Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 22
Số lượng câu trả lời 2904
Điểm GP 500
Điểm SP 4050

Người theo dõi (616)

Đang theo dõi (1)

lqhiuu

Câu trả lời:

Thấm thoát năm học đã kết thúc. Chúng em thực sự bước vào một ki nghỉ hè với bao thú vị đang chờ phía trước. Trường em tổ chức cho học sinh đi nghỉ mát ở bãi biển Sầm Sơn. Có lẽ bãi biển đẹp nhất vào những buổi bình minh.

Trời còn sớm, se se lạnh, gió thoảng khẽ lay động hàng phi lao đẻ lộ những giọt sương đêm còn đọng lên kẽ lá. Phía trước em là cả một vùng trời nước mênh mông. Sau trận mưa dông ngày hôm qua, chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây hết bụi. Phóng tầm mắt ra xa, mặt biển mang trọn một màu lam biếc. Tiếng sóng biển rì rào như bài ca bất tận ca ngợi sự xinh đẹp, giàu có của thế giới đại dương. Những con sóng bạc đầu gối nhau đùa giỡn tạo nên những âm thanh, những khúc hát du dương. Mặt trời như một quả cầu lửa vĩ đại từ từ đội biển nhú dần lên. Đến lúc mặt trời thoát ra khỏi chân trời thì cũng là lúc nó nở một nụ cười rạng rỡ, tươi tắn, chào đón một ngày mới. Những tia nắng vàng được ban phát đi khắp nơi nơi. Nó tan chảy trên bờ cát trắng tô hồng những khuôn mặt rạng ngời. Nắng vỡ òa trong gió nâng cả bầu trời lên cao. Nắng nhảy nhót trên sóng nước hòa cùng bài ca bất tận của thiên nhiên. Bãi cát sau một đêm uống sương bây giờ trở nên ướt át màu nâu sẫm. Phải chăng vì lưu luyến những người con yêu dấu của quê hương, cát đã lưu giữ, in hình những đôi bàn chân trần của ai đó đã qua. Những hạt cát ngái ngủ bị sóng đánh thức nó giật mình chuyển động nhẹ rồi vươn vai thức dậy. Những hạt cát nhỏ li ti vàng óng như kim sa được xây thành một lâu đài lung linh, lộng lẫy. Vừng đông đã thực sự hiện ra rực rỡ giữa màu mây trắng, chiếu ánh sáng kì diệu xuống vạn vật thì mặt biển lóe sáng một màu trắng bạc. Ánh sáng ấy phủ lên mặt biển, lan tỏa rất đẹp. Màu xanh của trời, màu xanh của nước hòa lẫn với màu sắc của mặt trời tạo nên một màu sắc kì ảo trên biển. Cảnh biển lúc này chẳng khác j` một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ !

Trong ánh sáng dịu dàng đầu buổi bình minh, những tiếng nói, tiếng cười vang rộn cả bãi biển xôn xao bàn luận về chuyện bác chài đánh cá về những con thuyền ra khơi. Ngoài xa, sóng trở nên phẳng lặng nằm im. Phải chăng nó cũng đang chạnh lòng buồn bã vì không được đùa giỡn với đám trẻ nhỏ. Hiểu được điều đó những con sóng sau khi đã rút ra xa thì nhường chỗ cho những làn sóng khác lan vào bờ để một lần nữa ca lên bản nhạc muôn thuở của biển khơi. Đoàn thuyền đánh cá rẽ màn sương bạc ra khơi. Bỗng tháp thoáng những con thuyền giữa muôn ngàn sóng nước làm náo nức, xôn xao cả mặt biển. Những cánh buồm vút cao thon thả nhìn xa chẳng khác gì những con chim cổ trắng đang rướn cao như muốn cất tiếng hót. Chúng được nắng chiếu vào hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh. . Cũng có những cánh buồm ánh lên dưới tia nắng mặt trời. Mọi người dắt tay nhau dạo trên bãi biển, nói chuyện vui vẻ. Khuôn mặt rạng ngời, nở một nụ cười tươi tắn.

