Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 29 tại đây: https://forms.gle/4ZVAZTFbqXyEn2M2A

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Tĩnh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 22
Số lượng câu trả lời 2540
Điểm GP 17
Điểm SP 1495

Người theo dõi (380)

Đang theo dõi (265)


Câu trả lời:

Hôm nay, bầu trời trong xanh, không khí mát mẻ tôi và hoàng thượng cùng nhau đi dạo bên hồ ngắm nhìn khung cảnh nhuộm vàng của tiết trời mùa thu. Bỗng từ đâu truyền đến tiếng kéo kẹt của khung cửi, bước chân tôi cứ thế bị tiếng kéo cửi dẫn lối đến một ngôi nhà nhỏ nơi ấy có một bà lão đang nhặt chỉ và bên cạnh là cô gái trẻ đang kéo cửi. Hình ảnh ấy làm tôi chững lại, tim nhói đau, từ đâu những hình ảnh năm ấy lại ùa về.

Tôi tên là Tấm, cha bảo khi tôi sinh ra đã trắng ngần như hạt tấm nêm đã đặt tên tôi là Tấm, mong sau này tôi cũng sẽ xinh đẹp và có tâm hồn trắng ngần như hạt tấm. Mẹ tôi mất khi tôi còn nhỏ, cha tôi ở vậy được hơn một năm thì cha tôi lấy vợ kế. Dì ghẻ sinh được một cô con gái đặt tên là Cám. Cám được dì và cha tôi chăm sóc và nuông chiều hết mực. Đến năm tôi mười lăm tuổi, cha tôi vì bệnh nặng mà qua đời, từ đó tôi sống cùng dì ghẻ và Cám.

Khi cha còn sông dì ghẻ luôn yêu thương chăm sóc tôi như con gai, nhưng sau khi Cám ra đời và cha tôi mất đi, dì không còn đối xử tốt với tôi như trước đây. Mẹ luôn giao cho tôi những phần việc nặng nhọc, vất vả nhất còn Cám thì ngày ngày được rong chơi. Từ sáng đến tối, tôi luôn phải tất bật với công việc lớn nhỏ trong nhà và việc đồng áng như cấy cày, chăn trâu, dã gạo, xay thóc … tôi thậm chí còn không có thời gian để rong chơi như bao đứa trẻ cùng tuổi trong làng. Cám thì luôn được dì bênh vực, bảo vệ, vì cậy thế mẹ, Cám thường mắng mỏ, sai bảo buộc tôi phải hầu hạ nó. Suốt ngày hết ra đồng, lại quanh quẩn với những công việc trong nhà, tôi không có lấy một người bạn để tâm sự, để trải nỗi lòng mình, nhiều lúc tôi chỉ biết khóc thầm một mình.

Hôm đó, khi tôi đang chuẩn bị dắt châu ra đồng, dì ghẻ liền gọi tôi và bảo: “ Sáng nay con và em Cám ra đồng mò tép, đứa nào bắt được đầy giỏ, ta sẽ thưởng cho cái yếm đào”. Nghe dì nói, tôi vô cùng háo hức và thẩm nhủ sẽ cố hết sức để đạt được phần thưởng mà cô gái nào cũng mơ ước. Tôi cột châu cẩn thận vào chồng, lấy giỏ và cùng Cám ra đồng mò tép như lời dì sai bảo.

Khi ra đến đồng, tôi không nề hà bùn đất, bẩn thỉu vội lội xuống ruộng chăm chỉ mò từng con tôm con tép một, lúc nào mệt quá ngước lên, tôi đều thấy Cám đang thoải mải hái hoa bắt bước, nhởn nhơ rong chơi, cứ ngỡ Cám đã làm xong phần việc của mình tôi càng gắng sức làm cho nhanh và khẩn trương hơn. Lúc mặt trời đã lên cao, giỏ của tôi cùng đã đầy, tôi vội rửa chân tay qua loa rồi lên bờ chuẩn bị ra về. Bỗng Cám từ đâu chạy đến bảo tôi: “ Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng”. Nghĩ Cám thật lòng quan tâm đến mình, tôi vội lội xuống ao gội đầu thật kỹ, rửa lại tay chân thật sạch. Xong xuôi, tôi vui vẻ hỏi: “ Cám ơi, em xem giúp chị đã sạch chưa?”. Không một tiếng trả lời vang lên. Tôi vội chạy lên bờ, tìm kiếm xung quanh vẫn không thấy Cám đâu, tôi chạy đến bên cái giỏ tép của mình, thì chỉ thấy chiếc giỏ trống không nằm lăn lóc trên bờ ruộng. Tôi mở ra xem thật sự trong giỏ không còn một con tôm, con tép nào. Tôi bỗng nhận ra hóa ra mình đã bị Cám lừa để trút hết giỏ tép của tôi mang về nhà trước, bao nhiêu công sức của tôi bị cướp trắng một cách oan uổng.

Bao nhiêu oan uổng, tủi nhục, bất công bấy lâu nay tôi phải chịu đựng cứ thế tuôn trào hòa vào những giọt nước mắt, tôi thật sự muốn vứt bỏ hết tất cả để thoát khỏi sự chèn ép, sự áp bức, sự bất công của mẹ con Cám dành cho mình mà đến với cha mẹ của mình. Khi ý nghĩ tiêu cực ấy lướt qua đầu tôi, bỗng có một gọng nói ôn nhu, hiền từ quanh quẩn bên tai tôi “ Vì sao con khóc?”. Tôi quệt vội những giọt nước mắt, trước mặt tôi lúc này, một ông lão với gương mặt hiền từ nhân hậu bao quanh là vầng hòa quang lấp lánh. Tôi bị choáng ngợp trước quang cảnh trước mặt, bất giác hỏi “ Ông là ai ạ”. Ông lão điềm đạm trả lời “ Ta là bụt, đến giúp để giúp con, giờ con hãy kể cho ông nghe vì sao con khóc?”. Tôi kể lại cho ông đầu đuôi câu chuyện trong tiếng khóc nghẹn ngào, nghe xong bụt ân cần bảo: “ Con đã xem kỹ trong giỏ xem còn sót lại con cá nào không chăng?” tôi với lấy cái giỏ ghé mắt nhìn vào thì thấy một con cá bông bé xíu nằm ở đáy giỏ, tôi vô cùng ngạc nhiên và cảm động, sau đó Bụt dặn tôi, đem con cá bống về nhà thả xuống giếng, mỗi ngày bớt một ý cơm để nuôi nó, khi nào cho ăn thì gọi bống bằng câu thần chú:

“ Bống bống bang bang,

Lên ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta,

Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”

Tôi đem con cá bống về nhà,, làm đúng như những gì Bụt dặn, mang cá bống thả xuống cái giếng sau nhà, ngày ngày tôi bớt chút cơm cho cá bống. Mỗi lần tôi mang cơn cho bống ăn đều gọi bằng câu thần chú mà bụt dặn, cá bỗng bơi lên rất nhanh và đớp những hạt cơm mà tôi rắc xuống, tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì từ giờ tôi đã có cá bống làm bạn chia sẻ những vui buồn, cá bống ngày càng lớn nhanh.

