Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 4
Số lượng câu trả lời 55
Điểm GP 13
Điểm SP 36

Người theo dõi (3)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Tuy thỏ hoang có khả năng gia tốc lớn, vận tốc tối đa đạt được cao, nhưng sức bền kém do cơ thể nhỏ, số năng lượng dự trữ không nhiều, vì vậy mà chỉ sau một vài khoảnh khắc nếu không tìm được chỗ an toàn hoặc cắt đuôi được kẻ thù thì sẽ bị bắt.

Cáo xáo, chó săn, chó sói về mặt gia tốc và tốc độ tới đa đều thua thỏ hoang. Tuy nhiên, chúng là động vật ăn thịt, cho nên được tạo hóa trang bị cho khướu giác nhạy bén để truy tìm con mồi, khả năng nguy trang ẩn thân tốt để con mồi khó phát hiện khi chúng tiếp cận, 2 mắt có điểm nhìn tập trung tại 1 chỗ nên dễ dàng phát hiện con mồi hơn, cơ thể lớn hơn cho phép một lượng năng lượng dự trữ lớn hơn cho những chuyến săn mồi vì vậy mà sức bền dẻo dai hơn so với thỏ. Nhờ có những đặc điểm đó mà cáo, chó, sói có thêm được một yếu tố bất ngờ nên có thể bắt được con mồi nhanh hơn mình, hơn nữa trong cuộc săn thì chúng có thể truy lùng theo con mồi cho tới khi kiệt sức. Đồng thời bộ não phát triển hơn giúp chúng có thể...nghĩ cách đối phó với những con mồi đã ở trong khu vực an toàn. (ví dụ một số loài cáo có thể săn chuột, thỏ trong hang).

Câu trả lời:

có hàng triệu loài thú. Nếu ý em là vài trò chung của lớp thú. Thì mỗi loài đóng vai trò quan trọng trong chuỗi năng lượng. Nói một cách đơn giản hơn, đó là chuỗi thức ăn và rộng hơn là lưới thức ăn. Loài ăn cỏ sẽ chuyển hóa năng lượng từ thực vật vào cơ thể, loài ăn thịt có chức năng kiềm hãm các loài ăn cỏ lại, không để chúng phát triển mạnh tới mức có thể xóa sạch những sinh vật sản xuất (thực vật), và những loài ăn tạp thì có cả 2 vai trò trên.

Nếu là nói tới vai trò đối với con người thì cũng có rất nhiều, ví dụ như: sản xuất ra vacxin và nhiều loại thuốc quan trọng; là vật để thí nghiệm, tìm hiểu nhằm phục vụ sức khỏe của con người; phụ giúp những công việc cần sức lao động lớn như trâu bò, ngựa, chó; giúp kiềm hãm tội phạm, truy tìm dấu vết bằng những giác quan nhạy bén hơn con người từ vài chục tới vài trăm lần như chó, heo (ở một số nơi, người ta dùng heo để tìm nấm cục - một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và rất đắt tiền); trước khi điện thoại và internet trở nên thông dụng thì có bồ câu truyền thư; làm thực phẩm hằng ngày như gà, bò, heo, vv...; làm vật trang trí, thú cưng; và còn rất nhiều vai trò khác.

Biện pháp bảo vệ các loài trong lớp thú đó là bảo vệ môi trường sống của chúng bằng cách lập các vườn quốc gia, vườn cấm, khu vực cấm săn bắt, theo dõi những loài quý hiếm để bảo vệ, kiềm hãm những loài phát triển quá mạnh để tránh ảnh hưởng tới những loài khác, cấm săn bắt trái phép và truy lùng, ngăn chặn những tay săn trộm, đồng thời tuyên truyền, nâng cao ý thức của mỗi người về vai trò, tác dụng của từng loài thú đối với chúng ta, giá trị của chúng và việc cấp thiết để bảo vệ chúng đến mức nào. Đối với những loài phát triển quá mạnh, có thể cho phép săn bắn để kiềm hãm, nhưng phải trong giới hạn, ví dụ một người có thể đăng kí và săn bao nhiêu con trong 1 năm, ngoài số đã đăng kí thì sẽ phạt nặng. Nhưng ở Việt Nam, vì số lượng loài và cá thể mỗi loài đều giảm mạnh tới mức đáng báo động cho nên đừng nêu tới việc cho phép săn bắn bất kì loài nào.

Câu trả lời:

1: - Cấu tạo vỏ của hạt là rất đặc biệt, khi có thể chịu được áp lực lớn từ phía bên ngoài để bảo vệ mầm ngủ bên trong. Vì có cấu trúc Parabol bao bọc phôi cho nên có khả năng chịu được những lực công phá tương đối cho tới lớn từ bên ngoài (tùy vào từng loài mà có khả năng chịu lực lớn tới đâu), nhưng lại có thể dễ dàng nứt vỡ từ bên trong, dù chỉ là một lực tác động không lớn cho lắm.

- Trong quá trình nước ngấm qua vỏ hạt khi gặp điều kiện thích hợp, vỏ hạt đã mềm hơn và dễ dàng bị hủy hơn.

- Khi mầm ngủ thức giấc, qua quá trình hút nước - vật chất cần thiết nhất cho sự sống - mỗi tế bào của mầm sẽ huy động dinh dưỡng từ lá mầm của hạt để tổng hợp những chất cần thiết cho sự tăng trưởng của mầm. Các tế bào gốc bắt đầu phân chia, biệt hóa, và lớn lên dần. Một tập hợp lớn những tế bào cùng lúc lớn lên sẽ gây ra một lực đẩy tương đối lớn lên vỏ, khiến vỏ hạt nứt vỡ, và hạt có thể nảy mầm.