Những ngày nghỉ ở bãi biển Sầm Sơn trôi qua thật mau nhưng cảnh bình minh trên biển luôn mãi mãi in sâu vào tâm trí em, một vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kiêu kì muôn màu muôn sắc ấy do mây, trời, ánh sáng tạo nên.Trong mắt tôi, mỗi buôi bình minh trên biển trở nên thật hiền hòa. Trong mắt biển, tôi chỉ là một sinh linh nhỏ bé. Nếu như những làn sóng và bờ cát trên biển là người mẹ thì với tôi biển như một thiên thần.

Câu trả lời:

Tuổi thơ em gắn liền với vẻ đẹp của con sông quê hương êm đềm và mát dịu. Con sông quanh co, uốn lươn như giải lụa xanh quàng lên tấm áo màu mỡ của quê em. Nó thể hiện sức sống mãnh liệt và sự tươi trẻ của làng quê nơi em sinh ra và lớn lên.

Buổi sớm, sương mù giăng giăng trên mặt nước làm dòng sông trở nên huyền ảo như đang ngủ trong tấm chăn sương êm ắm. Bờ dâu, bãi mía bên kia sông thấp thoáng,ẩn hiện như một vệt khói xanh, dài tít tắp, Dãy thuyền chài đã bập bùng ánh lửa làm tôn thêm vể mờ ảo của dòng sông.

Ông mặt trời thức dậy, phá tan màn sương sớm bằng những tia nắng sắc nhọn. Dòng sông bừng tỉnh. Nó đã thay thế chiếc áo ngủ bằng chiếc áo khoác màu hồng đào lấp lánh kim tuyến. Những chiếc thuyền đánh cá đã buông chèo, khua nước làm dòng sông càng trở nên nhộn nhịp. Hai bên triền sông là những bãi dâu, bãi ngô xanh mướt và xóm làng trù phú với những cây tre đan nắng, soi bóng xuống mặt sông.

Buổi trưa, dòng sông im lặng hẳn, chỉ còn nghe tiếng “cạch,cạch” của người nào đi thuyền về muộn. Mọi vật như đều nghi ngơi trong tiếng ru trầm ắm của gió.

Chiều tà, ánh hoàng hôn đỏ sẵm chiếu xuống mặt sông. Trẻ con rủ nhau ra tắm. Chung té nước vào nhau cười nắc nẻ và lặn ngụp như những chú rái cá thực thụ. Sông ôm lấy những đứa trẻ nghịch ngợm và hồn nhiên vào lòng bằng những con sóng nhè nhẹ. Em thì thích nhất khi được bắt dế bên bờ sông hay mua ngô nướng ở chân đê.

Em yêu dòng sông cũng như yêu kỷ niệm của tuổi thơ. Nó đã vun đắp cho tình yêu quê hương, đất nước của em thêm rộng lớn. Em hứa sẽ học tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương đát nước giàu đẹp, văn minh hơn.

Câu trả lời:

Thủ đô Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử. Trong đó Văn Miếu Quốc Tử Giám là một trong những di tích tiêu biểu, ghi nhận những thành tựu văn hoá của Đại Việt đã ngót nghìn năm của Thăng Long cố đô.

Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070 để làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho như: Khổng Tử, Mạnh Tử... những vị danh nho đáng kính được người đời vị nể tôn sùng. Sáu năm sau, năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây dựng liền kề sau Văn Miếu. Ban đầu nơi đây dùng cho các hoàng tử đến học, sau mở rộng thu nhận thêm các học trò giỏi trong toàn quốc.

Đứng từ đường Quán Thánh bạn sẽ nhìn thấy Văn Miếu cổ xưa với lớp tường bao quanh bằng gạch, cổng chính được xây dựng theo điện hoàng môn với dòng chữ nho được khắc tạc đã phai màu theo thời gian: Văn Miếu Môn. Hai bên cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ.

