Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 39
Số lượng câu trả lời 456
Điểm GP 47
Điểm SP 286

Người theo dõi (41)

Đang theo dõi (1)

Chi Bui

Câu trả lời:

Câu cuối cùng bài "BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ"

Để rồi nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu:

"Bác đến chơi đây, ta với ta"

Câu thơ cuối là một cái kết hay. Nó như là nhãn tự, là linh hồn của bài thơ. Ta với ta nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng; kẻ tri âm đến với người tri kỉ. Vậy thì tất cả những lễ nghi kia đều là tầm thường, vô nghĩa. Chủ và khách có chung một tình cảm thắm thiết thanh cao, đó là cái quý giá không vật chất nào sánh được. Ba tiếng ta với ta gợi cảm xúc mừng vui, thân mật. Bạn bè xa cách đã lâu, nay vượt đường xa dặm thẳm, vượt cái yếu đuối của tuổi già để đến thăm nhau thì thật là quý hóa! Đáng quý hơn nữa là bác với tôi, ta cùng lánh đục tìm trong, lui về vui thú điền viên để giữ trọn hai chữ thiên lương. Sự gần gũi, tương đắc về mặt tâm hồn đã gắn bó chủ và khách làm một. Những điều câu lệ, khách khí đã bị xoá nhòa. Chỉ còn lại niềm vui và sự chân thành bao trùm tất cả. Tình bạn ấy đã vượt lên trên những nghi thức tiếp đãi bình thường. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy mà để được gặp nhau; được hàn huyên tâm sự cho thoả nỗi khao khát nhớ mong. Câu thơ đã thể hiện cách sử dụng từ ngữ tài tình của Nguyễn Khuyến. Đáng chú ý nhất là cụm từ ta với ta. Đại từ ta trong tiếng Việt vừa chỉ số ít, vừa chỉ số nhiều. Nguyễn Khuyến dùng cả hai nghĩa: ta với ta tuy hai nhưng là một. Từ với gắn hai từ ta lại. Bạn và nhà thơ ngồi bên nhau thủ thỉ tâm tình, hai người hòa thành một. Quả là không gì có thể đánh đổi được tình bạn Thủy chung giữa hai ta.

Trong bài thơ “Qua Đèo Ngang”, Bà Huyện Thanh Quan cùng nhắc đến một cụm từ “ta với ta” nhưng “ta với ta” của bà là chỉ một mình tác giả với mảnh tình riêng đầy cô đơn, trống vắng. Trong bài thơ của Nguyễn Khuyến thì ngược lại, thi nhân dùng cụm từ này để chỉ bản thân và người bạn tri âm, tri kỉ. Cái “ta với ta” của Nguyễn Khuyến ấm áp và vui vầy biết bao.
Qua cách ứng xử của nhà thơ, có thể nhận thấy, với bạn, Nguyễn Khuyến rất quan tâm đến bạn, muốn tiếp bạn thật là chu đáo. Đồng thời, chúng ta cũng thấy, trong tình bạn, Nguyễn Khuyến rất coi trọng cái tình, coi trọng sự cung kính trong tình bạn.

Tình bạn của họ là thứ quý nhất không có gì sánh được. Ta còn nhớ rằng có lần khóc bạn Nguyễn Khuyến đã viết:

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Câu thơ nghĩ, đắn đo muốn viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa?

Gương kia, treo những hững hờ

Đàn kia ai gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn

Có thể trong bài thơ: này chính là cuộc trò chuyện thăm hỏi của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê. Tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê gắn bó keo sơn. Trong đoạn thơ trên ta thấy rằng khi uống rượu khi làm thơ... Họ đều có nhau.

Bài thơ Bạn đến chơi nhà là tấm lòng của nhà thơ và cũng là bức tranh phong cảnh nông thôn bình dị tràn đầy sức sống. Khu vườn với luống cà, giàn mướp; mặt ao sóng gợn, tiếng gà xao xác trưa hè… là hiện thân của mảnh hồn quê mộc mạc, đậm đà, sâu lắng. Màu xanh trong của nước ao, màu xanh mơn mởn của vồng cải, màu tím hoa cà, màu vàng tươi hoa mướp… loại nào cũng đang độ tươi non, làm vui mắt và ấm lòng người. Những sự vật tưởng như tầm thường ấy thực ra có sức an ủi rất lớn đối với một tâm hồn mang nặng nỗi đau đời của nhà thơ. Được đón bạn đến chơi nhà trong khung cảnh rạo rực sức sống ấy, chắc hẳn niềm vui của cụ Tam Nguyên cũng tăng lên gấp bội. Bài thơ nói về một tình bạn trong sáng, đẹp đẽ. Giọng thơ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân quê mùa, chất phác, ấy vậy nhưng nó vẫn bộc lộ rõ nét tài hoa của ngòi bút Nguyễn Khuyến trong tả cảnh, tả tình. Cảnh, tình đan xen, hòa hợp, bổ sung cho nhau để tạo nên một bức tránh quê trong sáng, tươi mát và ấm áp tình người.