Thấy tôi ngày ngày sau bữa cơm đều ra giếng gang nước, mẹ con Cám sinh nghi, nhiều lần gạn hỏi tôi, nhưng tôi đều trả lời qua loa cho xong chuyện, từ đó đợi mẹ con Cám không để ý tôi mới ra sau giếng mang cơm cho bống. Được một thời gian tưởng rằng mẹ con Cám đã hết nghi ngờ, nào ngờ rằng, một buổi tối trước hôm tôi mang châu ra đồng, dì ghẻ gọi tôi vào và bảo: “ Con ơi con! Làng ta dạo này hay mất châu, con chăn châu nhớ chăn đồng xa chớ chăn đồng gần làng bắt mất châu.”

Sáng sớm hôm sau, vâng lời dì tôi dẫn châu sang cánh đồng xa gần lãng bên để chăn châu. Ở nhà, Cám và mẹ lập mưu bắt cá bống của tôi, Cám bắt gọi bống theo đúng câu thần chú Bụt dặn tôi. Nghe đúng câu hát, bống ngoi lên và bị dì ghẻ chực sẵn bắt làm thịt.

Thấy mặt trời sắp lặn, tôi dắt châu về nhà. Theo thường lệ, ăn xong tôi lại mang cơm cho cá bống, tôi gọi mãi, gọi mãi chẳng thấy cá bống đâu chỉ thấy có cục máu đông nổi lên mặt nước, tôi vội tìm kiếm xung quanh, tìm mãi vẫn không thấy bống đâu. Tôi liền bật khóc, rồi từ đâu một làn khói trắng xuất hiện, Bụt từ lúc nào đã đứng ngay trước mặt tôi và ân cần hỏi: “ Vì sao con khóc?”. Tôi kể lại mọi chuyện cho Bụt nghe, Bụt bảo: “ Con bống của con bị người ta ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi rồi tìm nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào rồi đem chốn dưới bốn chân giường con nằm”. Tôi rối rít cảm ơn Bụt, sau đó theo lời Bụt bảo tôi đi tìm quanh vườn, khắp xó nhà, góc sân cũng không thấy xương bống đâu cả, đang trong lúc tuyệt vọng, tự nhiên, một con gà cất tiếng: “ Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho!”. Nghe gà nói được tôi vô cùng ngạc nhiên đứng thẫn ra hồi lâu, rồi chạy vội vào trong bếp lấy thóc ở bục cho gà ăn. Gà chạy vào đống tro trong bếp một lúc thì bới ra được một đống xương. Tôi tìm bốn cái lọ và cho xương bống vào đó chôn tại bốn đầu giường tôi năm theo đúng lời Bụt dặn.

Thời gian thấm thoát trôi, đến khi tết đến, xuân về, các cô gái ai cũng có quần áo mới để diện tết, mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đi chơi tết, còn tôi phải ở nhà làm những công việc như mọi ngày, tuy có nhàn rỗi hơn những ngày thường nhưng tôi không có chỗ nào để đi chơi tết cả. Kể từ khi cha mất, họ hàng cũng dần chuyển sang làng khác sống, nên ở vùng quê này tôi không còn ai thân thích cả.

Một hôm khi đang cắt cỏ ngoài đồng, tôi có nghe được mấy cô gái đồn nhau nhà vua sắp về đây vi hành và có mở hội mấy đêm cho dân làng vui xuân, tôi cũng không hy vọng sẽ được đi chơi hội nên vội quăng luôn nó ra khỏi đầu. Vài hôm sau làng tôi mở hội đón vua về vi hành, làng trên xóm dưới từ già trẻ, gái trai, ai ai cũng ăn mặc đẹp, đâu đâu cũng nghe thấy tiếng hò gọi nhau đi chảy hội, mẹ con Cám cũng không phải ngoại lệ, họ tất bật chuẩn bị quần áo từ tối hôm trước.

Trong lòng tôi bỗng thấy háo hức, suy nghĩ muốn đi chơi hội của tôi đột nhiên mãnh liệt hơn bao giờ hết, nghĩ như vậy tôi vội vào trong phòng lấy bộ quần áo đẹp nhất của mình chuẩn bị để đi chơi hội. Ra đến cửa mẹ con Cám đã chờ sẵn tôi, Cám đứng chắn trước cửa lườm tôi một cái rồi quay lại nói với mẹ: “ Mẹ ơi mẹ! Chị Tấm cũng muốn đi chơi hội kìa”. Nghe thấy thế, dì ghẻ tiến lại phía tôi và nói: “Con muốn đi chơi hội hả, việc nhà đã làm xong hết chưa?” Tôi vội trả lời: “Dạ, rồi ạ”. Dì gật đầu hài lòng và nói tiếp: “ Được, quần áo thế này mà con muốn đi chơi hội sao để dì và em Cám sửa lại giúp con”. Vừa nói dứt lời hai mẹ con Cám tiến lại phía tôi và xé tan nát bộ quần áo của tôi mặc đi chơi hội, sau đó, dì vào trong bếp lấy ra một đấu gạo và thóc đổ vào nhau trộn đều lên và bảo: “ Bao giờ nhặt xong chỗ gạo này đâu vào đấy rồi mới được đi nghe con, không được xót một hạt nghe con” Nói xong hai mẹ con Cám dắt nhau ra đi hội bỏ tôi lại một mình với nhà cửa ngồn ngang cùng một mẹt thóc và gạo trộn lẫn vào nhau.