2: vì khả năng chịu được áp lực từ môi trường ô nhiễm, dinh dưỡng lấy từ những những nguồn ô nhiễm để sử dụng từ đó làm sạch môi trường đất, khí. Và chất thải của quá trình sinh trưởng không làm ô nhiễm môi trường sống xung quanh chúng.

3: cũng tương tự như cây trúc đào ở câu 2, khác là chúng sống trong môi trường nước và lấy dinh dưỡng từ nước, nên buộc phải lọc nước để tìm kiếm nguồn dinh dưỡng hiếm hoi cần cho sự phát triển.

4: Tổ hợp alen. Đọc thí nghiệm trên Đậu Hà Lan của Menđen sẽ hiểu vì sao nó là như vậy.

Câu trả lời:

Câu hỏi thú vị!

Chức năng của mỗi giới tính trong một loài là khác nhau. Cá thể cái ở những động vật bậc cao có nhiệm vụ rất quan trọng đó là "đèo bòng" những con non hoặc trứng cho thế hệ tiếp theo. Chính vì trong quá trình sinh sản, những cá thể cái sẽ chịu cả áp lực từ môi trường sống và áp lực từ thế hệ mà nó sẽ sinh ra, nên một số chức năng sống buộc phải tiêu giảm bởi vì duy trì nòi giống quan trọng hơn việc sinh tồn. Trong khi cá thể đực thường "gửi gắm" thế hệ tiếp theo qua cá thể cái, nên áp lực về mặt sinh sản là không cao. Bởi thế mà cá thể đực có thể chú trọng việc sinh tồn hơn là việc duy trì nòi giống.

Con người cũng là một sinh vật bậc cao, nên có sự khác biệt rất lớn giữa tâm sinh lí nam và nữ. Ở nam, sẽ đáp ứng với những áp lực môi trường lớn hơn, để có thể bảo vệ, chăm lo cho nữ cũng như thế hệ tiếp theo của cá thể. Trong khi ở nữ, sự đáp ứng kích thích từ môi trường bị giảm thiểu hơn, bởi vì phải đáp ứng áp lực từ thế hệ tiếp theo của cá thể trong quá trình sinh sản. Chính vì vậy mới có sự khác biệt giữa tâm sinh lí giữa 2 giới tính.

p/s: nếu là cơ thể nam mang thai thì mọi chuyện sẽ đảo ngược lại!

Câu trả lời:

Một câu hỏi khá thú vị!

Anh có thể tóm gọn lại như sau:

- Tất cả các loài, đều có một môi trường sống thích hợp cho chúng phát triển về mặt cá thể, hay về mặt loài. Một số loài đã tồn tại hàng vạn năm, thậm chí trăm ngàn năm nhưng không có sự thay đổi nhiều về mặt tiến hóa, vì chúng đã tồn tại và phát triển trong môi trường sống thích hợp, khả năng cạnh tranh đủ để không cần phải thêm chức năng gì về mặt cơ thể. Vì vậy chúng không cần phải tiến hóa.

- Tiến hóa, cần áp lực môi trường, và cần đột biến gene. Mà khi môi trường xung quanh không có quá nhiều áp lực, thì những gene đột biến cũng không có tác dụng, thậm chí là gây hại cho cá thể nào có mang những gene đột biến không thích hợp. Cho nên, với môi trường không có áp lực tiến hóa với một loài nào đó, thì chúng không cần phải tiến hóa.

- Về mặt đột biến ở cấp độ phân tử, có rất nhiều đột biến, và mỗi cá thể đều mang những gene đột biến di truyền từ thế hệ trước, cộng thêm với những đột biến chỉ có cá thể đó mới có. Mà khi môi trường không tạo áp lực tiến hóa, thì những gene đột biến không có cơ hội biểu hiện, cá thể mang đột biến cũng không khác các thể khác trong loài. Thậm chí có một số gene đột biến nếu biểu hiện sẽ làm giảm khả năng sống sót và sinh sản của cá thể. Chỉ khi môi trường tạo áp lực đột biến, chọn lọc một số gene biểu hiện làm cá thể tăng khả năng sinh tồn, bằng không thì mọi đột biến đều là vô nghĩa.

- Môi trường thích hợp, chính là môi trường mà áp lực không quá lớn đến nỗi buộc loài phải tiến hóa, và những tính trạng của loài không cần phải thay đổi để thích nghi, thì loài đó còn tồn tại, cho tới khi nào môi trường thay đổi, tạo áp lực lên chúng.

- Trong xã hội loài người chúng ta, có người thông minh, có người ngốc nghếch, có người thấp, có người cao, có người béo, có người gầy, có người tóc vàng, có người tóc bạch kim. Thì trong tự nhiên cũng như vậy, chỉ là mô hình lớn hơn, và cấp độ lớn hơn. Từ đó có thể hình dung ra trong cây tiến hóa, mọi loài đều có xuất phát điểm gần như là 1. Nhưng vì áp lực môi trường mà có loài sẽ tiến hóa nhanh hơn, xa hơn, có loài chậm hơn, gần hơn. Vì điều kiện sinh sống mà có loài không cần tứ chi như rắn, thằn lằn không chân, nhưng cũng có loài biến chiếc đuôi hoặc mũi trở thành chi thứ 5 có thể cầm nắm như Voọc hoặc voi.

Tóm lại, vì môi trường và điều kiện sống của mỗi loài cùng với khả năng đáp ứng với các kích thích của môi trường mà mỗi loài đều có sự tiến hóa khác nhau. Bởi vậy mà có loài bậc cao, có loài bậc thấp. Và trên lí thuyết thì chỉ có môi trường nguyên thủy sơ khai mới toàn là sinh vật bậc thấp, cũng như không thể nào tồn tại một môi trường chỉ toàn là sinh vật bậc cao.