Tóm lại, bài Bác đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được viết bằng lời thơ giản dị, mộc mạc nhưng thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, nói lên được tình bạn thâm giao, trong sáng, chân tình. Nó có tác dụng giúp chúng ta nhìn nhận lại chính bản thân mình, không bị cuộc sống vật chất của xã hội phát triển lôi kéo, giúp chúng ta luôn giữ được một tình bạn trong sáng, thủy chung, và cao đẹp vốn là bản chất của dân tộc Việt.

Câu trả lời:

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc VN. Sinh thời, Bác ko hề cón ý định làm thơ văn. Song, xuyên suốt thời kì kháng chiến, Bác nhận ra thơ văn là 1 loại vũ khí sắc bén để chống lại quân thù. Vậy là Bác quyết định làm thơ. Bác có rất nhiều tập thơ, bài thơ hay và bài thơ "Cảnh Khuya" đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc về tình yêu bao la của Người đối với thiên nhiên, đất nước: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Bài Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua, Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những phút giây thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ – chiến sĩ là Bác. "Cảnh khuya" được viết dưới bố cục 2 phần: hai câu đầu nói về cảnh đẹp đêm khuya nơi núi rừng Việt Bắc, hai câu thơ cuối nói về nỗi lo nước nhà của Bác. Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng đã thể hiện được cảnh đêm trăng huyền ảo và tình yêu thiên nhiên đất nước tha thiết của Người. Bài thơ được mở đầu thật tinh tế bằng những câu thơ nhẹ nhàng đã thể hiện tài năng của Bác. Bác ko chỉ giỏi về lĩnh vực quân sự mà còn giỏi về lĩnh vực văn chương: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa" Bác có lối so sánh thật tài tình, độc đáo. Tiếng suối thường được nghe bằng thính giác nhưng ở đây Bác lại cảm nhận được sự trong trẻo của dòng suối. Điều đó chứng tỏ dòng suối ở đây rất ngọt, mát lành mà thiên nhiên chỉ ưu ái ban cho núi rừng VB. So sánh với "tiếng hát xa" chắc hẳn tiếng hát ở đây phải hòa vào đêm thanh tĩnh, vang xa. Tiếng suối trong đêm khuya như tiếng hát xa dịu êm vang vọng, khoan nhạt như nhịp điệu của bài hát trữ tình sâu lắng. Đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tiếng suối rì rầm êm ả, vắng lặng trong đêm chiến khu. Tiếng suối và tiếng hát là nét vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu thời máu lửa mang sức sống và hơi ấm của con người. Sáu trăm năm trước trong bài thơ "Bài ca Côn Sơn", Ức Trai đã có cảm nhận cực kỳ tinh tế về dòng suối Côn Sơn: "Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bền tai" Nếu 600 năm trước Nguyễn Trãi tinh tế nhìn thấy vẻ đẹp của dòng suối và so sánh với "tiếng đàn cầm" thì 600 năm sau HCM đã so sánh "tiếng suối" với " tiếng hát xa". Nguyễn Trãi đã lấy vật so sánh với vật còn Bác thì lấy vật so sánh với người. Với sự so sánh của Bác đã làm cho khu rừng trở nên sống động, đẹp đẽ hơn, nhờ đó mà ta cảm nhận được sự sống của con người và linh hồn bên trong tiếng suối. Một bức tranh có nhạc có họa đã làm nên khung cảnh huyền ảo, mộng mơ. Lấy tĩnh tả động, lấy động tả tĩnh làm cho bài thơ vừa dân gian, vừa trang nghiêm. Gợi lên khung cảnh cổ điển có sự kết hợp của hiện đại làm bài thơ thêm sinh động và cổ kính hơn. Mỗi một vần thơ, mỗi một khung cảnh, âm thanh của suối chảy được cảm nhận tinh tế khác nhau. Sau tiếng suối nghe như tiếng hát xa kia là trăng chiến khu. Ánh trăng chiến khu sao mà sáng và đẹp thế! Tầng cao nhất là trăng, tầng giữa là cổ thụ, tầng thấp là hoa – hoa rừng. Cả núi rừng Việt Bắc đang tràn ngập dưới ánh trăng. Ánh