Tôi ngồi bệt xuống nền nhà, nghĩ đến đời mình, những tủi nhục vừa trải qua, không kìm được cảm xúc tôi bỗng bật khóc, lần này bụt lại hiện lên và bảo: “ Làm sao con khóc?”. Tôi kể lại tường tận sự tình cho bụt nghe. Bụt bảo tôi mang mẹt ra giữa sân rồi gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt giúp cho, tôi sợ chim ăn hết thóc thì bụt dạy:

Con hãy bảo chúng: “ Rặt rặt xuống nhặt giúp tao. Đừng ăn của tao, rồi tao trả công”. Chúng sẽ không ăn của con đâu.

Tôi định đi hội, thì bỗng nhận ra quần áo của mình đã bị mẹ con Cám xé tan nát, Bụt liền bảo tôi hãy đào bốn chiếc lọ đựng xương bống ở dưới chân giường lên, con sẽ có những gì mình muốn. Nghe lời bụt tôi vào đào bốn chiếc lọ lên quả nhiên điều kỳ diệu đã xảy ra: Lọ đầu tiên có một bộ váy áo tứ thân, một cái yếm đào và chiếc khan nhiễu vô cùng đẹp và khác hẳn so với những cái tôi từng thấy. Lọ thứ hai có một đôi hài thuê hoa vô cùng xinh xắn đi vừa in với chân tôi. Lọ thứ ba có một con ngựa phi ra. Lọ cuối cùng có một bộ yên cương vô cùng xinh xắn.

Tôi mừng rỡ vô cùng, vội cảm tạ Bụt rồi đi tắm sạch sẽ, mặc bộ quần áo mới, khi sửa soạn xong cũng là lúc chim sẻ giúp tôi nhặt thóc gạo xong tôi lấy một nắm thóc thưởng cho chim sẻ, sau đó cưỡi lên lưng ngựa và phi thẳng đến hội. Lúc đi qua cầu, do không cẩn thận tôi bị đánh rơi chiếc hài xuống nước, định lội xuống tìm những thoáng chốc đã không thấy nó đâu nữa, không kịp nữa tôi đành bỏ lại chiếc hài và phi ngựa tiếp đến hội. Đến đám hội, tôi dừng ngựa, lấy khan gói kĩ chiếc hài còn lại rồi chen vào biển người.

Sau này khi về làm vợ vua rồi, tôi có hỏi chàng, khi xưa vì sao chàng lại nhặt được chiếc hài của tôi, thì nhà vua nói: “ Hôm đó, kiệu vàng cảu ta không hiểu sao vừa đến chỗ cầu thì hai con voi dẫn đầu không chịu đi tiếp nữa, cứ cắm ngà xuống đất và kêu rống lên. Biết rõ sự lạ, ta liền sai quân lính thử tìm xem có gì lạ ở dưới suối. Quân lính của ta nhặt được một chiếc hài thuê hoa vô cùng tinh xảo, họ trình lên ta. Khi cầm chiếc hài lên ta như bị cuốn hút vào, trong lòng trộm nghĩ “ Chiếc hài xinh thế này, người đi hài chắc hẳn phải là một tuyệt sắc giai nhân” nghĩ đến vậy ta càng tò mò và muốn tìm ra chủ nhân của chiếc hài”. Nghe chàng kể lại sự tình như vậy tôi nghĩ đây chắc hẳn là ý trời.

Lần đầu tiên được đi chơi hội làm tôi rất háo hức, ai ai cũng nhìn tôi, khi tôi thấy một đám đông đam xúm lại, vì tò mò nên tôi lại gần thì được biết: vua ra lệnh cho tất cả đàn bà, con gái ai đi vừa chiếc hài thĩ sẽ cưới làm hoàng hậu. Đám hội, ai cũng háo hức, các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử hài nhưng không ai mang vừa. Mẹ con Cám cũng vào cầu may nhưng không được. Lúc tôi bước ra thử, nhìn thấy tôi, Cám liền mách mẹ nhưng dì ghẻ không tin, bĩu môi nói: Con nỡm! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh mảnh trai ngoài bờ!”

Chân tôi đặt vào hài vừa in. Tôi mở khăn lấy chiếc hài còn lại ra đi vào. Tôi được nhà vua đem kiệu rước vào cung, ai ai cũng nhìn tôi với ánh mắt ngưỡng mộ, chỉ có mẹ con Cám nhìn tôi thù hằn và vô cùng tức giận.

Sauk khi vào cung tôi được vua yêu chiều, tôi sống vô cùng thoải mái, sung sướng và hạnh phúc bên nhà vua. Đến ngày giỗ cha, tôi xin phép về giúp dì và em sửa soạn cỗ cúng. Thấy tôi được làm hoàng hậu, hai người ghen ghét nhưng cố giấu. Dì bảo tôi trèo cau, lấy một buồng để cúng cha. Tôi vừa leo lên đến ngọn thì dì chặt gốc. Cau đổ, tôi ngã xuống ao chết đuối. Dì ghẻ lấy quần áo của tôi cho Cám mặc rồi đưa vào cung nói dối vua rằng tôi chẳng may đã chết, nay cho em gái thay thế.

Hổn tôi biến thành chim vàng anh, suốt ngày quanh quẩn ở vườn ngự uyển. Cám giặt áo cho vua, đem ra phơi ở bờ rào, tôi hót: “Phơi áo chổng chị, thì phơỉ bằng sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng chị!”. Rồi tôi bay thẳng vào cung, đậu ở cửa sổ. Nhà vua đang ủ ê, buồn bã, chắc là nhớ thương người vợ bạc mệnh. Thấy tôi cứ quanh quẩn bên cạnh, nhà vua bảo: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo!”. Tôi âu yếm đậu lên vai rồi rúc vào tay áo nhà vua. Vua làm cho tôi một chiếc lồng bằng vàng để ở. Nhà vua suốt ngày quấn quýt bên tôi, chẳng hỏi han gì đến Cám. Cám về kể với mẹ và bày mưu hãm hại tôi lần nữa.

Nhân lúc nhà vua đi vắng, mẹ con Cám bắt tôi làm thịt rổi vứt lông ra vườn. Thấy mất vàng anh, vua hỏi thì Cám đặt điều nói dối: “Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim nên trộm phép bệ hạ đã giết ăn thịt mất rồi”. Nhà vua giận lắm nhưng không nói gì. Ngày hôm sau, từ đám lông chim mọc lên hai cây xoan đào thật đẹp. Khi nhà vua đi dạo trong vườn, cây xòe cành lá che đầu vua, giống như hai cái lọng. Vua thấy vậy sai lính hầu mắc võng vào giữa hai thân cây rồi chiều chiều ra nằm đong đưa hóng mát.

