Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 1330
Điểm GP 483
Điểm SP 1514

Người theo dõi (185)

Huy Jenify
 Lê Uyển Nhi
Hachiko
Khang Nguyễn

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

1. Mở bài

– Trong xã hội xuất hiện nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm, làm nhiều việc từ thiện cho trẻ em vùng cao. Ý nghĩa của việc làm này rất tốt đẹp, nhưng bên cạnh đó cũng có một vài ý kiến trái chiều, nhìn nhận việc làm này ở một góc độ khác. Tấm biển xuất hiện ở một địa phương gần đây “Quý khách không cho trẻ em tiền, bánh kẹo. Trẻ em sẽ bỏ học đi xin tiền, bánh kẹo”, câu nhắn gửi ở bảng tin này là cần có chiến lược lâu dài hơn là việc làm trước mắt, trẻ cần được ưu tiên đến trường, cần rèn tính tự lập cho trẻ.

2. Thân bài

a) Giải thích

– Giải thích vế câu:

+ Quý khách không cho trẻ em tiền, bánh kẹo: nhắc nhở, khuyến cáo không nên cho trẻ em tiền và bánh kẹo.

+ Trẻ em sẽ bỏ học đi xin tiền, bánh kẹo: giải thích cho hành động trên – trẻ sẽ bỏ học.

– Nội dung tấm biển: Muốn nhắn gửi rằng trẻ em cần ưu tiên việc đến trường, việc đi học là con đường lâu dài để giúp trẻ thoát khỏi nghèo đói, chứ không phải dựa dẫm vào lòng thương hại trước mắt.

b) Bàn luận

(1) Thực trạng và hệ quả của việc làm từ thiện

– Nhiều nơi ở miền núi, vùng sâu, vùng khó, tình trạng đói nghèo thiếu thốn rất phổ biến: không có các điều kiện sinh hoạt tối thiểu (điện, nước, trường học, y tế…). Việc làm từ thiện thể hiện trách nhiệm cộng đồng, sự chia sẻ của các cơ quan trung ương, địa phương và các cá nhân. Việc từ thiện là việc tốt, cần khuyến khích động viên. Việc từ thiện cũng đem lại những điều kiện vật chất, tinh thần, giải quyết những vấn đề trước mắt cho người nghèo.

– Việc từ thiện đã giải quyết được phần nào khó khăn trước mắt của con người nói chung, trẻ em nói riêng. Tuy nhiên, hệ quả tác động tiêu cực của việc cộng đồng làm từ thiện là khiến trẻ em bỏ học, trông chờ, ỷ lại vào tấm lòng từ thiện, lười lao động, thiếu ý chí vươn lên tự thay đổi cuộc đời mình.

(2) Nguyên nhân

– Trẻ không tự giác đi học, không tự lao động để kiếm sống, dựa vào lòng thương sẽ làm giảm ý chí, quyết tâm, thậm chí khiến con người lầm đường, lạc lối.

VD: Hào Anh – cậu bé ở trại nuôi tôm bị bạo hành đáng thương – nhận được sự giúp đỡ từ cộng đồng đã trở thành nghi can ăn trộm tài sản.

(3) Giải pháp

– Tiếp tục duy trì việc làm từ thiện, tuy nhiên, việc làm từ thiện cần gắn với những yêu cầu cụ thể: động viên, giúp các em hoàn thành các nhiệm vụ học tập (hỗ trợ gạo cho học sinh vùng khó khăn, hỗ trợ bữa ăn, quyên góp sách vở…)

– Khuyến khích, động viên trẻ học tập, đồng thời tổ chức quy hoạch, kêu gọi các hoạt động từ thiện. Như vậy, sẽ trao cho trẻ cơ hội thoát nghèo, đi đến tương lai một cách chắc chắn.

c) Bài học nhận thức và hành động

– Nhận thức được việc làm từ thiện là xuất phát từ lương tâm, lòng tốt con người. Nhưng cần làm từ thiện đúng cách để việc làm từ thiện đó có thể mang lại lợi ích lâu dài và bền vững cho người được giúp đỡ.

– Bài học hành động: Mỗi học sinh cần nêu cao tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, sống biết yêu thương, chia sẻ, cảm thông với những cảnh ngộ bất hạnh trong cuộc đời. Bên cạnh đó, mỗi chúng ta cần chăm lo học tập, xây đắp ước mơ, biết vượt qua những trở ngại của hoàn cảnh riêng, bằng ý chí nghị lực và bản lĩnh của chính mình đạt được mục đích, ước mơ trong cuộc sống.

3. Kết bài

Cách ứng xử trong đời sống nói chung, ứng xử với người nghèo nói riêng là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và là sự lựa chọn của từng cá nhân, tổ chức xã hội. Nhận thức của mỗi cá nhân và xã hội là điều rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển chung của đồng bào. Với trẻ em, đặc biệt ở vùng khó khăn, điều quan trọng là lĩnh hội tri thức, tự lập để các em tự vươn lên và khẳng định chính mình.

Câu trả lời:

1. Mở bài

– Sự phát triển của xã hội kéo theo sự ra đời của các thiết bị công nghệ hiện đại thông minh nhằm phục vụ cho cuộc sống. Nhưng công nghệ hiện đại cũng có những mặt trái, mang đến nhiều ảnh hưởng tiêu cực.

