Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 63
Số lượng câu trả lời 614
Điểm GP 6
Điểm SP 308

Người theo dõi (73)

zozozo
Takanashi Rikka
Nhó

Đang theo dõi (7)

Lê Ngọc Trâm
October

Câu trả lời:

1.Trường hợp cắt được nguồn điện

Cần nhanh chóng cách ly nguồn điện bằng cách cắt các thiết bị đóng cắt gần nạn nhân nhất như: công tắc, cầu dao, aptomat. Khi cắt cần chú ý:

- Nếu người bị nạn đang ở trên cao thì cần có biện pháp hứng, đỡ khi người đó rơi xuống.

- Cắt điện trong trường hợp này cũng có thể dùng dao búa… có cán cách điện để chặt đứt dây điện

2. Trường hợp không cắt được nguồn điện

Cần phân biệt người bị nạn là do điện hạ áp hay cao áp mà thực hiện các bước sau:

Nếu người bị nạn do điện hạ áp

Người cứu cần có biện pháp an toàn cá nhân tốt như dùng các vật cách điện: sào, gậy tre hoặc gỗ khô… tách dây điện ra khỏi người nạn nhân.

Nếu nạn nhân nắm chặt vào dây điện ngưuời cứu phải , đứng trên các vật cách điện khô như: bàn ghế, bệ gỗ, thảm hoặc đi ủng hoặc mang găng tay cách điện để gỡ nạn nhân ra hoặc cũng có thể dùng các vật dụng sẵn có như cây, gậy gỗ.

Nếu người bị nạn do điện cao thế

Tốt nhất là người cứu có các dụng cụ an toàn như: đi ủng, găng tay cách điện hoặc xào cách điện… khi tách nạn nhân ra khỏi mạng điện. nếu trong tường hợp không có các dụng cụ an toàn kể trên thì cần làm ngắn mạch đường dây ra khỏi nguồn bằng cách dùng thanh sắt, đoạn dây đồng ném lên đường dây. Trong trường hợp người bị nạn chỉ chạm vào một pha thì chỉ cần nối đât một đầu dây còn đầu kia ném vào pha đó, nhưng tránh ném vào người bị nạn.

Nhân viên phục vụ điện phải hiểu biết về kỹ thuật điện, hiểu rõ các thiết bị, sơ đồ và các bộ phận có thể gây ra nguy hiểm, biết và có khả năng ứng dụng các quy phạm về kỹ thuật an toàn điện, biết cấp cứu người bị điện giật.

· Khi tiếp xúc với mạng điện, cần trèo cao, trong phòng kín ít nhất phải có 2 người, một người thực hiện công việc còn một người theo dõi và kiểm tra và là người lãnh đạo chỉ huy toàn bộ công việc.

· Phải che chắn các thiết bị và bộ phận của mạng điện để tránh nguy hiểm khi tiếp xúc bất ngờ vào vật dẫn điện.

· Phải chọn đúng điện áp sử dụng và thực hiện nối đất hoặc nối dây trung tính các thiết bị điện cũng như thắp sáng theo đúng quy chuẩn.

· Nghiêm chỉnh sử dụng các thiết bị, dụng cụ an toàn và bảo vệ khi làm việc.

· Tổ chức kiểm tra vận hành theo đúng các quy tắc an toàn.

· Phải thường xuyên kiểm tra dự phòng cách điện của các thiết bị cũng như của hệ thống điện.

b). Các biện pháp kỹ thuật an toàn điện.

· Trước khi sử dụng các thiết bị điện cần kiểm tra:

o Cách điện giữa các pha với nhau, giữa pha và vỏ.

o Trị số điện trở cách điện cho phép: phụ thuộc vào điện áp của mạng điện:

§ Đối với mạng điện dưới 1000[V] điện trở cách điện phải lớn hơn 1000[Ôm/V],tức là 1[kiloom/V]

VD: với mạng điện áp 220[V] điện trở cách điện ít nhất phải là:

§ Đối với các thiết bị điện có điện áp tới 500[V]: Quy phạm an toàn điện quy định điện trở cách điện là 0,5 [Mega ôm/Vôm] để đảm bảo an toàn.

· Ở những nơi có điện nguy hiểm, để đề phòng người vô tình tiếp xúc, cần sử dụng tín hiệu, khoá liên động và phải có hàng rào bằng lưới, có biển báo nguy hiểm.

· Sử dụng điện áp thấp, máy biến áp cách ly.

· Sử dụng máy cắt điện an toàn.

Câu trả lời:

Không một gia đình nào là hoàn hảo... vẫn có cãi vã, vẫn có "chiến tranh", thậm chí là sự lạnh lùng trong một thời gian rất dài, nhưng cho đến cuối cùng, gia đình vẫn là gia đình, nơi tình yêu luôn luôn hiện hữu...” - tôi đọc đoạn văn này trên Internet, và ngày Gia đình Việt Nam 28/6 đang đến rất gần, mọi cảm xúc trào dâng trong mỗi chúng tôi, những người xa nhà công tác nơi miền Tây Quảng Trị.

Mỗi người đều có một nỗi niềm riêng trong một cuộc sống vốn có nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều màu sắc khác nhau, nhưng khi trở về bên gia đình thân yêu của mình, tôi tin rằng mọi người luôn có chung một tình yêu, mà ở đó, không hề có sự hiện hữu giữa “nên cho” hay “nên nhận”, sự đấu tranh, giành giật, mà thay vào đó là sự hy sinh, sẻ chia và luôn quan tâm nhau giữa các thành viên trong gia đình. Mỗi khi chùn chân, mỏi gối hay có những mối lo, những niềm vui dù là nhỏ bé trong cuộc sống, thì gia đình chính là nơi mà chúng ta nghĩ đến đầu tiên. Gia đình chính là tổ ấm, là cái nôi của sự dìu dắt, chở che từng thành viên trong đó. Đồng thời, gia đình còn là tế bào của xã hội, để đánh giá một xã hội tiến bộ hay không, không hoàn toàn chỉ dựa vào nền kinh tế của một đất nước, mà đó còn là nền văn hoá của đất nước ấy. Văn hoá của đất nước một phần bắt nguồn từ sự thoả mãn hạnh phúc của mỗi công dân, công dân hạnh phúc hay không thì gia đình chính là tấm gương phản chiếu một phần vào tiêu chuẩn văn hoá của đất nước. Một gia đình hạnh phúc thực sự không có nghĩa là luôn tồn tại nụ cười mà còn xen lẫn những giọt nước mắt, sự hiện hữu của những nỗi buồn. Điều đáng trân trọng ở trong gia đình chính là sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, bỏ qua những thói hư tật xấu của mỗi thành viên, luôn dang tay chở che bạn mỗi ngày dù xã hội có quay lưng: “Khi mọi thứ dường như trở nên tồi tệ, chỉ có một vài người luôn đứng bên bạn mà không hề do dự - đó chính là gia đình” (Jim Butcher). Tuy nhiên vẫn còn đâu đó, những mảnh đời bất hạnh, không có người thân bên cạnh ngay từ khi họ sinh ra trên cõi đời, cũng có những người tự rời bỏ chính gia đình của mình. Những người tự rời bỏ gia đình có thể là họ có lỗi với gia đình của chính mình và cũng có thể điều ngược lại đã xảy ra… Xã hội ngày càng phát triển thì thời gian người thân trong gia đình dành cho nhau cũng trở nên eo hẹp. Thế nên, hạnh phúc gia đình được vun vén nhiều nhất sau những giờ nghỉ trưa hay mỗi khi chiều về. Những bữa cơm đầy đủ mọi thành viên quây quần bên mâm cơm nóng hổi, ngào ngạt hương vị của tình thân, đã xua tan đi những nhọc nhằn của người làm cha, làm mẹ khi phải làm việc vất vả để nuôi con cái ăn học; là động lực thúc đẩy con cái cố gắng chăm ngoan, học giỏi để đền đáp công lao của bậc sinh thành. Còn đối với gia đình có con cái trưởng thành, thì hạnh phúc của người làm cha, làm mẹ là được chứng kiến các con trưởng thành trong sự nghiệp, hạnh phúc với gia đình nhỏ của chúng, hiếu thảo và làm tròn nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ, chăm lo cho các em.

Những người làm ngành điện ở miền núi như chúng tôi ít khi có thời gian dành cho gia đình của mình. Có những người anh tuổi ở độ trung niên vì sự nghiệp và vì gia đình, đã không ngại công tác ở miền xa để lo toan cho cuộc sống gia đình nhỏ bé của các anh. Dưới mái nhà của một gia đình nơi rất xa ấy, có người vợ trẻ và các con thơ vẫn mong đến ngày cuối tuần gia đình sum vầy, các con lại được ôm vai ba nũng nịu, hay được ba cõng đi chơi khắp xóm, khoe với bạn bè để bù đắp lại những ngày xa vắng. Có những chàng trai trẻ mới lập gia đình cũng ngược đường ngược sá lên miền núi dâng tuổi xuân cho ngành, cho nghề, vì tình yêu nghề và vì cũng trách nhiệm với gia đình mới của mình. Và còn có những chàng trai độc thân, xa quê hương, xa gia đình để lập nghiệp, tìm chân trời mới cho riêng mình. Tất cả những con người ấy đều có chung một ao ước, ao ước được sống và cùng chia sẻ với gia đình thân yêu của họ: “Gia đình là sự nghiệp cuối cùng. Tất cả mọi sự nghiệp khác đều phục vụ cho một mục đích - đó chính là gia đình.”

Câu trả lời:

Tục ngữ Việt Nam rất phong phú và thể hiện ở mọi mặt của đời sống xã hội. Nó là lời đúc kết những kinh nghiệm của cha ông và được chuyển thành vần thơ rồi để lại cho con cháu học tập và rèn luyện, trong đó có câu:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Câu tục ngữ nói lên sức mạnh của sự đồng lòng, đoàn kết, gợi lên hình ảnh rất sinh động: một cây bé nhỏ, đơn độc thì “làm chẳng nên non” nhưng “ba cây chụm lại” thì “nên hòn núi cao”. “Ba cây” chỉ là cách nói ước lệ, khái quát của dân gian ý chỉ “nhiều cây thì sẽ nên rừng”.Nhưng nếu chỉ nói chuyện cây và núi thì câu tục ngữ đã không sống lâu bền trong dân gian Việt Nam như vậy. “Một cây” và “ba cây” là hình ảnh của cá nhân và tập thể. Và “non”, “núi cao” là hình ảnh của những công việc khó khăn, nặng nhọc.

Bằng những kinh nghiệm xương máu của mình, ông cha ta đã đưa ra một nhận định: một cá nhân đơn lẻ thì khó làm nên việc lớn; muốn làm được những công việc khó khăn, vất vả con người phải biết đoàn kết, hợp lực với nhau. Đó chính là bài học về tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng.

Lời răn dạy của cha ông thể hiện trong câu tục ngữ được dân tộc ta chứng minh qua nhiều thế hệ bằng thực tế cuộc sống chiến đấu và lao động của dân tộc. Trong những cuộc kháng chiến gian khó, nguy hiểm nhất của dân tộc, nhân dân ta vẫn đoàn kết một lòng vượt qua để chiến đấu và chiến thắng. Thế kỉ mười ba, đất nước ta phải đương đầu với kẻ thù hùng mạnh nhất thếgiới khi ấy: quân xâm lược Mông – Nguyên. “Vó ngựa Mông – Nguyên chạy tới đâu cỏ cây không mọc được đến đấy”, chúng đã đi từ Đông sang Tây, chiếm được những vùng đất đai rộng lớn và nay cũng ôm mộng xâm lược Đại Việt. Nhưng nhân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần đã không cam tâm chịu thua. Vua Trần đã tổ chức nhiều hội nghị nhằm lấy ý kiến và tập hợp sức mạnh toàn quân, toàn dân. Từ hội nghị Bình Than đến hội nghị Diên Hồng, đâu đâu cũng vang lên tiếng hô “Đánh! Đánh!”. Với sức mạnh như vũ bão của cả một dân tộc, ba lần quân Mông – Nguyên xâm lược là ba lần chúng phải rút chạy nhục nhã. Bước vào thế kỉ hai mươi, thế kỉ của những giông bão thời đại, đối mặt với sự xâm lược của hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới: thực dân Pháp, đế quốc Mĩ, dân tộc ta vẫn phát huy tinh thần đoàn kết keo sơn. Bác Hồ đã kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” “bất kể đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ không phân biệt tôn giáo đẳng cấp” đều đứng lên chống giặc. Ngay cả khi miền Bắc đã được giải phóng, miền Bắc vẫn gồng mình chung tay sản xuất để chi viện cho miền Nam đánh Mĩ. Những phong trào lao động sản xuất nổi lên như sóng cồn: “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Lao động giỏi”, “Cờ ba nhất”, “Ba sẵn sàng”… Và rồi, qua những năm trường kì kháng chiến gian khổ, cách mạng đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Từ Cách mạng tháng Tám đến chiến thắng của dân tộc là bản hùng ca ca ngợi sức mạnh của tinh thần đoàn kết, ý chí sắt đá và trí tuệ phi thường của con người Việt Nam bé nhỏ. Sau này Bác Hồ đã tổng kết: “Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước…”.

Trong cuộc sống, thậm chí cũng như trong lịch sử đã chứng minh về những hạn chế của sự đơn độc. Đó là cha con Hồ Quý Ly vì cướp ngôi nhà Trần làm mất lòng dân nên phải đơn phương trong cuộc chống giặc Minh xâm lược: “Không sợ đánh giặc chỉ sợ lòng dân không theo”. Và quả thực, nhà Hồ đã không đoàn kết được nhân dân làm mất nước ta vào tay giặc. Đó còn là bè lũ Lê Chiêu Thống làm li tán lòng người để kẻ thù ngoại bang tranh thủ cơ hội xâm lược nước ta… Lịch sử sẽ mãi lấy đó làm những bài học đắt giá.

Ngày nay, tiếp thu bài học của cha ông, đất nước ta đang phát huy sức mạnh đoàn kết toàn Đảng, toàn quân, toàn dân để xây dựng đời sống đưa đất nước phát triển hội nhập với thế giới. Để xứng đáng với vai trò của những chủ nhân tương lai của đất nước, những người học sinh chúng em cần biết học tập tinh thần đoàn kết để xây dựng tập thể lớp vững mạnh và đặc biệt là để tạo nên mối quan hệ hòa thuận, yêu thương trong gia đình của mình.

Câu tục ngữ có ý nghĩa thật lớn lao đối với thế hệ trẻ chúng ta. Hiểu rõ về ý nghĩa của câu tục ngữ, dân tộc Việt Nam có sự gắn bó đoàn kết chặt chẽ hơn, mọi khó khăn gian khổ đều được vượt qua và nhanh chóng sánh vai với năm châu bốn bể.