Cám lại đem chuyện ấy mách mẹ. Nhân một hôm gió bão, dì ghẻ xúi Cám sai thợ chặt hai cây xoan đào rồi nói là đóng khung cửi để dệt áo cho vua. Hổn tôi nhập vào khung cửi nên mỗi lần Cám ngồi vào dệt, khung cửi lại phát ra tiếng kêu đầy đe dọa:

“Cót ca cót két,

Lấy tranh chồng chị,

Chị khoét mắt ra!”

Cám hoảng hổn mách với mẹ, dì ghẻ bảo hãy đốt khung cửi thành tro rồi đem đổ thật xa. Cám làm theo, nhưng từ đống tro bỗng mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xanh tươi. Đến mùa, cây thị ra nhiều hoa mà chỉ đậu có mỗi một quả. Hổn tôi náu trong quả thị vàng thơm ấy.

Một hôm, bà lão hàng nước ở gần đấy đi ngang qua, ngửi thấy mùi thơm bèn ngẩng lên nhìn rồi giơ miệng bị ra, lẩm bẩm:

“Thị ơi thị rụng bị bà.Bà để bà ngửi chứ bà không ăn.”

Trái thị liền rụng xuống. Bà lão vui mừng mang về cất vào buồng, thỉnh thoảng lại đem ra ngắm nghía. Những lúc bà lão đi chợ hoặc vắng nhà, tôi từ quả thi bước ra, dọn dẹp nhà cửa, nấu sẵn cơm dẻo canh ngon cho bà lão.

Bà lão lấy làm lạ, cố ý tìm ra sự thật. Một lần, vờ đi chợ được một lúc thì bà lão quay lại, tôi đang lúi húi làm việc nhà như mọi khỉ thì bà lão bước vào, ôm chầm lấy tôi rồi xé nát vỏ quả thị. Từ đó, bà lão coi tôi như con gái. Tôi giúp bà gói bánh, nấu nước, têm trầu để bà ngồi bán hàng.

Ít lâu sau, một hôm có người đàn ông trè tuổi ghé vào quán nước. Nhìn thấy mấy miếng trầu cánh phượng, người ấy hỏi ai têm, bà lão đáp là con gái mình têm. Tôi đứng nép sau bức mành, nghe rõ câu chuyện và nhận ra nhà vua. Nhà vua năn nỉ bà lão đưa con gái ra cho mình xem mặt. Tôi vừa xuất hiện, nhà vua đã nhận ra ngay, bèn bảo bà lão thuật lại sự tình, rồi ra lệnh cho lính hầu mang kiệu rước tôi về cung.

Mẹ con Cám thấy vậy thì hết sức sợ hãi van xin tôi tha lỗi, nể tình ngừng ấy năm chúng sống, tôi tha cho hai mẹ con Cám về quê. Vài năm sau tôi nghe tin Cám không biết nghe ai bảo mà đun nước sôi để tắm nên chết, còn dì ghẻ tôi vì quá đau buồn nên cũng hóa điên.Tôi được sống yên ổn hạnh phúc bên nhà vua. Tình cảm vợ chồng lại càng thắm thiết, mặn nồng hơn trước.

Nhớ lại những chuyện đã qua, tôi ngẫm lại mới thấy lời cha dặn trước lúc ra đi quả không sai, cha bảo “ ở hiền mới gặp lành con ạ, qua cơn tai ương hạnh phúc sẽ đến”. Mọi thứ đến với tôi thật sự không dễ dàng gì vì vậy tôi sẽ luôn bảo vệ và trân trọng nó

Câu trả lời:

Tôi tên là Tấm, sống cùng cha mẹ ở một làng quê nhỏ. Mẹ mất sớm, cha tôi ở vậy được hơn một năm thì đi bước nữa. Dì ghẻ của tôi sinh thêm cho cha một người con gái, đặt tên là Cám. Khi tôi vừa tròn mười sáu thì cha tôi qua đời. Tôi chỉ còn dì ghẻ là chỗ nương tựa, vậy mà.

Dì ghẻ rất ghét tôi nên mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều đổ giao hết cho tôi. Chăn trâu, cấy lúa, xay thóc, giã gạo… vừa xong việc này dì bắt làm ngay việc khác. Trong khi Cám – em gái tôi thì được rong chơi cả ngày.

Một hôm, dì ghẻ gọi hai chúng tôi lại và bảo: “Sáng nay hai đứa ra đổng mò tép, Đứa nào bắt được đầy giỏ, ta sẽ thưởng cho cái yếm đào!” Yếm đào là vật tôi mong ước bấy lâu nên chẳng ngại vất vả, tôi lội xuống ruộng, hì hục mò. Còn Cám thì không quen công việc nên cứ nhởn nhơ rong chơi, hái hoa bắt bướm. Mặt trời lên cao thì giỏ của tôi đã gần đầy tép. Tôi mừng vì thành quả lao động của mình liền rửa chân tay rồi lên bờ ngồi nghỉ. Bỗng Cám đến gần bảo: “Chị Tấm ơi chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng”. Thấy Cám quan tâm tới mình, tôi tưởng thật, bèn lội xuống gội đầu thật kĩ.

Gội xong, tôi lên bờ thì chẳng thấy Cám đâu, chỉ có chiếc giỏ của tôi nằm lăn lốc bên vệ cỏ. Tôi mở ra xem, trong giỏ rỗng không. Thì ra Cám đã lừa để trút hết giỏ tép của tôi, mang về nhà trước. Vừa giận, vừa tủi thân, tôi ôm mặt khóc. Bỗng có một giọng nói trầm ấm vang lên: “ Vì sao cháu khóc?”. Tôi ngước lên nhìn, trước mặt tôi, Bụt hiền từ hiện ra giữa một vầng hào quang. Tôi kể lại đẩu đuôi câu chuyện, Bụt ân cần bảo: “Con xem kĩ lại trong giỏ có còn sót con tép nào không!”. Tôi nghe lời Bụt, nhìn vào thì thấy một con cá bống. Bụt dặn tôi đem con cá bống ấy về thả xuống giếng, mỗi ngày bớt một bát cơm để nuôi nó. Mỗi lần cho ăn thì gọi bống bằng câu:

“ Bống bống bang bang,
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”.