trăng bao phủ khắp không trung mát dịu, len lỏi xuyên qua kẽ lá, tán cây, ánh trăng như âu yếm, hoà quyện cùng thiên nhiên cây cỏ. Ánh trăng như xoáy và lồng vào những tán lá. Và trên mặt đất những đoá hoa rừng đang ngậm sương đêm cùng với bóng cổ thụ đan xen trên mặt đất. Đêm thanh, trên không trung dường như chỉ có vầng trăng ngự trị. Đêm vắng, trăng thanh mặt đất cỏ cây như ngừng thở để đón đợi ánh trăng mát lạnh dịu hiền mơn man ôm ấp: "Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" Chữ lồng điệp lại hai lần đã nhân hoá vầng trăng, cổ thụ và hoa. Trăng như người mẹ hiền đang tiếp cho muôn vật trần gian dòng sữa ngọt ngào. Trăng trở nên thi vị, trữ tình lãng mạn. Chữ lồng gợi cho ta nhớ đến những câu thơ sau trong Chinh phụ ngâm: "Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng…" "Hoa nguyệt nguyệt hoa" ... "nguyệt lồng hoa" ... "hoa dãi nguyệt" - quấn quýt, tựa vào nhau, lồng vào nhau mà khoe sắc thắm, trùng trùng lớp lớp. Sử dụng điệp ngữ và phép liên hoàn, nhân hóa "nguyệt hoa" đã diển tả vẻ đẹp của trăng hoa trong đêm trăng đẹp. Trong câu có tiểu đối "trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" đã tạo sự cân xứng trong bức tranh về trăng, ngôn ngữ thơ trang trọng, điêu luyện tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp tràn đầy chất thơ. Cảnh khuya trong sáng, lung linh huyền ảo. Đọc vần thơ ta nghe như có nhạc, có hoạ, bức tranh cảnh núi rừng Việt Bắc thơ mộng biết bao. Người xưa từng nói thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc quả thật không sai. Đối với Bác trăng đã trở nên tri âm tri kỷ nên làm sao có thể hờ hững trước cảnh đẹp đêm nay. Trong ngục tối bị giam cầm, trước ánh trăng tuyệt đẹp Bác Hồ cũng đã có những vần thơ tuyệt diệu: "Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ…" (Ngắm trăng) Một thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang sống những giây phút thần tiên giữa cảnh khuya chiến khu Việt Bắc. Giữa bức tranh thiên nhiên rộng lớn và hữu tình như vậy, tâm trạng thi sĩ bỗng vút cao thả hồn theo cảnh đẹp đêm trăng bởi đêm nay Bác không ngủ. Trước cảnh đẹp đêm trăng: Có suối, có hoa lá, núi ngàn, và cả tâm trạng của Bác. Bác không chỉ xúc động trước cảnh đẹp thiên nhiên mà: "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà" Điệp vòng từ “chưa ngủ” hai lần, đó là cách nhấn mạnh tâm tư lớn của Bác, một người luôn nặng lòng với quê hương. Nước nhà đang bị giặc xâm lăng, giày xéo, bao người còn sống trong cơ cực, lầm than, Bác dù đứng trước cảnh thiên nhiên đẹp, không khỏi cảm thán, nhưng làm sao quên được sứ mạng cao cả của mình. Đây chính là nỗi lòng, là tâm tình của vị lãnh tụ. Đồng thời, ta cũng thấy được rằng, Bác Hồ của chúng ta dẫu bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để chiêm nghưỡng thiên nhiên, có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khoả, bớt đi sự vất vả mà Bác phải trăn trở, suy tư. Từ đây, ta nhận thấy Bác là một người luôn biết hài hoà giữa công việc với tình yêu thiên nhiên và càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc càng cao. Chúng ta nhìn thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng là nỗi khao khát về một đất nước thanh bình, để muôn người được sống tự do, hạnh phúc. Dường như, trong Bác luôn xoáy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nước mới được yên bình để con người thoả sức ngắm trăng? Đến đây ta càng hiểu rõ hơn con người của Bác, đó là một người luôn canh cánh trong lòng nỗi lo vì dân vì nước, vì đất nước Bác có thể hi sinh tất cả. Hình ảnh của Bác làm dâng