Từ phố xá tấp nập ồn ào, bước vào phía trong cổng Văn Miếu bạn sẽ cảm nhận được một không gian thoáng mát yên lành như bước vào cõi phật cõi tiên. Một khoảng sân rộng với nhiều tượng đá tạc chân dung các mãnh tướng sư tử, hổ... như gợi lại không khí linh thiêng oai hùng của lịch sử ngàn năm xưa bên những gốc si xanh già cổ thụ mấy trăm tuổi. Lối đi giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn, mở đầu cho khu thứ hai, hai bên còn có hai cổng nhỏ. Bạn đến đây muốn thắp nén nhang lạy tạ các thánh thần cầu ban phước lành trí tuệ anh minh thì hãy dừng chân tại Đại Trung Môn bên bát hương lớn đặt giữa cửa vào.

Tiếp sau Đại Trung Môn là Khuê Văn Các được xây dựng từ năm 1805, có kiến trúc đẹp, mang nhiều ý nghĩa và đã được chọn là biểu tượng chính thức cho thủ đô Hà Nội. Khu thứ ba là Khuê Văn Các tới Đại Thành Môn có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ, những trạng nguyên khoa bảng ngày xưa. Hiện trong Văn Miếu còn lại 82 tấm bia tiến sĩ của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đây là những di vật quý nhất của Văn Miếu.

Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Ở đây có sân rộng, hai bên là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái và Hậu Cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây còn một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1786, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt khắc bài văn nói về công dụng của các loại nhạc khí này.

Sau khu Đại Bái là trường Quốc Tử Giám đời Lê, một loại trường Đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đồn Khải Thánh thờ song thân Khổng Tử, nhưng đền này đã bị hư hỏng trong chiến tranh. Nhà Thái Học đã được xây dựng lại vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội.

Người Việt Nam và du khách nước ngoài nhớ về Hà Nội tìm về Văn Miếu như tìm về chốn văn hiến ngàn năm của nước Việt. Chính vì vậy từ rất lâu Văn Miếu trở thành điểm du lịch phổ biến đối với du khách trong và ngoài nước.

Văn Miếu mang một nét đẹp văn hoá trong lịch sử của dân tộc ta, mang ý nghĩa biểu trưng cho tiến trình văn hoá của Việt Nam, là một bằng chứng về sự đóng góp của Việt Nam vào nền văn minh Nho giáo của khu vực và nền văn hoá mang ý nghĩa nhân văn toàn thế giới. Mỗi năm vào dịp đầu năm học những "trạng nguyên" thời nay được tụ hội về đây dâng nén hương thơm tưởng nhớ và biết ơn tới các danh Nho xưa, đồng thời như một sự báo công cùng ý nguyện kế tục phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc.


Câu trả lời:

I. GIỚI THIỆU MỘT PHƯƠNG PHÁP (CÁCH LÀM)

- Khi cần thuyết minh cách làm một đồ vật (hay cách nấu món ăn, may áo quần...) người ta thường nêu những nội dung sau:

+ Nguyên vật liệu

+ Cách làm

+ Yêu cầu thành phẩm

- Cách làm được trình bày cái nào làm trước, cái nào làm sau theo một thứ tự nhất định thì mới cho kết quả mong muốn.

II. LUYỆN TẬP

1. Trò chơi “Thi thổi cơm”

a. Số lượng người tham gia: từng cặp trai gái (khoảng 3 đến 5 cặp)

b. Vật dụng cần chuẩn bị cho từng cặp trai gái:

- Nồi đất

- Đôi đũa cái

- Củi, lửa

- Gạo đã vo

- Khăn bịt mắt và khăn buộc tay

c. Cách chơi:

- Bịt mắt người con gái, buộc tay người con trai

- Sau ba hồi trống, từng đôi trai gái phải nhanh chóng và khéo léo bổ sung cho nhau để nhen lửa, nấu cơm chín sớm nhất ngon nhất.

- Sau một thời gian được qui định cụ thể, ba hồi trống báo hiệu thời gian nấu cơm đã kết thúc. Từng đôi trai gái phải ngừng tay lại, đợi ban giám khảo đến chấm điểm.

d. Yêu cầu:

- Về phía người chơi, mắt của người con gái phải được bịt kín, tay của người con trai phải buộc chặt.

- Về phía sản phẩm: cơm phải chín đều, ngon và chín trong thời gian ít nhất.

