÀ TRƯNG

Phải đánh vì chưng giặc đến nhà

Xếp nghề kim chỉ giở can qua

Đền xong nghĩa cả, em cùng chị

Trả được thù chung, nước lẫn nhà

Một thuở Mê Linh, nền kiếm kích

Ngàn năm Lãng Bạc dấu hương hoa

Anh hùng sá kể câu thành bại

Quắc thước ra gì tướng Phục Ba.

Khuyết Danh

*

VỊNH TRƯNG VƯƠNG

Tượng đá trời Nam dãi tuyết sương

Ngàn năm công đức nhớ Trưng Vương

Tham tàn trách bởi quân gây biến

Oanh liệt khen cho gái dị thường

Liều với non sông đôi má phấn

Giành nhau nòi giống một da vàng

Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy

Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương.

Thái Xuyên

*

VỊNH BÀ TRƯNG

Nỡ để non sông tỏa khói mù

Ra tay vùng vẫy với thằng Tô

Chị cùng em, quyết nâng bầu huyết

Nước với nhà, chung trả mối thù

Sáu chục thành trì chia Hán Việt

Ba năm đường bệ cũng Thương Chu

Năm canh thức dậy hồn oanh liệt

Sóng dỡn Tây Hồ, bóng nguyệt thu.

*

Qua chốn Mê Linh viếng cựu đô

Giang san còn nhận dấu thơm tho

Ngọn cờ phất, sạch thù ông Sách

Lưỡi kiếm đưa, tan mật chú Tô

Há để bùn than nhơ vũ trụ

Quyết đem son phấn nhuộm dư đồ

Mày râu ướm hỏi quân luồn cúi

Khoát nước Hồ Tây rửa thẹn thò.

Song Ngư Nguyễn Tất Minh.

*

ĐỀ VỊNH TRƯNG VƯƠNG

Ngựa Gióng đã lên không

Rừng Thanh voi chửa lồng (1)

Nẩy chồi hoa nụ Lạc

Mở mặt nước non Hồng

Trăng rọi gương hồ Bạc

Mây tan dấu cột đồng

Nén hương lòng cố quốc

Xin nhắn một lời chung.

Hoàng Thúc Hội

(1):Chỉ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.

*

TƯỞNG NHỚ TRƯNG VƯƠNG

Tưởng nhớ ai xưa mãi đến giờ

Con dòng Lạc tướng luyện binh cơ

Thành Mê tuốt kiếm bêu đầu giặc

Sông Hát dồn quân hướng sắc cờ

Giao Chỉ ngọn triều lên cuồn cuộn

Phong Châu bóng liễu rủ lơ thơ

Đất Long Biên cũ, người đâu cũ

Cây cỏ bâng khuâng những đợi chờ ! . . .

Ngân Giang

*

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,

Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm,

Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi.

Ngang dọc non sông đường kiếm mã,

Huy hoàng cung điện nếp cân đai.

Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,

Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.

*

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ,

Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai.

Hồn người chín suối cười an ủi,

Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.

Lạc tướng quên đâu lời huyết hận,

Non Hồng quét sạch bụi trần ai.

Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,

Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.

*

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,

Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi. . .

Chủ đề:

Ôn tập ngữ văn lớp 6 học kì II

Câu hỏi:

Câu 1: Trong một ghế đá trong công viên, một học sinh đang hướng dẫn một cậu bé đánh giầy giải Toán (hoặc bài tập Tiếng Việt). Em hãy kể lại câu chuyện giữa hai bạn nhỏ ấy.

Câu 2: Mở đầu bài thơ " Nhớ con sông quê hương", nhà thơ Tế Hanh viết:

"Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng"

Em hãy phân tích cái hay, cái đẹp và cảm nhận của em về 4 câu thơ trên.

Gợi ý:

Bước 1:- Nội dung đoạn thơ là giới thiệu con sông quê hương và tình cảm tác giả với con sông.

-Nghệ thuật: So sánh, nhân hóa, từ gợi tả.

Bước 2:- Đoạn thơ chia ra làm 2 ý nhỏ:

+ Hai câu đầu: Giới thiệu con sông quê hương.

* Nghệ thuật cần khai thác( Từ gợi cảm: xanh biếc; Động từ: có; Ẩn dụ: Nước gương ''trong"; Nhân hóa: soi tóc những hàng tre.

+ Hai câu cuối: Tình cảm của nhà thơ với con sông.

* Điểm sáng nghệ thuật( So sánh: Tâm...hè; Hình ảnh giàu liên tưởng; Động từ: ''tỏa''; Từ láy: ''lấp loáng'' rất gợi hình.

Bước 3:- Lập dàn ý cho đoạn.

+ Hai câu thơ đầu, tác giả giới thiệu về con sông quê.

* Động từ ''có'': Vừa giới thiệu con sông quê, vừa kín đáo bộc lộ niềm tự hào.

* Tính từ gợi tả màu sắc ''xanh biếc'' có khả năng khái quát cảnh sông, trong ấn tượng ban đầu. Xanh biếc là màu xanh đậm, đẹp, hơi ánh lên dưới nền trời.

* Mặt nước sông trong như gương, nghệ thuật ẩn dụ cho ta thấy những hàng tre như những cô gái nghiêng mình soi tóc, trên mặt nước sông.

+ Ngay phút ban đầu giới thiệu con sông quê hương xinh đẹp, dịu dàng, thơ mộng. Nhà thơ đã kín đáo, bộc lộ niềm tự hào yêu mến con sông.

+ Tình cảm của nhà thơ với con sông.

* Nghệ thuật so sánh: Một khái niệm trừu tượng (tâm hồn tôi) với một khái niệm cụ thể (một buổi trưa hè) làm rõ nét, tình cảm của nhà thơ với con sông quê.

* Buổi trưa hè: Nhiệt độ cao, nóng bỏng, đã cụ thể hóa tình cảm của nhà thơ. Từ so sánh khẳng định ''là''. Khẳng định ''tâm hồn tôi'' và ''buổi trưa hè'' có sự hòa nhập thành một.

* Động từ ''tỏa'': Gợi tình cảm yêu mến của nhà thơ, lan tỏa khắp sông, bao trọn dòng sông. Nhờ tình cảm yêu mến nồng nhiệt ấy như đẹp lên dưới ánh mặt trời: Dòng sông lấp loáng, tác giả đã sử dụng từ láy khiến dòng sông lúc sáng, lúc tối thay đổi như trong truyện cổ tích.