trào trong lòng em cảm xúc mến yêu, kính trọng Bác. Và em đã luôn tự hỏi rằng: Có bao giờ Người được thảnh thơi để tận hưởng niềm vui của riêng mình? Bác thật vĩ đại trong tâm hồn chúng ta và của cả dân tộc Việt Nam. Qua bài thơ, ta cảm nhận được lòng yêu quê hương trong Bác thật sâu đậm, lớn lao và đã bắt gặp một tâm hồn thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản. “Cảnh khuya” là một bức tranh đẹp về quê hương, về con người và sự hài hòa giữa cảnh và tình. Nước nhà đang bị giặc xâm lăng giày xéo, biết bao đồng chí đang bị gông cùm xiềng xích. Năm 1971, trên con tàu Latuxơtơrơvin, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc đời còn lầm than cơ cực, bao năm Bác bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than. Nay nước nhà còn đang chìm trong khói lửa đạn bom lòng Bác sao có thể ngủ yên giấc được. Chưa ngủ không hẳn chỉ vì cảnh đẹp đêm nay mà chưa ngủ vì nỗi nước nhà. Nỗi nhớ nhà lo cho nước nhà làm cho trái tim Bác luôn thổn thức. Bác thức trong đêm khuya trằn trọc băn khoăn không sao ngủ được. Lòng yêu nước sâu sắc mãnh liệt xiết bao. Đã có biết bao đêm Bác Hồ của chúng ta cũng mất ngủ như vậy: "Một canh, hai canh, lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh" (Không ngủ được) Hình ảnh sao vàng chính là tự do độc lập, niềm thao thức mơ ngày mai ánh hồng soi đất nước hoà bình. Một tâm hồn nghệ sĩ thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng yêu nước tha thiết của Bác. Trong bài thơ Cảnh khuya của chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vẽ ra bức tranh thiên nhiên tuyệt sắc với hình ảnh ánh trăng sáng rọi, mà người còn sử dụng kết hợp giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại khiến cho bức tranh thơ hiện lên với vẻ đẹp vô cùng độc đáo, một vẻ đẹp vừa cổ điển, vừa hiện đại. Chất cổ điển được thể hiện ở thể thơ xưa thất ngôn tứ tuyệt và hình ảnh ánh trăng. Chất hiện đại thể hiện trong tính thời sự của bài thơ và cả ở dáng vẻ ung dung tự tại, tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc của người chiến sĩ giữa ko gian bát ngát ánh trăng. Bài thơ Cảnh khuya là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cực hay, là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác. Giữa chốn rừng Việt Bắc tràn ngập ánh trăng, lòng Bác luôn thao thức vì nỗi nước nhà. Đó là nét đẹp riêng của bài thơ, cảm hứng thiên nhiên nhiên chan hoà trong lòng yêu nước sâu sắc. Thương dân, lo cho nước, yêu trăng… như dẫn hồn ta vào giấc mộng đẹp. Đọc thơ Bác giúp ta càng biết ơn, yêu kính Bác Hồ hơn. Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Bác, Người đã để lại cho hậu thế rất nhiều những tác phẩm hay ở cả văn và thơ, với rất nhiều thể loại. Nhưng “Cảnh khuya” có thể nói là bài thơ hay nhất trong số những bài viết về đề tài thiên nhiên, đặc biệt là những tác phẩm lấy cảm hứng từ trăng. Bài thơ không chỉ khơi dậy trong em, trong chúng ta tình yêu thiên nhiên, đất nước mãnh liệt, mà qua đó ta còn tìm thấy ngọn nguồn của tình yêu tổ quốc của Bác là xuất phát từ đâu, chính từ tình yêu đối với cảnh vật và con người Việt Nam. Hơn thế, mọi thế hệ còn học tập được ở nhân cách Hồ Chí Minh một thái độ điềm tĩnh, chủ động trước mọi hoàn cảnh. Mặc dù, ẩn sau phong thái ung dung tự tại ấy là nỗi lo cho nước, nỗi thương dân. Trong cuộc đời 79 năm, Bác Hồ có biết bao đêm không ngủ vì nhiều lẽ nhưng điều khiến chúng ta cảm phục vô hạn đó là ý thức, trách nhiệm của Bác trước vận mệnh nước nhà. Ý thức ấy ở Bác cùng với vô vàn phẩm chất cao đẹp khác của Người, đã kết tinh một Hồ Chí Minh vĩ đại.