2. - Cách đặt vấn đề đi từ rộng đến hẹp. Cụ thể bài giới thiệu “Phương pháp đọc nhanh” trình bày lần lượt các ý sau:

+ Vai trò quan trọng không thê thay thế của con người ở thời đại khoa học, máy móc phát triển.

+ Để gánh vác được vai trò đó, con người cần phải đọc

+ Số lượng rất lớn về đầu sách, trang in của ngành in thế giới.

+ Cách đọc như thế nào trước núi tư liệu có.

- Các cách đọc:

+ Đọc thành tiếng

+ Đọc thầm gồm đọc theo dòng và đọc ý)

- Nội dung và hiệu quả của phương pháp đọc nhanh được nêu trong bài:

- Về nội dung, phương pháp đọc nhanh là cách đọc không theo câu mà thu nhận ý chung trong bài viết qua các từ ngữ chủ yếu.

+ Về hiệu quả, đây là cách đọc cho phép ta thu nhận thông tin cần thiết trong một đoạn văn, một trang sách, lọc bỏ những thông tin không cần thiết, thu nhận thông tin nhiều mà tốn ít thời gian, đặc biệt cơ mắt ít mói.

- Những số liệu trong bài có ý nghĩa chứng minh, tăng sức thuyết phục đối với việc giới thiệu phương pháp đọc nhanh.

Câu trả lời:

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã lái con tàu cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ. Nhắc đến Bác ta không thể nào quên phong cách sống vô cùng giản dị và thanh bạch của Người mà ít ai có được.

Phong cách sống giản dị của Bác đã thể hiện từ lúc Bác còn là chàng thanh niên trẻ tuổi. Khi ra nước ngoài để tìm đường cứu nước, Bác làm mọi việc không ngại gian khổ, cực nhọc. Nào là phụ bếp trên tàu, nào là cào tuyết giữa mùa đông giá lạnh, ở châu Âu trong mùa đông lạnh giá, một viên gạch hồng cũng đủ làm Bác vượt qua.. Khi về nước lãnh đạo cách mạng, Bác đã từng nhịn, đói để cùng đồng bào lập “hũ gạo cứu đói” cứu dân nghèo.

Trong bữa ăn, Bác không làm. vãi một hạt cơm nào. Bác tiết kiệm từng que diêm, tiết kiệm từng tí thức ăn vì Bác nghĩ rằng đó là công sức của người lao động. Trong cuộc sống, Bác thích lao động, Bác tự mình làm những công việc mà có thể làm được.

Ta không thể nào tưởng tượng được cảnh sống đạm bạc của Bác. Là lãnh tụ của một nước, thế nhưng, ngôi nhà Bác ở thật đơn sơ, mộc mạc, với những tiện nghi giản đơn. Dù đã đứng đầu một nước nhưng Bác vẫn sống giản dị nơi mái nhà xưa:

Ngôi nhà thuở Bác thiếu thời
Nghiêng nghiêng mái lợp bao đời nắng mưa
Chiếc giường tre quá đơn sơ
Võng gai ru mát những trưa nắng hè.

Ngôi nhà Bác sống mang đậm hồn nông thôn, nó chẳng khác nào những ngôi nhà của người nông dân bình thường ở làng quê Việt Nam trong những năm đất nước còn nghèo khó. Điểm đặc biệt của vườn nhà Bác là phong cảnh rất hữu tình, vườn nhà luôn lộng gió và ánh sáng luôn phảng phất hương thơm của hoa vườn. Gió thiên nhiên, gió thời đại hòa quyện vào nhau. Ánh sáng mặt trời, ánh sáng chân lí, ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn tràn ngập trong vườn nhà Bác. Tuy giản dị biết bao nhưng cũng cao quý biết bao, vĩ đại biết bao.

Đức tính giản dị nơi Bác còn thể hiện ở bữa cơm hàng ngày. Bữa cơm chỉ có vài ba món giản đơn, Bác thích ăn những món ăn dân tộc, không chút cầu kì. Bác thích nhất là cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa. Bác của chúng ta thích hòa đồng vào quần chúng, thích làm việc với quần chúng, Bác đã từng một nắng hai sương với người lao động. Bác chẳng thích ăn những món cao sang, không thích mặc những bộ quần áo đắt tiền.