Tôi về nhà làm theo lời Bụt. Lần nào Bống cũng ngoi lên mặt nước, ăn hết những hạt cơm mà tôi rắc xuống. Từ đó, cá Bống trở thành bạn tri kỉ của tôi. Theo thời gian, Bống ngày một lớn lên trông thấy. Nhưng tôi thật sơ hở vì để mẹ con dì ghẻ bắt gặp tôi cho Bống ăn. Đến tối, dì ghẻ bảo tôi: “Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu”. Tôi vâng lời, sáng hôm sau dẫn trâu đi ăn cỏ thật xa. Đâu biết rằng ở nhà, Cám bắt chước tôi gọi Bống, Khi Bống ngoi lên thì bị dì ghẻ chực sẵn, bắt làm thịt.

Đến chiều, tôi dắt trâu về. Như mọi ngày, ăn xong tôi lại giấu cơm đem ra cho bống. Nhưng gọi mãi, gọi mãi mà chẳng thấy bống đâu. Chỉ có một cục máu đỏ tươi nổi lên mặt nước. Tôi lại òa khóc. Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?”. Tôi kể sự tình cho Bụt ghe, Bụt bảo: “Con bống của con đã bị người ta ăn thịt mất rồi. Thôi, con hãy nín đi rồi tìm nhặt lấy xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn dưới bốn chân giường con nằm”. Tôi vang lời Bụt, tìm khắp xó vườn, góc sân nhưng không thấy gì cả. Rồi một con gà cất tiếng: “Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho!”. Tôi lấy nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bới đống tro bếp một lúc thì tìm thấy xương bống. Tôi nhặt bỏ vào bốn chiếc lọ nhỏ, chôn dưới bốn chân giường đúng như tời Bụt dặn.

Xuân về trên quê hương, cảnh vật tươi đẹp đầy sức sống. Nhà vua mở hội. Mọi người ăn mặc đẹp đẽ, nô nức rủ nhau đi xem. Mẹ con dì ghẻ cũng sắm sửa quần áo háo hức đi trẩy hội. Thấy tôi cũng muốn đi, dì ghẻ nguýt dài rồi dì lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc và bảo: “Hãy nhặt cho xong chỗ gạo này rồi muốn đi đâu thì đi. Nhớ nhặt cho sạch, tao về mà không có gạo thổi cơm là tao đánh đó!”. Nói xong, hai mẹ con Cám đi xem hội. Tôi muốn đi xem lắm nhưng sợ bị đòn nên cố gắng ngồi nhặt. Nhưng nhặt một hồi lâu mà chỉ được chút ít, tôi tủi thân, bật khóc nức nở. Bụt lại hiện ra hỏi: “Vì sao con khóc?”. Tôi chỉ vào cái thúng đựng thóc trộn lẫn gạo rồi kể sự tình. Bụt bảo tôi mang thúng ra đặt giữa sân rồi sai một đàn chim sẻ xuống nhặt giúp. Tôi sợ chim ăn mất thì Bụt dạy nói rằng: “Rặt rặt rặt, xuống nhặt cho tao. Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết”. Thoáng chốc, đàn chim sẻ đã nhặt xong, không mất một hạt. Niềm vui chưa kịp nở thì tôi chợt nhận ra mình không có quần áo đẹp mà đi xem hội. Tủi thân, tôi lại rơi nước mắt. Bụt bảo tôi hãy đào bốn chiếc lọ đựng xương bống ở dưới chân giường lên, sẽ có đủ. Tôi làm đúng theo lời Bụt, quả nhiên điều kì lạ đã xảy ra: Lọ thứ nhất có một bộ áo mớ ba và một cái váy lụa, một yếm lụa đào và chiếc khăn nhiễu. Lọ thứ hai có một đôi hài thêu. Lọ thứ ba có một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt xuống đất thì nó hí vang, to bằng con ngựa thật. Lọ cuối cùng có một bộ yên cương xinh xắn. Tôi mừng rỡ vô cùng, vội cảm tạ Bụt. Chuẩn bị xong xuôi, tôi nhanh chóng lên ngựa đi xem hội. Nhưng bất cẩn, lúc ngựa phóng qua chỗ lội, tôi đánh rơi một chiếc hài xuống nước, không kịp nhặt lên. Đến đám hội, tôi dừng ngựa, lấy khăn gói kĩ chiếc hài còn lại rồi chen vào biển người.

Tôi đâu biết rằng khi kiệu vàng của nhà vua vừa đến chỗ lội thì hai con voi dẫn đầu không chịu đi, cứ đứng lại, kêu vang lên. Biết có sự lạ, nhà vua sai quân lính thử tìm xem. Họ nhặt được chiếc hài thêu của tôi, vội trình nhà vua. Nhà vua cầm chiếc hài lên, ngắm nghía mãi rồi buột miệng khen: “Chiếc hài xinh quá! Người đi hài này hẳn phải là một trang tuyệt sắc!”. Rồi Vua ra lệnh cho tất cả đàn bà, con gái thử hài và tuyên bố ai đi vừa thì sẽ cưới làm hoàng hậu. Đám hội lại càng náo nhiệt. Các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử hài nhưng không ai đi vừa. Mẹ con Cám cũng vào cầu may. Lúc tôi bước ra thử, nhìn thấy tôi, Cám liền mách mẹ nhưng dì ghẻ không tin, bĩu môi nói: “Con nỡm! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!”. Tôi không nói gì, chỉ lăng lẽ thử giày. Chân tôi đặt vào hài vừa như in. Tôi mở khăn lấy chiếc hài còn lại đi vào. Hai chiếc giống nhau như đúc. Lính hầu hò reo, vui mừng báo với vua. Lập tức, vua sai đoàn thị nữ rước tôi về cung. Tôi bước lên kiệu trước vẻ mặt ngơ ngác và hằn học của mẹ con Cám.

