Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 22
Số lượng câu trả lời 2904
Điểm GP 500
Điểm SP 4050

Người theo dõi (616)

Đang theo dõi (1)

lqhiuu

Câu trả lời:

Chỉ còn ba ngày nữa là đến Tết. Hôm nay là phiên chợ giáp Tết. Khác với mọi lần, từ tờ mờ sang người ta đã lũ lượt kéo nhau đi chợ. Tiếng lợn kêu “eng éc”, gà vịt cũng góp phần vào bản nhạc “chợ Tết” những tiếng “quạc quạc, héc héc”.

Rửa mặt xong và làm mấy củ khoai lang “điểm tâm”, tôi theo mẹ đi chợ. Trời ơi, người đông như hội, hàng hóa bày bán tràn lên cả mặt đê. Nào là lợn, gà, thịt, cá, tiếp đến là những thứ để làm bánh Tết, như gạo nếp, đỗ xanh, lá dong, lá chuối. Bên cạnh đó là hàng mứt, hàng đường chè khô Thái Nguyên, rồi đến các thứ tranh ảnh treo Tết, lịch, câu đối, tranh lợn, gà đám cưới chuột, mấy cô thiếu nữ thổi sáo, đánh đàn. Nối theo dãy hàng đó là hàng quần áo trẻ con đủ các mẫu, các kiểu đẹp quá. Mẹ cũng mua cho tôi một bộ. Tôi rất tiếc không đi xem được nhiều vì chợ quá đông, phải đi rất chậm, như nhích dần từng bước nên mới chỉ xem được có một góc chợ mà đã gần 12 giờ, đành phải về đi học buổi chiều.

Sau buổi học về, tôi thấy gia đình đang tấp nập chuẩn bị đón Tết. Ông và bố thì gói bánh chưng, anh tôi thì đang giã giò, sau đó còn gói giò mở, giò thủ. Tôi được giao nhiệm vụ lấy chanh và tro đánh sánh bộ đò bàn thờ bằng đồng. Một lúc sau là dàn hòa âm nghe rất vui tai: nồi bánh chưng sôi kêu “ùng ục”, tiếng giã giò “bí ba, bí bốp” nghe thật vui tai – quả là vui như ngày Tết.

Buổi tối hôm ấy, cả nhà ngồi xung quanh nồi bánh chưng nói chuyện râm ran. Ông kể sự tích “ông đẩu rau”, bà và mẹ vừa chẻ lạt vừa kể lại cái Tết ngày xưa khi chưa có tôi. Lúc đó, ngày Tết chỉ có vài vại dưa, một nồi cá kho và mấy bơ gạo tẻ … Thế mà Tết này nào là bánh chưng, nào giò, nào thịt gà, cá nướng. Ông tôi cười nói: “Bà hay nói chuyện xưa lắm”. Bà tôi nói như phân trần, “thì ăn cơm mới nói chuyện cũ mà ông”.

Nhìn lên bàn thờ tôi thấy ông tôi trang hoàng rất đẹp. Hai bên là hai câu đối đỏ viết bằng chữ nho tôi không đọc được, nhưng trên bức tường vôi trắng dần la liệt những bức tranh Đông Hồ. Thấy tôi nhìn mãi lên bức tranh đó, ông tôi nhìn vào từng bức tranh rồi giải thích cho tôi.

Đây là bức tranh “Lợn có khoáy âm dương” và Tranh gà mẹ nuôi con”. Dán lên để cầu mong sang năm mới nhà mình chăn nuôi thắng lợi, lợn đẻ nhiều con, gà không bệnh tật. Đây là bức tranh “Đám cưới chuột”, vừa thể hiện mong ước cuộc sống vui vẻ vừa tố cáo anh mèo ăn hối lộ “một con cá rán” mớ cho đàn chuột tổ chức cưới xin. Còn đây là ông Tài, ông Lộc để cầu mong gia đình mình sang năm làm ăn phát đạt bằng năm mười năm trước. Về khuya, tôi buồn ngủ quá liền nằm xuống chiếu cạnh nồi bánh chưng. Ấm quá tôi ngủ lúc nào chẳng hay …

Tôi đang mơ cái gì đó như lạc vào vườn hoa đầy màu sắc bỗng bị con ông đốt vào tay, tôi giật mình tỉnh dậy thì thấy trong tay là cái bánh chưng còn nóng, anh tôi dúi cho tôi. Tôi sướng quá reo lên: Ôi, Tết đã đến rồi … Tôi vội rửa mặt, thay quần áo đến thăm thằng bạn, bạn tôi, nhà nó nghèo lắm vù năm nay nhà nó mất mùa, ở ruộng đồng trũng mất hết lúa vì lut. Mẹ nó lại bị ốm mấy tháng nay không ngồi dậy được. Chắc gì nhà nó đã có cái Tết vui vẻ như nhà tôi.

Câu trả lời:

Gợi ý :

I. CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
1. Cuộc đời

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, tại làng Hoàng Xá, huyện Ý yên Nam Ðịnh. Lớn lên sống ở làng Yên Ðỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông Mất ngày 24/2/1909. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học.
Năm 1864, Nguyễn Khuyến đi thi Hương và đỗ giải nguyên ở trường Nam Ðịnh.Năm 1871, Thi Hội lần hai, đỗ Hội nguyên và thi Ðình đỗ Ðình nguyên. Ông từng thi đỗ Tam nguyên nên người ta gọi Nguyễn Khuyến là Tam nguyên yên Ðỗ và làm quan dưới riều Tự Ðức. Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.

2. Sự nghiệp:
Quế sơn thi tập khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và 100 bài thơ bằng Chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau . Có bài tác giả viết bằng chữ Hán rồi dịch ra tiếng Việt, hoặc ngược lại, ông viết bằng chữ Việt rồi dịch sang chữ Hán. Cả hai loại đều khó xác định vì nó rất điêu luyện. Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình. Còn trong thơ chữ Hán thì hầu hết là thơ trữ tình. Có thể nói trên hai lĩnh vưcï Nguyễn Khuyến đều thành công.

3. Thời đại:
Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được. Lúc này Nam kỳ rơi vào tay giặc Pháp. Năm 1882, Pháp bắt đầu đánh ra Hà Nội. Năm 1885, chúng tấn công kinh thành Huế. Kinh thành thất thủ, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi. Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã. Có thể nói, sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc và cũng không cam tâm làm tay sai cho Pháp nên ông xin cáo quan về ở ẩn. Từ đó dẫn đến tâm trạng bất mãn, bế tắc của nhà thơ.

II. NỘI DUNG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN
1. Tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng:

1.1. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến:
Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến trước hết gắn kiền với tư tưởng trung quân. Ðây là một tư tưởng yêu nước hết sức chân chính tiến bộ. Nguyễn Khuyến vừa là nhà nho vừa là một ông quan từng hưởng bổng lộc của triều đình nên tư tưởng trung quân đậm nét. Trong Di chúc, ông thể hiện rõ quan điểm của mình: Khi đưa Thầy con rước đầu tiênCờ biển vua ban ngày trứơc Sống giữa thời kỳ nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến không đành nhìn đất nứơc rơi vào tay giặc, lại không cam tâm ở lại triều đình để làm bù nhìn nên ông quyết định xin cáo quan về ở ẩn.
Lòng Nguyễn Khuyến từng dạt dào bao ý định chua xót về quyết định này:

Khứ quốc khởi vô bằng bối tại,
Quy gia vị tất tử tôn hiền?

(Cảm tác)

Dịch nghĩa:

Bỏ chức há không bạn bè ở lại
Về nhà vị tất con cháu đã khen thay?