Trang phục của Bác là bộ bà ba hay bộ ka – ki giản dị. Chiếc áo trấn thủ cùng đôi đép lốp thô sơ của các chiến sĩ Trường Sơn cũng là của lãnh tụ.

Lối sống của Bác giản dị như thế, đúng như lời bình luận về Người: “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao làm cung điện của mình”. Dù lịch sử có thế nào, thời cuộc có chuyển biến ra sao đi chăng nữa thì lối sống giản dị của Bác vẫn không hề thay đổi. Khi Bác sống và làm việc ở nước ngoài, Bác hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa châu Á, châu Âu kể cả châu Phi, châu Mỹ, Bác tiếp xúc nhiều với nền văn hóa phương Tây nhưng phong cách sống của Bác rất Phương Đông, rất Việt Nam. Bậc chọn lọc những tinh hoa của nền văn hóa các nước để mang về Việt Nam, giúp cho văn hóa Việt Nam đậm nét hiện đại, thẩm mĩ. Lối sống giản dị và thanh bạch của Bác còn thể hiện trong ước muốn mà Người đã từng tâm.sự: “Ước nguyện của Bác là khi hoàn thành tâm nguyện cứu nước, cứu dân, Bác sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu tới vòng danh lợi”. Tuy thế, Bác không sống khắc khổ như những nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiện triết ẩn dật, Bác sống vật chất giản dị nhưng tâm hồn vô cung phong phú. Bác yêu thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá. Một con suối, một ánh trăng, một con người.. cũng đủ cho Bác làm nên những vần thơ lớn.

Đức tính giản dị của Bác cũng đã thể hiện trong lời nói và bài viết. Chân lí Bác nêu ra thật ngắn gọn, cụ thể nhưng vô cùng sâu sắc. Chân lí “Không có gí quý hơn độc lập tự do” mà Bác nêu ra thật thấu đáo và cũng giản dị vô cùng, chỉ một câu ngắn gọn thôi nhưng nó khắc sâu trong tâm khảm của mỗi con người, nó thấm đẫm vào hàng triệu trái tim yêu nước, nó là động lực giúp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi vẻ vang.

Thế đấy, Bác của chúng ta là như thế. Bác đã hiến dâng trọn đời mình cho dân tộc Việt Nam. Bao nhiêu năm trăn trở vì đất nước, bao nhiêu năm khổ nhọc vì dân tộc, Bác vẫn không nghĩ đến riêng mình, lúc nào Bác cũng sống giản dị, lúc nào cũng lo cho nhân dân và đất nước. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy.

Như dòng sông đỏ nặng phù sa.

Tình cằm bao la của Bác đã đi sâu vào muôn triệu trái tim dân tộc Việt Nam. Phong cách sống giản dị, thanh bạch của Bác là tấm gương chiếu sáng muôn đời. Mỗi người Việt Nam không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Câu trả lời:

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước, vì dân, dù ở bất kỳ cương vị nào, từ một người phụ bếp trên con tàu “Amiran Latouche Tre ville” lúc ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Bác Hồ vẫn giữ một nếp sống vô cùng giản dị. Đó cũng chính là điểm nổi bật trong phong cách, đạo đức của Người.

Theo lời kể của những người từng được sống gần Bác hoặc qua những tư liệu còn lưu trữ được, chúng ta thấy việc ăn, mặc, ở cũng như sinh hoạt, chi tiêu hàng ngày Bác đều hết sức tiết kiệm. Mỗi bữa ăn, Bác quy định không quá 3 món và thường là các món dân tộc như: tương cà, dưa, cá kho… Bác bảo ăn món gì phải hết món ấy, không được để lãng phí. Có quả chuối hơi “nẫu”, nhiều người ngại không ăn, Bác bảo lấy dao gọt phần nẫu đi để ăn. Khi đi công tác các địa phương, Bác thường bảo các đồng chí phục vụ chuẩn bị cơm nắm, thức ăn từ nhà mang đi. Chỉ khi nào công tác ở đâu lâu, Bác mới chịu ăn cơm, nhưng trước khi ăn, bao giờ Bác cũng dặn “chủ nhà” là: Đoàn đi có từng này người, nếu được, chỉ ăn từng này, từng này…

