Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 130
Điểm GP 9
Điểm SP 90

Người theo dõi (21)

Đang theo dõi (5)

Kagome
Minh Đẹp Zai
Đạt Trần
Trần Quang Huy

Câu trả lời:

Bên cạnh nhưng giá trị của nó đó là những công lao của ông cha ta đã gìn giữ lại cho con cháu đến ngày hôm nay. Câu tục ngữ đã khẵng định được những giá trị quan hệ với nhau. Tấc đất tấc vàng có nghĩa là một tấc đât là mà ột tấc vàng nhưng với ông cha ta đó là nhưng công lao mà họ đã gìn giữ trong bao nhiều năm nay.

Câu tục ngữ được hiểu theo một cách khái quát hơn. Đất ở đây là đất đai, vàng ở đây là tiền là những cái mà con người ta dùng nó để sinh sống. nhưng có đất vẫn sinh sống được vì đất có thể trồng trọt, có thể làm ra được nhiều thứ khác nữa để bán ra vàng. ở đây muốn khẵng định không chỉ có vàng mới có thể sinh sống được mà đất vẫn có thể sinh sống và làm ra được vàng.

Ông cha ta nhằm khẵng định giá trị của đất, nó là một thứ muôn thử có thể làm ên tất cả. nhiều người cho rằng có vàng là có thể có tất cả nhưng đó là một quan niệm sai hoàn toàn. Đất vẫn làm ra vàng và làm ra được nhiều thứ khác chứ không riêng gì vàng mới có thể có. Đất đó là một vật vô giá được ông cha ta ví như vàng và có thể hơn vàng.

Có nhiều người ỷ lại mình có vàng nên bỏ đất trống, không trồng trọt gì cả, đến một ngày khi ăn hết vàng đi thì không còn gì để mà sinh sống. đến lúc đó mới nhận ra được sự quý giá của đất. khi vỡ ra thì đã quá muộn vì đất bây giờ là một bãi đất hoang, chai đi. Vì không có người chăm sóc.

Có thể nói đây à mọt bài học đành cho những người chỉ biết quan tâm đến những vật chất,ăn sung mặt sướng mà không nghĩ đến hậu quả sau này của mình. Qua câu tục ngữ, ông cha ta muốn khẵng định giá trị của đất. có đất có thể làm ra tất cả nhưng vàng thì không thể. Vì vậy khi có phải biết tôn trọng những gì mình có, đừng bỏ lãng phí nó một cách vô nghĩa.

mk bổ sung thêm nhé haha

Câu trả lời:

Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... là những chí sĩ tên tuổi sáng ngời sử sách. Cả cuộc đời của các Cụ đã hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Các Cụ đã lấy thơ văn làm vũ khí tuyên truyền cho cuộc chiến đấu vì độc lập tự do.

Thơ văn của các Cụ, nhất là những tác phẩm viết trong nhà tù đế quốc đã tạc vào tâm hồn dân tộc những ấn tượng không thể phai mờ hình tượng nhà chí sĩ yêu nước vĩ đại.

Là nhà nho chân chính, đức trọng tài cao, các Cụ không ra làm quan mà chỉ đọc "tâm thư" tìm đường cứu nước. Nước mất nhà tan, nhân dân sống lầm than trong vòng nô lệ, Phan Bội Châu đã có một cái nhìn sáng suốt về sống và chết, về học và hành động Nước bị ngoại bang thống trị, sống kiếp ngựa trâu là sống nhục. Việc cứu nước phải đặt lên hàng đầu. Không thể đêm ngày đọc sách Thánh hiền, khi Thánh hiền đã vắng bóng, đã lỗi thời; càng đọc càng thêm ngu, chỉ vô ích, vô nghĩa:

"Non sông đã chết sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài "

Kẻ sĩ chân chính phải sống vì nước vì dân, có chí khí, đem tài trí làm nên sự nghiệp "lạ ở trên đời", để lại tiếng thơm nghìn đời mai sau:

"Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?"

Không thể làm quan - làm tôi tớ cho giặc. Không thể sống nhục nhã trong cảnh "cá chậu chim lồng ”.Phải tìm đường cứu nước, đi tới mọi chân trời năm châu bốn bể:

"Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi"

Khát vọng lên đường ấy thật là đẹp. Chí khí ấy thật là phi thường. Có biết rằng, sau khi từ giã bạn bè, đồng chí, Phan Bội Châu đã bí mật sang Nhật, dấy lên phong trào Đông du sôi sục (1905) thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong lòng nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ Việt Nam thời bấy giờ.

Làm cách mạng là dấn thân vào vòng nguy hiểm. Nhà tù, máy chém, pháp truờng của chính quyền thực dân giăng ra khắp mọi nơi “ tay chém giết những người yêu nước, thương nòi của ta ”(Hồ Chí Minh). Các chiến sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... đã trải qua những năm tháng tù đày cay đắng, gian khổ.

Năm 1908, vụ chống sưu thuế ở Trung kì nổ ra, chính quyền thực dân đã cầm tù, đã lưu đày nhiều chí sĩ cách mạng. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... bị đày ra Côn Sơn. Trước tai họa nguy hiểm, nhà chiến sĩ vẫn kiên cường và lạc quan, vẫn bền gan bền chí và son sắt một lòng với dân với nước:

"Dẫu đến lúc núi sập, biển lồi, trời nghiêng đất ngả.
Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn
Tràng kia khuyết đó lại tròn"

Trong chốn tù ngục, trong cảnh khổ sai đày đọa, nhà chí sĩ yêu nước vẫn nêu cao tinh thần bất khuất, không lùi bước, không nản chí nản lòng. Mưu đồ đại sự "vá trời" dù có “lỡ bước”, bị tù đày, nhà chí sĩ coi đó chỉ là “việc con con” chẳng đáng kể! "Dạ sắt son" vẫn bền vững không thể nào lay chuyển được.

"Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng chi sờn dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể việc con con"

Khí tiết của chí sĩ trong “mưa nắng” càng lung linh toả sáng. Năm 1923, Phan Bội Châu bị chính quyền tỉnh Quảng Đông bắt giam, chúng âm mưu hãm hại nhà chí sĩ cách mạng vĩ đại của nhân dân ta. Trong chốn lao tù nguy hiểm, Phan Bội Châu vẫn tự hào khẳng định một tâm thế hiên ngang:

"Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù"

Mục tiêu chiến đấu vì độc lập, tự do vẫn kiên định. Uy vũ của quân thù chẳng đáng sợ. Con đường cách mạng vẫn tỏa sáng niềm tin:

"Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!"

Thật vậy, thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX đã tạc vào thời gian, vào hồn người, vào lịch sử hình tượng người chí sĩ yêu nước vĩ đại. Các Cụ là những anh hùng thất thế mà lẫm liệt hiên ngang.

Yêu nước, thương dân, lạc quan tin tưởng, bất khuất hiên ngang, son sắt thủy chung... là phẩm chất cao đẹp của nhà chí sĩ.
Thơ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... là những bài ca yêu nước. Con người và thơ văn của các Cụ là nhũng nhân chứng lịch sử cho ta nhiều ngưỡng mộ.

Câu trả lời:

Cách giao thiệp của thiếu nữ Sài Gòn rất duyên dáng. Chào người lớn, các cô “cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá”. Gặp bạn bè thì “hơi cúi đầu và mỉm cười; cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mỉm mỉm, cười he hé,…”, tùy mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt cô gái Sài Gòn “sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh”.

Cách giao tiếp của thiếu nữ Sài Gòn có vẻ hơi “cổ xưa” nhưng lại rõ ràng “dân chủ”, “không khúm núm hay màu mè”, “không chút mặc cảm, tự ti”. Nghĩa là họ vẫn giữ được phong cách dân tộc, nhưng không còn mang tư tưởng phong kiến, trái lại rất tân tiến.

Có thể nói đoạn văn viết về cô gái Sài Gòn là đặc sắc nhất, vừa tỉ mỉ vừa khái quát, biểu lộ tấm lòng trân trọng, quý mến của Minh Hương. Ta vô cùng thích thú như được thú vị ngắm nghía những bức ảnh chân dung nghệ thuật của các cô gái Sài Gòn trong phòng triển lãm những năm đầu thế kỉ XX.

Tính cách con người Sài Gòn rất đẹp và đáng yêu. Các cô gái, các chàng trai, các giới đồng bào giàu lòng yêu nước, bất khuất, dám xả thân vì chính nghĩa, vì cách mạng và kháng chiến, vì đất nước và nhân dân. Với Minh Hương, tình yêu Sài Gòn gắn liền với tình cảm trân trọng, quý mến, cảm phục những con người Sài Gòn.

Phần cuối bài kí, tác giả viết qua một so sánh đáng yêu: “Miền Nam là đất lành thì Sài Gòn cùng là một đô thị hiền hòa”. “Đất lành chim đậu” (Tục ngữ). Trước kia, Sài Gòn có nhiều chim, nhưng ngày nay rất ít chim. Những kẻ vô trách nhiệm với môi trường sống, đã “đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố”. Chim chóc thì “hiếm hoi dần”, dân số lại gia tăng “leo lên hơn năm triệu”. Thoáng một chút băn khoăn?.

Minh Hương đã tâm sự: “yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây”. Mối tình ấy “ dai dẳng, bền chặt”. Tác giả ước mong “mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi”. Đó là một tiếng nói “chơn thành, bộc trực”. Sài Gòn, thành phố 300 tuổi, là Thành Đồng Tổ quốc, là thành phố mang tên Bác – thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng – ai mà chẳng tự hào, ai mà chẳng mến yêu.

Bài kí “Sài Gòn tôi yêu “ cho ta nhiều ấn tượng. Giọng văn hóm hỉnh, chân thành thể hiện một cách viết độc đáo, sắc sảo. Chữ nghĩa, ngôn từ gợi lên sắc thái Sài Gòn rất đậm đà: “Trời đang ui ui”… “các cô gái thị thiềng”, “chắp hai bàn tay lại và xá “, v..v… Một vài so sánh khá ý vị, nhất là khi nói về một số nét đẹp của thiếu nữ Sài Gòn: “cũng e then, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mày. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều ngây thơ”,…

“Sài Gòn tôi yêu” là một bài ký duyên dáng có ít nhiều khám phá, tỏa sáng tính nhân văn. Hay đấy. Cần đọc để thưởng thức, để yêu Sài Gòn hơn nữa