– Một trong những “căn bệnh” nổi bật nhất của giới trẻ hiện nay là bệnh nghiện chụp ảnh “tự sướng”. Đây là cách mà các bạn sử dụng để thể hiện bản thân, khẳng định cái tôi của mình. Căn bệnh này đã gây ra nhiều hệ lụy đáng tiếc.

2. Thân bài

a) Giải thích

– Chụp ảnh tự sướng (tiếng Anh là selfie): dùng để chỉ thói quen tự chụp ảnh và cập nhật trạng thái đăng tải lên các trang mạng xã hội nhằm thu hút sự chú ý của mọi người.

b) Bàn luận

(1) Hiện trạng nghiện chụp ảnh “tự sướng”

– Những người nghiện tự sướng thường bỏ ra hàng giờ để chụp được những bức ảnh sao cho hoàn hảo nhất, không có bất cứ sai sót nào.

– Hiện nay, nhiều người đăng tải, chia sẻ hình ảnh, thông tin trên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram… để bạn bè hay người khác có thể “like” (thích) và đưa ra những “comment” (lời nhận xét) về bức ảnh, thông tin đó. Khi đăng tải những bức ảnh này, bản thân người chụp hi vọng sẽ nhận được những lời tán dương, ngợi khen từ người khác. Có khi họ ngồi cả ngày chỉ đếm “like” và trả lời những “comment” từ bên ngoài.

– Có thể dễ dàng bắt gặp ở bất cứ đâu hiện tượng giới trẻ “tự sướng”: trong lớp học, ngoài công viên, trong nhà hàng, trước bữa ăn, thậm chí là trước một đám ma, một tai nạn, một vụ cháy…

(2) Nguyên nhân

– Việc đăng nhiều ảnh của mình chứng tỏ sự tự mãn, muốn khoe khoang, thể hiện bản thân mình. Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu của những bạn trẻ nghiện tự sướng hiện nay.

– Bên cạnh đó, chụp ảnh tự sướng cũng giống như một căn bệnh lây lan, nhiều người chụp là chạy theo phong trào, muốn thể hiện đúng phong cách, trào lưu của giới trẻ. Nếu không chụp sẽ thành dị biệt, không hợp thời, không hòa nhập với chúng bạn.

– Theo nhiều chuyên gia về tâm thần học, nghiện chụp hình “tự sướng” cũng là một loại bệnh lý, một chứng rối loạn về tâm thần, là hội chứng ám ảnh, mặc cảm về ngoại hình… Những người bị chứng ám ảnh này luôn không ngừng lo lắng về dung nhan, diện mạo của họ. Họ cho rằng có vài chỗ trên cơ thể của họ bị khiếm khuyết.

(3) Hậu quả

– Nhiều bạn trẻ quá tin tưởng vào lời tán dương của cư dân mạng, từ đó mà ảo tưởng về giá trị của bản thân. Để rồi, khi va vấp với hiện thực, nhiều bạn không khỏi thất vọng về bản thân, dẫn đến mất tự tin, trầm cảm, tự tử. Ngược lại, có những bạn trẻ phải nhận những lời nhận xét ác ý, thậm chí thóa mạ của nhiều người sử dụng… gây ra những sang chấn tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống thực. Những bình luận trái chiều ấy sẽ làm tổn hại đến sự tự tin của các bạn trẻ, thậm chí có thể làm sai lệch nhận thức, suy nghĩ của họ về bản thân, đôi khi có thể dẫn đến những hành động bồng bột, thiếu kiềm chế.

– Việc ham mê chụp ảnh tự sướng cũng gây lãng phí thời gian. Nhiều bạn trẻ tốn hàng giờ đồng hồ để chỉnh sửa, đăng tải một bức ảnh và tham gia bình luận vào những bức ảnh “tự sướng”. Dành quá nhiều thời gian vào thế giới ảo, những người trẻ sẽ bỏ lỡ, đánh mất nhiều điều của cuộc sống thật. Không thiếu những thanh thiếu niên xa rời thực tế, coi máy tính hay điện thoại thông minh là những người bạn thân thiết còn hơn cả người thân, bạn bè của mình, dần dẫn đến thờ ơ, vô cảm với cuộc sống.

– Chụp và đăng ảnh selfie thực sự có thể làm người khác khó chịu. Trong những nơi sinh hoạt công cộng, nhiều bạn trẻ mải mê tự sướng làm cản trở công việc của những người xung quanh, gây cho người bên cạnh cảm giác phiền phức.

– Trên thế giới có nhiều trường hợp người đăng ảnh bị kẻ xấu lấy ảnh rồi lắp ghép, chỉnh sửa… nhằm bôi nhọ hình ảnh khiến nạn nhân xấu hổ, tự ti đến mức tự tử.

(4) Giải pháp

– Để không rơi vào hiện tượng lạm dụng công nghệ dẫn tới nghiện như trên, trước hết cần sự quản lí chặt chẽ từ gia đình và nhà trường. Các bậc cha mẹ có lẽ không nên quá chiều theo ý con mà chu cấp những chiếc điện thoại hay ipad đắt tiền, nhiều tính năng mà không có sự kiểm soát, quản lí. Nhà trường cũng cần đưa ra những chương trình giáo dục phù hợp và những quy định cụ thể về vấn đề sử dụng công nghệ.

– Nhưng quan trọng nhất vẫn là mỗi người cần ý thức được: Các phương tiện công nghệ hiện đại chỉ là công cụ giúp cho cuộc sống trở nên tiện nghi hơn, thuận lợi hơn. Không nên phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ hiện đại để làm mất đi nhiều giá trị của cuộc sống thực.