Có thể dẫn ra nhiều câu chuyện về cách ăn uống chắt chiu, tiết kiệm của Bác. Thậm chí liên hoan chào mừng Ngày thành lập Đảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh và đĩa cá. Khi tiếp đãi khách, Bác thường nói: “Chủ yếu là thật lòng với nhau”. Chiêu đãi đồng chí Lý Bội Quần, người Trung Quốc đã giúp Bác mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng mang về, Bác cũng chỉ “khao” một món canh và hai đĩa thức ăn, có thêm chén rượu gạo, tổng cộng chưa hết một đồng bạc, thế mà vẫn đậm đà tình cảm giữa chủ và khách.

Bác nói: Ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì không nên. Hơn nữa, Bác luôn nghĩ đến người khác, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình. Bác sẻ cho người này, sẻ cho người kia rồi sau cùng mới đến phần mình và phần Bác thường là ít nhất.

Trong trang phục hàng ngày, Bác chỉ có bộ quần áo dạ màu đen mặc khi đi ra nước ngoài; chiếc mũ cát Bác đội khi đi ra ngoài trời; chiếc áo bông, áo len Bác mặc trong mùa lạnh và một vài bộ quần áo gụ Bác mặc làm việc mùa hè. Nói về sự giản dị trong cách ăn mặc của Bác, có lẽ ấn tượng nhất phải kể đến đôi dép cao su và bộ quần áo ka-ki. Đôi dép cao su được Bác dùng hơn 20 năm đến khi mòn gót phải lấy một miếng cao su khác vá vào, các quai hay bị tuột phải đóng đinh giữ. Còn bộ quần áo ka-ki Bác mặc đến khi bạc màu, sờn cổ áo. Những người giúp việc xin Bác thay bộ quần áo mới thì Bác bảo: “Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của dân, của nước, không cần phải thay”.

Về chỗ ở, khi Bác mới về nước là một hang đá thuộc Pắc Pó, Cao Bằng. Sau này vì bí mật nên Bác phải ở nhà riêng nhưng rất đơn giản. Nhà làm nhỏ, bốn bề với tay được vì tiết kiệm nguyên vật liệu. Đến năm 1954, Chính phủ chuyển về thủ đô Hà Nội, nhiều người đề nghị Bác ở Phủ Toàn quyền Đông Dương tráng lệ, nhưng Bác đã từ chối và chỉ chọn căn phòng nhỏ của người thợ điện đơn sơ bên ao cá để ở. Mãi đến ngày 17-5-1958, Bác mới chuyển về ở căn nhà sàn chỉ vẻn vẹn có 23,14 m2 cho đến lúc qua đời.

Nhận xét về nếp sống giản dị của Bác, một tờ báo nước Pháp đã viết: “Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hạ mình cho khổ sở, mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông…”.

Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp. Người tiết kiệm nhưng không ki bo, kiệt xỉ, không lãng phí, phô trương. Noi gương Người, học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người, thiết nghĩ mỗi cán bộ, đảng viên cần rèn luyện, tu dưỡng mình theo Chỉ thị 06 của Bộ Chính trị (khóa X). Điều này tưởng dễ nhưng lại rất khó. Dễ vì nếp sống của Bác rất bình thường, đơn giản nếu quyết tâm thì ai cũng làm được. Còn khó vì nếu không có tâm trong sáng, không có chí hướng, có lý tưởng, không có lòng yêu thương con người thực sự thì không thể làm được. Ngày nay, xã hội phát triển, mức sống đã cao hơn trước rất nhiều nên chúng ta đang dần được ăn ngon mặc đẹp. Song là cán bộ, đảng viên – “người đầy tớ” của dân, chúng ta phải biết hy sinh lợi ích, tham vọng của cá nhân mình để phấn đấu xây dựng một đất nước mạnh giàu theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn