Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 17
Số lượng câu trả lời 619
Điểm GP 104
Điểm SP 553

Người theo dõi (106)

Vũ Thị Phương
Phuong Nguyen
Cai Xuting

Đang theo dõi (38)


Câu trả lời:

Tôi chưa hẳn đã là đứa con ngoan của mẹ. Bởi cái tính ngang ngành của mình mà nhiều lúc tôi đã khiến mẹ không vừa lòng. Có một lần tô: nhớ mãi Không hiểu sao đã hơn một năm trôi qua, nhưng mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn hình dung thật rõ hình ảnh của mẹ lúc ấy.

Đó là một ngày cuối năm học lớp bốn của tôi. Do sự rủ rê của bạn bè mà tôi thường dối mẹ, trốn học bỏ đi chơi. Nhiều lần như thế lặp đi lặp lại. Kết quả học tập của tôi sút đi trông thấy. Hình như cô giáo đã trao đổi vơi mẹ. Trưa hôm ấy, khi tôi đi học về đã thấy mẹ đợi sẩn ở nhà từ bao giờ. Mọi hôm, mẹ thường đi làm về muộn hơn tôi. Biết có chuyện, tôi định lỉnh ngay ra sau nhà. Nhưng mẹ đã gọi lại. Mẹ hỏi chuyện học của tôi ở lớp. Lẽ dĩ nhiên là tôi đã trả lời trơn tru. Khi mẹ yêu cầu tôi đưa bài vở của mình cho mẹ xem, tôi gắt lên: ‘Mẹ không có quyền xem sách vở của con! ‘. Đang cầm chiếc cặp của tôi trên tay, mẹ sững lại. Trong đôi mắt mẹ thoảng qua một chút ngạc nhiên. Một chút bối rối. Một chút đau đớn và bực bội. Cái cặp rơi xuống, sổ tung ra. Những bài kiểm tra 3 điểm, 4 điểm, những trang vở ghi nguệch ngoạc... như phơi ra. Tôi thuỗn mặt, không còn chối cãi vào đâu nữa. Mẹ im lặng đi vào buồng trong khiến tôi đứng như trời trồng giữa nhà.

Buổi trưa hôm ấy trôi qua thật nặng nề. Bố và chị về thăm ông bà nội, chỉ còn tôi và mẹ trong căn nhà rộng thênh. Mẹ lặng lẽ soạn sửa cho bữa cơm trưa. Chỉ một mình, không cần tôi trợ giúp như mọi hôm. Len lén đứng ở cửa bếp nhìn vào, tôi thầy rõ nỗi buồn trên gương mặt mẹ. Đôi tay mẹ cứ làm nhưng ánh mắt của mẹ dường như vô cảm. Có lúc đang nhặt rau, mẹ ngồi thần ra. Có lúc lại bỏ nhầm những cọng rau vào rổ rau đã nhặt sạch. Thái độ của mẹ làm tôi thấy sợ quá. Thường ngày mẹ rất vui tính, lại hay nói hài hước khiến cho cả nhà cùng cười. Thế mà hôm nay... chưa bao giờ tôi có dịp nhìn kĩ mẹ đến vậy. Nước

da đã xạm lại. Gương mặt nghiêm nghị đã đầy những nếp nhăn và vết chân chim. Mấy sợi gân xanh nổi lên trên vầng trán rộng. Khuôn miệng không còn tươi thắm như trước. Tuổi già đã đến với mẹ rồi ư? Tôi chợt muôn òa khóc. Suốt bữa cơm, mẹ im lặng. Thỉnh thoảng mẹ vẫn gắp thức ăn bỏ vào bát cho tôi. Nhưng tôi làm sao có thể ăn nổi. Tôi chỉ muốn nói lên một lời: ‘Con xin lỗi... ‘. Nhưng cái tính ngang ngạnh hay nỗi sợ hãi đã làm cho lưỡi tôi cứng đơ, không thốt ra được.

Chỉ ăn hết lưng cơm rồi mẹ đặt bát xuống. Hình như mẹ đang nén tiếng thở dài. Chưa kịp nghỉ ngơi, mẹ đã lại vội vã đi làm ca chiều, để tôi một mình ở nhà với một tâm trạng lo buồn. Lũ bạn í ới gọi ngoài ngõ nhưng tôi làm sao có thể đi chơi cùng chúng được. Những điểm 3, điểm 4 trong trang giấy kiểm tra bị sổ tung rơi xuống nền nhà hồi trưa. Ánh mắt thẫn thờ của mẹ. Chưa bao giờ tôi thấy mình tệ như vậy. Và tôi biết mẹ buồn vì sự sa sút trong học tập của tôi thì ít, còn mẹ đau đớn vì thái độ hỗn láo, ngang ngạnh của tôi thì nhiều, vắng tiếng cười vui và những câu nói đùa của mẹ, tự nhiên tôi thấy mình đơn độc. Nước mắt cứ thế trào ra.

Tối hôm ấy, mẹ đi nằm sớm, mặt quay vào vách tường, lặng lẽ. Ngập ngừng mãi nơi cửa buồng, tôi mới dám len lén bước vào, ghé xuống nằm bên cạnh mẹ, không nhúc nhích. Nhắm mắt vờ ngủ, nhưng tôi vẫn cảm nhận được tiếng thở dài khe khẽ của mẹ. Hình như mẹ trở mình. Tôi biết mẹ đang rất buồn. ‘Con xin lỗi mẹ, mẹ ơi! ‘. Tôi thầm kêu lên trong lòng như vậy. Nước mắt đầm đìa chảy trào trên má, rơi xuống gối. Tôi thèm được mẹ vuốt ve mái tóc. Tôi thèm được mẹ ôm vào lòng... Bỗng tôi cảm thấy hơi thở ấm áp của mẹ rất gần. Rồi bàn tay thô ráp của mẹ áp vào má tôi, lau những giọt nước mắt cho tôi. Mẹ ôm tôi vào lòng thì thầm: ‘Ôi con gái yêu của mẹ! Con ngủ mê rồi đây này! ‘. Chao ôi! Buồn lòng đến vậy nhưng mẹ vẫn thương tôi vô cùng. Mẹ không hề giận tôi nữa ư? Mẹ đã tha thứ cho tôi rồi ư! Tôi nằm im không nhúc nhích, cứ sợ rằng đó chỉ là giấc mơ...

Thời gian cứ trôi qua. Tôi dần lớn khôn. Nhưng tôi biết rằng hình ảnh mẹ trong cái lần tôi phạm lỗi ấy sẽ đi theo tôi suốt đời, sẽ nhắc nhở tôi sống tốt hơn, sống đẹp hơn. Nhất định như vậy, mẹ ạ!

Câu trả lời:

Cái chết của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao đã để lại cho người đọc một niềm thương cảm sâu sắc.Lão xin Binh Tư ít bả chó với lý do bắt chó nhà khác – một lý do làm Binh Tư nghĩ lão giả bộ hiền lành như thế nhưng cũng ghê ra phết, một lý do làm ông giáo hiểu lầm lão, hiểu lầm một con người đã “khóc vì trót lừa con chó, một con người nhịn ăn để có tiền làm ma”. Vậy nhưng hóa ra, lão ăn bả chó để tự tử. Lão đã chọn cái chết trong còn hơn sống khổ, sống nhục khi bị dồn vào đường cùng. Lão chết vật vã, quằn quại trong đau đớn để chuộc tội với cậu Vàng: “vật vã ở trên giường,đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc…chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, giật nẩy lên”.Chỉ có bằng cách này lão mới khỏi phạm vào mảnh đất thiêng dành cho con mình, mới có thể chấm dứt kiếp sống mòn lay lắt, héo úa. Cái chết của lão Hạc khiến ta đau đớn nhận ra một tình phụ tử thiêng liêng, thăm thẳm.Lão chết để cấy cái sống cho đứa con trai đang đi phu đồn điền biền biệt,vì lão sống ngày nào tức là ăn vào tiền, vào đường sống của con ngày ấy. Xưa nay, không ít người cha người mẹ hi sinh cơm ăn, áo mặc vì con, hi sinh một phần thân thể vì con nhưng hi sinh cả mạng sống của mình như lão Hạc lại là một trường hợp hiếm thấy.Lão Hạc có một tấm lòng thật đáng trân trọng: lòng tự trọng của một lão nông nghèo nhưng trong sạch. Cái chết của lão đã nói lên tình cảnh vá số phận của người nông dân trước cách mạng tháng Tám: đói khổ, bế tắc, cùng đường,…Đồng thời, cũng có ý nghĩa tố cáo hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy người nông dân nghèo vào cuộc sống tăm tối, tàn tệ. Quả thực, cái chết của lão Hạc góp phần làm nên thành công về giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Câu trả lời:

Truyện ngắn Lão Hạc đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện cũng cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với những người nông dân và tài năng nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nam cao, đặc biệt trong việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện.

Nhân vật chính của Lão Hạc chính là nhân vật Lão hạc, xoay quanh câu chuyện bán chó của Lão hạc, Nam Cao đã xây dựng thành công hàng loạt những chi tiết, những tình huống mà qua đó ta có thể thấy được những phẩm chất tốt đẹp của lão. Trước hết, lão Hạc hiện lên là một con người trọng tình, trọng nghĩa, sống thủy chung. Khi vợ lão Hạc mất, để lại cho lão một cậu con trai,lão vô cùng yêu quý người con trai này, sống đơn độc,một thân một mình gà trống nuôi con mà không tính đến chuyện đi bước nữa.

Con người tình nghĩa của lão hạc còn thể hiện thông qua việc bán chó. Từ khi cậu con trai bỏ nhà đi đồn điền cao su,người bạn duy nhất của lão Hạc chính là một con chó được lão đặt tên là Cậu Vàng. Qua cách đặt tên này ta cũng có thể cảm nhận được tình cảm của lão đối với con chó, bởi vậy mà đứng trước quyết định bán chó lão đã vô cùng phân vân, khó xử.

Trải qua một trận ốm nặng, Lão Hạc không thể làm được những công việc nặng, tiền bạc cũng ngót đi không ít, mà lão cùng với một con chó cũng tiêu tốn khá nhiều tiền “Sau trận ốm,lão yếu đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng sợ mất vé sợi, nghề vải đành phải bỏ. Đàn bà dỗi dãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nhàng nào họ tranh giành nhau làm tất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu bị phá sạch sành sanh…Một lão với một con chó,mỗi ngày ba ào gạo, mà ra sự, vẫn con đói deo đói dắt”.

Chính vì sống quá tình nghĩa nên Lão Hạc vô cùng đau khổ, day dứt khi bán đi cậu Vàng. Tuy là tình thế bắt buộc, mặt khác cậu Vàng cũng chỉ là một con chó, nhưng đối với Lão Hạc mà nói thì con chó ấy còn là người bạn, người con, người thân trong gia đình của mình. Bởi vậy mà khi bán cậu Vàng, lão Hạc cảm thấy mình như thế lại đi lừa một con chó : “ A! lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử tôi như thế này à”.

Khi bán chó, Lão Hạc đã sang nhà ông giáo, Nam Cao đã có cách miêu tả đầy chân thực khuôn mặt đau khổ của lão trước việc bán chó: : “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc”. Nhìn lão Hạc khóc, ông giáo đã thay đổi suy nghĩ, cảm thông sâu sắc với lão và không còn tiếc năm cuốn truyện của mình như trước nữa: : “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa”

Ở tư cách của người cha, lão Hạc là một người cha thương con. Vợ mất sớm lão phải một mình vất vả nuôi con mà không hề nghĩ đến việc đi bước nữa. lão luôn tự trách mình không làm tròn bổn phận của người cha, lo lắng cho cuộc sống của con khiến nó phẫn chí mà bỏ đi đồn điền. Ngay đến khi chết, Lão Hạc vẫn hối hận vì ngày xưa không cho con bán vườn lấy vợ. Tình thương của người cha này còn thể hiện thông qua việc tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Quá nghèo khổ, không còn cái ăn,lão hạc không muốn nhận sự thương hại từ người khác, càng không muốn tiêu vào số tiền mà mình dành dụm cho con nên lão đã tự kết thúc cuộc sống của mình theo cách thức đầy dữ dội.

Như vậy, qua tác phẩm, hình ảnh của Lão Hạc hiện lên khiến cho người đọc vừa cảm động vừa xót xa. Người đàn ông ấy tuy nghèo khổ nhưng lại là người trọng tình nghĩa, trọng danh dự và trên hết tấm lòng thương con của lão khiến cho chúng ta cảm động.

Câu trả lời:

"Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện. Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc. Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu. Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ. Xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật tôi là người bạn, là chỗ dựa tinh thần của Lão Hạc. Những suy nghĩ của nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người Lão Hạc. Nhân vật Lão Hạc đẹp, cao quý thực sự thông qua nhân vật tôi. Cái hay của tác phẩm này chính là ở chỗ tác giả cố tình đánh lừa để ngay cả một người thân thiết, gần gũi với Lão Hạc như ông giáo vẫn có lúc hiểu lầm về lão. Sự thật nhân vật tôi cố hiểu, cố dõi theo mới hiểu hết con người Lão Hạc. Khi nghe Binh Tư cho biết Lão Hạc xin bã chó, ông giáo ngỡ ngàng, chột dạ: “Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có cái ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn”. Chi tiết này đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm. Nó đánh lừa chuyển ý nghĩ tốt đẹp của ông giáo và người đọc sang một hướng khác: Một con người giàu lòng tự trọng, nhân hậu như Lão Hạc cuối cùng cũng bị cái ăn làm cho tha hoá, biến chất sao? Nếu Lão Hạc như thế thì niềm tin về cuộc đời về ông giáo sẽ sụp đổ, vỡ tan như chồng ly thủy tinh vụn nát. Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bã chó của Lão Hạc, ông giáo mới vỡ oà ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”. Đến đây truyện đi đến hồi mở nút, để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về Lão Hạc và người nông dân... “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi ... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Có lẽ đây là triết lý sống xen lẫn cảm xúc xót xa của Nam Cao. ở đời cần phải có một trái tim biết rung động, chia xẻ, biết yêu thương, bao bọc người khác, cần phải nhìn những người xung quanh mình một cách đầy đủ, phải biết nhìn bằng đôi mắt của tình thương. Với Nam Cao con người chỉ xứng đáng với danh hiệu con người khi biết đồng cảm với những người xung quanh, biết phát hiện, trân trọng, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương. Muốn làm được điều này con người cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác để hiểu đúng, thông cảm thực sự cho họ. Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tôi trực tiếp kể lại toàn bộ câu chuyện cho nên ta có cảm giác đây là câu chuyện thật ngoài đời đang ùa vào trang sách. Thông qua nhân vật tôi, Nam Cao đã thể hiện hết Con người bên trong của mình. Đau đớn, xót xa nhưng không bi lụy mà vẫn tin ở con người. Nam Cao chưa bao giờ khóc vì khốn khó, túng quẫn của bản thân nhưng lại khóc cho tình người, tình đời. Ta khó phân biệt được đâu là giọt nước mắt của Lão Hạc, đâu là giọt nước mắt của ông giáo: Khi rân rân, khi ầng ực nước, khi khóc thầm, khi vỡ oà nức nỡ. Thậm chí nước mắt còn ẩn chứa trong cả nụ cười: Cười đưa đà, cười nhạt, cười và ho sòng sọc, cười như mếu ... Việc tác giả hoá thân vào nhân vật tôi làm cho cách kể linh hoạt, lời kể chuyển dịch trong mọi góc không gian, thời gian, kết hợp giữa kể và tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc... Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm của mọi thời, bi kịch của đời thường đã trở thành bi kịch vĩnh cửa. Con người với những gì cao cả, thấp hèn đều có trong tác phẩm. Thông qua nhân vật tôi tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Hãy cứu lấy con người, hãy bảo vệ nhân phẩm con người trong con lũ cuộc đời sẵn sàng xoá bỏ mạng sống và đạo đức. Cho nên chúng ta nên đặt nhân vật tôi ở một vị trí tương xứng hơn khi tìm hiểu tác phẩm.

Câu trả lời:

Khí phách anh hùng và chí lớn của người chiến sĩ cách mạng trong hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu và Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh.

Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn là hai tác phẩm cùng ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh lao tù nghiệt ngã. Giống nhau về hoàn cảnh sáng tác, lại là con đẻ tinh thần của hai nhà chí sĩ cách mạng lớn của dân tộc nên hai áng văn chương này cùng khắc hoạ một chân dung: chân dung người anh hùng với khí phách ngang tàng, lẫm liệt, dù đã sa vào chốn tù ngục hiểm nghèo vẫn giữ vững ý chí chiến đấu sắt son.

Nước mất, nhà tan, người anh hùng ôm ấp hoài bão cứu nước, cứu dân:

Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại trên non nước nhà.
(Chơi xuân – Phan Bội Châu).

Hoài bão ấy kẻ thù không thể chấp nhận. Chúng săn lùng truy đuổi và kết án họ, khiến họ lâm vào cảnh:

Đã khách không nhà trong bốn biển
Lại người có tội giữa năm châu.

Tình cảnh của những người yêu nước thật khốn đốn, họ lưu lạc khắp nơi, rồi cuối cùng rơi vào tay bọn đế quốc. Tính mạng của họ thật mong manh. Họ gần như đã cầm chắc cái chết trong tay. Thế mà giữa gông cùm, xiềng xích, khí phách và bản lĩnh anh hùng nơi họ càng được tôi luyện thêm. Họ vẫn tự khẳng định được mình:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Vẫn ngạo nghễ trước gông cùm, xiềng xích:
Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

Một tư thế và phong thái hiếm có: vừa hiên ngang, lẫm liệt, vừa ung dung thanh thản. Nhà tù của bọn đế quốc chỉ có thể giam cầm, đày đoạ được thân xác những người yêu nước, chúng làm sao có thể uy hiếp được tinh thần của họ. Họ coi nhà tù chỉ là nơi dừng chân nghỉ ngơi trên bước đường cách mạng đầy chông gai sóng gió của mình. Thậm chí, đối với họ, nhà tù còn là nơi thử thách và tôi luyện thêm phẩm chất anh hùng. Cho nên, họ cố thể ngẩng cao đầu kiêu hãnh, cất lên tiếng cười đầy ngạo nghễ, ngang tàng.

Khẳng định được tư thế của mình, người anh hùng coi những gian khổ của cảnh tù đày nhẹ tựa lông hồng:

Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Từ một người tù nhỏ bé, bình thường, họ vụt lớn lên ngang tầm với trời đất, có sức mạnh diệu kì đến mức thần thánh.

Sức mạnh ấy là sức mạnh của tinh thần và bản lĩnh anh hùng nơi người chiến sĩ cách mạng. Chỉ chừng ấy thôi, cũng đủ để khắc họa những tượng đài uy nghi, sừng sững về người anh hùng cứu nước. Nhưng hai nhà thơ của chúng ta không dừng lại ở đó, họ tiếp tục cho chúng ta khám phá và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một người anh hùng ở tầng cao hơn. Đó là chí lớn của người anh hùng.

Như phần trên chúng ta đã bàn đến, người anh hùng trong hai bài thơ vì ôm ấp hoài bão, chí lớn cứu nước, cứu dân, nên họ mới bị chính quyền đế quốc bắt và giam cầm. Đó là điều đã đáng cảm phục lắm rồi. Nhưng càng đáng cảm phục hơn, xúc động hơn là khi đã sa vào tay kẻ thù, cận kề với cái chết, chí lớn ấy vẫn không hề suy giảm. Người anh hùng tự ví mình là một kẻ phá trời (Đập đá ở Côn Lôn ), thậm chí vẫn:

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Đối với một sự nghiệp lớn lao cao cả, như sự nghiệp kinh bang tế thế (Lo nước cứu đời), sự nghiệp đội đá vá trời, thì những gian khổ mà họ phải chịu đựng, kể cả những bản án tử hình mà họ đang mang, nào có đáng kể gì:

Gian nan chi kể việc con con

Cùng với chí lớn là ý chí chiến đấu và niềm tin sắt son của người tù yêu nước :

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Và cuối cùng là một lời thề:
Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

Lời thề ấy kết tinh từ khí phách và tư thế của con người đứng cao hơn cái chết. Đối với người chiến sĩ cách mạng, còn sống là còn chiến đấu, bất chấp hiểm nguy. Bởi họ tin ở chính mình và sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc.

Cả hai bài thơ đều khép lại ở tư thế của con người đứng cao hơn cái chết, với một ý chí sắt gang, đầy khí phách. Cảm ơn hai nhà thơ đã đem đến cho ta những cảm nhận đẹp về người anh hùng – người chiến sĩ cách mạng của dân tộc ta đầu thế kỷ XX

Câu trả lời:

Câu 2:

Ý nghĩa nhan đề )Nhan đề “Thuế máu” có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc và đầy sức ám ảnh. Cái tên gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công vô lí. Thuế máu là thứ thuế tàn nhẫn, ghê gớm nhất của chủ nghĩa thực dân, đồng thời tác giả cũng bày tỏ lòng căm phẫn,thái độ mỉa mai, châm biếm đối với tội ác của.

Hoàn cảnh ra đời ) Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời trong thời kì chủ nghĩa thực dân Pháp thực hiện âm mưu "khai thác triệt để' thuộc địa. Sau đại chiến thứ nhất, bọn đế quốc Pháp phản bội mọi lời hứa hẹn tốt đẹp với nhân dân thuộc địa. Hơn nữa, chúng ra sức tăng cường toàn bộ chính sách bóc lột, đàn áp hết sức dã man, với những kế hoạch quy mô, những tổ chức có hệ thống về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa. Hầm mỏ, nhà máy, đồn điền cao su tập trung hàng nghìn công nhân là những địa ngục trần gian. Thuế má nặng nề, phi lí, rượu cồn, thuốc phiện..., giam hãm người nông dân trong cảnh bần cùng, đói rét. Bộ máy quan lại được củng cố, trở thành những công cụ đắc lực, bắt bớ những người yêu nước và bóc lột đến tận cái khố rách của nhân dân thuộc địa. Chúng thi hành mọi chính sách thâm hiểm và trắng trợn chống lại nền văn hóa dân tộc. Nấp sau chiêu bài "Bình đẳng, Bác ái", và nhiều khi không cần chiêu bài gì, chúng muôn biến những dân tộc bị áp bức thành những dân tộc đời đời làm nô lệ. Để thực hiện những âm mưu ấy, chủ nghĩa đế quốc Pháp xuất khẩu những tên thực dân sang thuộc địa. Bọn này hùng hổ kéo từng đoàn, từng lũ sang thuộc địa để vơ vét, chém giết, dưới khẩu hiệu lừa bịp “khai hóa ". Dù che giấu dưới cái vẻ hào nhoáng nào, chúng vẫn lộ nguyên hình là những con quỷ dữ. Đó là hình ảnh cụ thể nhất của chủ nghĩa đế quốc "ăn bám" và "thối nát".

Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ Chủ tịch đã miêu tả quá trình tiêu vong của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn giãy chết của nó, qua hình tượng những tên thực dân dưới nhiều hình dánchính quyền thực dân.