Đến ngày giỗ cha, tôi xin phép về giúp dì và em sửa soạn cỗ cúng. Thấy tôi được làm hoàng hậu, hai người ghen ghét nhưng cố giấu. Dì bảo tôi trèo cau, lấy một buồng để cúng cha. Tôi vừa leo lên đến ngọn thì dì chặt gốc. Cau đổ, tôi ngã xuống ao chết đuối. Dì ghẻ lấy quần áo của tôi cho Cám mặc rổi đưa vào cung nói dối vua rằng tôi chẳng may đã chết, nay cho em gái thay thế. Linh hồn tôi biến thành chim vàng anh, suốt ngày quanh quẩn ở vườn ngự uyển. Nhà vua đang ủ ê, buồn bã, thấy tôi cứ quanh quẩn bên cạnh, nhà vua bảo: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo!”. Tôi âu yếm đậu lên vai rồi rúc vào tay áo nhà vua. Nhà vua suốt ngày quấn quýt bên tôi, chẳng hỏi han gì đến Cám. Cám tức giận, về nhà mách dì ghẻ. Nhân lúc nhà vua đi vắng, mẹ con Cám bắt tôi làm thịt rồi vứt lông ra vườn. Thấy mất vàng anh, vua hỏi thì Cám nói dối: “Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim nên trộm phép bệ hạ đã giết ăn thịt mất rồi”. Nhà vua giận lắm nhưng không nói gì. Ngày hôm sau, từ đám lông chim mọc lên hai cây xoan đào thật đẹp. Khi nhà vua đi dạo trong vườn, cây xòe cành lá che đầu vua, giống như hai cái lọng. Vua thấy vậy sai lính hầu mắc võng vào giữa hai thân cây rồi chiều chiều ra nằm đong đưa hóng mát. Cám lại đem chuyện ấy mách mẹ. Dì ghẻ xúi Cám sai thợ chặt hai cây xoan đào rồi nói là đóng khung cửi để dệt áo cho vua. Tôi giận mẹ con Cám vì hết lần này tới lần khác làm hại tôi, không cho tôi ở bên cạnh nhà vua nên mỗi lần Cám ngồi vào dệt, khung cửi lại phát ra tiếng kêu đầy đe dọa:

“Cót ca cót két,
Lấy tranh chồng chị,
Chị khoét mắt ra!”

Cám hoảng hổn mách với mẹ, dì ghẻ bảo hãy đốt khung cửi thành tro rồi đem đổ thật xa. Cám làm theo, nhưng từ đống tro bỗng mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xanh tươi. Đến mùa, cây thị ra nhiều hoa mà chỉ đậu có mỗi một quả. Quả thị ấy chính là hiện thân của tôi.

Một hôm, bà lão hàng nước ở gần đấy đi ngang qua, ngửi thấy mùi thơm bèn ngẩng lên nhìn rồi giơ miệng bị ra, lẩm bẩm: “Thị ơi thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi chứ bà không ăn”. Thấy bà cụ hiền lành, nhân hậu, tôi liền rụng xuống. Bà lão vui mừng mang về cất vào buồng, thỉnh thoảng lại đem ra ngắm nghía. Những lúc bà lão đi chợ hoặc vắng nhà, tôi từ quả thị bước ra, lén dọn dẹp nhà cửa, nấu sẵn cơm cho bà lão. Ngày nào đi làm về cung thấy nhà cửa sach sẽ, cơm nước tinh tươm. Bà lão lấy làm lạ, cố ý tìm ra sự thật. Một lần, vờ đi chợ được một lúc thì bà lão quay lại, nấp sau cánh cửa nhà. Thấy tôi đang làm việc, bà chạy lại ôm chầm lấy tôi rồi xé nát vỏ quả thị. Từ đó, tôi và bà lão thương nhau như hai mẹ con. Tôi giúp bà gói bánh, nấu nước, têm trầu để bà ngồi bán hàng.

Một hôm, có chàng trai khôi ngô tuấn tú ghé vào quán nước. Nhìn thấy mấy miếng trầu têm cánh phượng, người ấy hỏi ai têm, bà lão đáp là con gái mình têm. Tôi đứng nép sau bức mành, nghe rõ câu chuyện và nhận ra nhà vua. Nhà vua năn nỉ bà lão đưa con gái ra cho mình xem mặt. Tôi vừa xuất hiện, nhà vua đã nhận ra ngay, bèn bảo bà lão thuật lại sự tình, rồi ra lệnh cho lính hầu mang kiệu rước tôi và bà lão về cung.

Cám thấy tôi vẫn còn sống mà lại trắng đẹp hơn xưa nên Cám băn khoăn tự hỏi vì sao. Tôi bày cho Cám tắm với nước sôi thì sẽ đẹp. Cám hí hửng làm theo, đổ một bồn nước sôi rồi tắm sau đó chết ngay tức khắc. Dì ghẻ thấy vậy kinh hoàng, cũng lăn đùng ra mà chết. Tôi được sống yên ổn hạnh phúc bên nhà vua

Câu trả lời:

Sống ở làng này không ai là không biết tới 3 mẹ con tôi, tôi là Tấm, em tôi là cám là em cùng cha khác mẹ với tôi, tôi đang sống chung với dì và Cám. Mặc dù là em trong nhà nhưng Cám được mẹ nuông chiều không phải làm công việc gì trong nhà. Mọi thứ một tay tôi làm hết chỉ có những lúc ăn cơm,Cám mới chịu làm vài việc lặt vặt mà mặt nó cũng phụng phịu. Còn Dì thì luôn luôn mắng tôi khi muốn xả giận hay ganh ghét vì một điều vô cớ. Nhưng tôi không oán than gì, vì tôi hiểu cũng là lẽ thường tình vì Dì cũng khổ nhiều để nuôi chúng tôi khôn lớn.

Một hôm nọ, dì bảo tôi và Cám đi xúc tép, ai xúc được nhiều hơn sẽ được yếm đào. Vốn dĩ từ nhỏ chưa bao giò tôi được vận trong mình chiếc yếm đào nào mới cả, hôm nay Dì lại có dự định như thế khiến tôi cũng háo hức không kém. Ra đồng mò cua bắt ốc từ khi tơ mờ sáng, tôi chỉ thấy Cám lâu lâu chỉ chạy theo hái hoa bắt bướm không biết Cám có bắt được nhiều không.nhưng nghĩ tới cái yếm đào tôi lại vội chăm chỉ tiếp tục công việc của mình. Tới lúc sắp về thì thấy Cám bảo đầu lấm, tôi cũng tin rồi xuống gội đầu, chải chuốt rồi về. Nhưng ai ngờ, Cám lại nhẫn tâm hại tôi, trút hết tép trong giỏ rồi về lấy yếm đào. Tôi hoảng hốt,bao nhiêu công sức thế lại để người khác giành giật tôi chỉ biết khóc. Khói mù mịt thì ra Bụt xuất hiện từ lúc nào,ông chỉ tay vào giỏ và bảo xem có con cá nào không, mang về nuôi. Tôi bèn làm theo lời, trở về mang theo cá bống thả xuống giếng và cứ hôm nào cũng mang cơm cho cá bống.

Tôi đi chăn trâu xa, ở nhà không biết mẹ con Cám đã làm gì nhưng khi tơi nơi cho cá bống ăn thì tôi không thấy nữa, tôi hoảng hốt khi giếng nổi lên một cục máu, vùa thương cá bống vừa tủi thân, tôi khóc. Lần này, Bụt lại hiện lên, bảo tôi phải đi tìm ngay xương của cá bống về chôn ở bốn lọ giường,tôi làm theo và cũng chưa hiểu chuyện gì sẽ xảy ra.

Háo hức tới ngày trẩy hội biết bao nhiêu thì tôi lại càng thất vọng bấy nhiêu, vốn bản tính nhẫn nhịn tôi nghe theo mọi lời của Dì mà không hề than trách. Mặc quần áo tinh tươm chuẩn bị mọi thứ, dù không được lành lặn đẹp đẽ như con người ta nhưng đi hội ai mà không thích. Vốn cám ghen ghét tôi, bảo với mẹ là tìm mọi cách để bắt tôi ở nhà. Dì liền bưng cả gạo lẫn thóc hòa vào nhau,rồi bảo tôi nhặt khi nào xong thì mới được đi. Bao nhiêu như thế tôi làm sao nhặt hết chứ. Lại một lần nữa,bụt hiện ra, sai chim sẻ nhặt thóc, xong đâu vào đấy thì bảo tôi đi đào ở 4 lọ đó lên.

Tôi mừng rỡ vô cùng, vội cảm tạ Bụt. Chuẩn bị xong xuôi, tôi nhanh chóng lên ngựa đi xem hội. Trong lúc ngựa phóng qua chỗ lội, tôi đánh rơi một chiếc hài xuống nước, không kịp nhặt lên. Đến đám hội, tôi dừng ngựa, lấy khăn gói kĩ chiếc hài còn lại rồi chen vào biển người. Tôi thực sự không biết rằng khi kiệu vàng của nhà vua vừa đến chỗ lội thì hai con voi dẫn đầu không chịu đi, cứ đứng lại, kêu vang lên. Biết có sự lạ, nhà vua sai quân lính thử tìm xem, và họ nhặt được chiếc hài thêu của tôi, vội trình nhà vua. Nhà vua cầm chiếc hài lên, ngắm ngía mãi rồi buột miệng khen: “Chiếc hài xinh quá! Người đi hài này hẳn phải là một trang tuyệt sắc!”. Vua ra lệnh cho tất cả đàn bà, con gái thử hài và tuyên bố nếu có ai đi vừa thì sẽ cưới làm hoàng hậu.

Đám hội lại càng náo nhiệt. Các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử hài nhưng không ai đi vừa. Mẹ con Cám cũng vào cầu may. Tôi bước ra, nhìn thấy tôi, Cám liền mách mẹ nhưng dì ghẻ không tin, bĩu môi nói: “Con nỡm! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!”,tôi chỉ lăng lẽ thử giày. Chân tôi đặt vào hài vừa như in. Vì chính chiếc giày này là của tôi. Tôi mở khăn lấy chiếc hài còn lại đi vào. Hai chiếc giống nhau như đúc. Lính hầu hò reo, vui mừng báo với vua. Lập tức, vua sai đoàn thị nữ rước tôi về cung và phong tôi làm hoàng hậu.

Tôi xin phép về giúp dì và em sửa soạn cỗ cúng trong ngày giỗ cha. Thấy tôi được làm hoàng hậu, hai người ghen ghét nhưng cố giấu,tôi không biết rằng Dì bảo tôi trèo cau, lấy một buồng để cúng cha rồi đẩy tôi đi vào cái chết. Tôi vừa leo lên đến ngọn thì dì chặt gốc. Cau đổ, tôi ngã xuống ao chết đuối. Dì ghẻ lấy quần áo của tôi cho Cám mặc rổi đưa vào cung nói dối vua rằng tôi chẳng may đã chết, nay cho em gái thay thế.

Thế rồi linh hồn tôi hóa thân vào thành chim vàng anh, suốt ngày quanh quẩn ở vườn ngự uyển. Tôi muốn ở bên nhà vua vì suốt ngày chỉ thấy nhà vua đang ủ ê, buồn bã, thấy tôi cứ quanh quẩn bên cạnh, nhà vua bảo: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo!”. Tôi âu yếm đậu lên vai rồi rúc vào tay áo nhà vua. Cám tức giận, về nhà mách dì ghẻ,cùng lúc đó nhân lúc nhà vua đi vắng, mẹ con Cám bắt tôi làm thịt rồi vứt lông ra vườn. Không thấy bóng dáng vàng anh, vua hỏi thì Cám nói dối: “Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim nên trộm phép bệ hạ đã giết ăn thịt mất rồi”. Nhà vua giận lắm nhưng không nói gì.

Ngày hôm sau, từ đám lông chim tôi hóa thân vào hai cây xoan đào thật đẹp. Khi nhà vua đi dạo trong vườn, cây xòe cành lá che đầu vua, giống như hai cái lọng. Vua thấy vậy sai lính hầu mắc võng vào giữa hai thân cây rồi chiều chiều ra nằm đong đưa hóng mát. Cám lại đem chuyện ấy mách mẹ, lúc này Dì ghẻ xúi Cám sai thợ chặt hai cây xoan đào rồi nói là đóng khung cửi để dệt áo cho vua. Khi biến thành khung cửi tôi thầm nói cho Cám nghe

“Cót ca cót két,
Lấy tranh chồng chị,
Chị khoét mắt ra!”

Cám hoảng hổn mách với mẹ, dì ghẻ bảo hãy đốt khung cửi thành tro rồi đem đổ thật xa. Cám làm theo, nhưng từ đống tro bỗng mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xanh tươi. Đến mùa, cây thị ra nhiều hoa mà chỉ đậu có mỗi một quả. Tôi đã ở trong quả thị bấy lâu mà không biết rồi sẽ như thế nào

Một hôm, bà lão hàng nước ở gần đấy đi ngang qua, ngửi thấy mùi thơm bèn ngẩng lên nhìn rồi giơ miệng bị ra, lẩm bẩm: “Thị ơi thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi chứ bà không ăn”. Thấy bà cụ hiền lành, nhân hậu, tôi liền rụng xuống. Những lúc bà lão đi chợ hoặc vắng nhà, tôi từ quả thị bước ra, lén dọn dẹp nhà cửa, nấu sẵn cơm cho bà lão. Bà lão lấy làm lạ, cố ý tìm ra sự thật. Một lần, vờ đi chợ được một lúc thì bà lão quay lại, nấp sau cánh cửa nhà. Thấy tôi đang làm việc, bà chạy lại ôm chầm lấy tôi rồi xé nát vỏ quả thị. Từ đó,Tôi giúp bà gói bánh, nấu nước, têm trầu để bà ngồi bán hàng.

Một hôm, vua ghé vào quán nước. Nhìn thấy mấy miếng trầu têm cánh phượng, người ấy hỏi ai têm, bà lão đáp là con gái mình têm. Tôi đứng nép sau bức mành, nghe rõ câu chuyện và nhận ra nhà vua. Nhà vua năn nỉ bà lão đưa con gái ra cho mình xem mặt. Tôi vừa xuất hiện, nhà vua đã nhận ra ngay, bèn bảo bà lão thuật lại sự tình, rồi ra lệnh cho lính hầu mang kiệu rước tôi và bà lão về cung. Tôi mừng và hạnh phúc lắm vì duyên phận vợ chồng không dễ dàng gì có được,xa cách bao lâu lại về với nhau.

Cám thấy tôi vẫn còn sống mà lại trắng đẹp hơn xưa nên Cám băn khoăn tự hỏi vì sao. Tôi bày cho Cám tắm với nước sôi thì sẽ đẹp. Cám hí hửng làm theo, Cám không biết là nước sôi có thể làm bỏng và nó lập tức chết. Dì ghẻ thấy vậy kinh hoàng, cũng lăn đùng ra mà chết. Từ đó,tôi sống hạnh phúc bên nhà vua,không có ai có thể ngăn cản được tình yêu và cuộc sống chúng tôi nữa.

Câu trả lời:

Bài 1:

I learn many subjects in school. But the one I enjoy learning is History.

History tells us how people lived ages ago. It also tells us how men had to struggle to make the world a better place to live. Many pupils, however, do not like to read History. They say that there are too many names and dates to remember. But they do not understand that if we do not know about the past, we can not understand the present properly. In fact, only a study of History will make us realize that everything we do today is the result of what our grandfathers and others before them did in the past. So, History is the long story, we learn many interesting things.

I love history so much that i have a lot of history books in my house. Some day, i might even write a history book myself.

Bài 2:

My favourite subject in school is English. It is quite easy and pleasant to study it. English is used in each field of life and it is useful to know it.

Most of web sides are in English. It is nice to be able to use such a sides like yahoo, msn and english Wikipedia. I can get a lot of information and news, which are not available on polish sides.

I can use english books and magazines. Sometimes I like to download e-books and magazines in pdf. It is effectively way to study English in home. Using English I can communicate with many peoples. I can use Skype and ICQ to talk and chat and get new contacts. I can use many applications and play games. I have used Windows XP and Office for two months and it was quite easy. Most of movies are in English. I like to watch them without subtitles. If I can I always switch the polish dubbing off ? I hate it.

The last advantage to know English is I can talk with all people talking English. This holidays when I was in Gdańsk somebody asked all people: ?Do you speak English?? Everybody talked ?No? and ?Nie wiem o co chodzi.?. When she came to me and asked the question ?Do you speak English?? I could say ?Yes, how can I help you?? She told ?How can I get to the bus station?? I told ?Can you see this building? The station is behind it. Please go this way?. She smiled to me and walked away. I was happy that I could help.

As you can see English is useful in life. All of us study it in everyday situations and activities. The language is quite simple and logic. I use it all the time. This is why I like English and it is my favourite subject in school

Bài 3:

My favorite subject in school is Mathematics. It is my favorite because I never have difficulty with it and always get good marks in tests.

I suppose I am lucky to be born with a clear-thinking brain. So ever since young, manipulating numbers and figures came easy to me.

The wonderful thing about Mathematics is that, besides some formulae, there is nothing else to remember. Every step in solving a problem is done logically. Other subjects like History and Geography require a lot of memory work. Remembering dates and other facts is hard work compared with the ease and simplicity of mathematical reasoning.

While Mathematics is simple to me, some of my friends have great difficulty with it. I do not really understand why. They get stuck with simple problems and often give up. So I help them out when I can.

The one advantage I have in being good in Mathematics is that I do not have to spend a lot of time on it. Homework and tests are a breeze. So I have plenty of time left over to study other subjects. Sometimes I feel sorry for my less fortunate classmates who get scolded in class for not completing their Mathematics homework.

Anyhow I have come to realize that human beings can be so different in their abilities while they look similar otherwise. Some of us are lucky to be good in some things. Others may not be so lucky.

Bài 4:

When I was in High school, my favorite subject was the Korean Literature. Most friends of mine used to fall asleep in the class because they felt the subject was boring and old-fashioned. However, my eyes were widened and I felt excited as the Literature class has started. I thought the subject was leading me to the new world that I had never experienced before in my life.

Through the reading of variety genre of the Literature, I could feel my ancestor's life and culture in the specific era. Especially in old poem, I noticed their values such as loyalty to the nation, religious attitudes influenced by shamanism, Buddhism and Confucianism. Moreover, people started to write an essay which is more narrative and descriptive based on their usual life. Through the reading, I could feel their sorrow, happiness and depicted love of nature and man. For me, it was fascinated to find out someone's feeling through out the short piece of the Literature.

As well as reading and analyzing others' masterpieces, my teacher, Mrs. Lee asked us to create some of the writing based on the characters of the Literature that we learned in the class. Sometime, I pretended to be a soldier who was filled with loyalty towards the Kingdom and described my emotions in the short poem. In addition, she made us to write a love letter to the main characters in the Literature. At the first time, students including me complained to the teacher because we were not familiar with the work. However, through the writing processing, I learned and practiced how to imagine other people's status and emotions.

Reading and writing process in the Korean Literature subject was one of my communication way to the world and history. I could access to various styles of Literature in different ages from old times to the modern ages. It always refreshed my thoughts and feelings during the school years.

Bài 5:

Of all the subjects taught in school, I like Geography best. It is the only subject which teaches me everything I need to know about the world we live in, for example, vegetation, way of life of people, climate, agriculture and economy.

I learn about the countries around Malaysia and in other parts of the world and, since I cannot visit and see for myself every country in the world, I get at least a good picture of these countries by studying Geography. I am very interested in finding out more about other countries especially those that experience snow when winter comes. I often wonder about the life of the people in these countries. What would it be like to be dressed in thick clothes and boots and living in snow-covered houses amidst fir trees? Then, there are the hot desert lands that stretch for miles and miles without a tree in sight. They, too, fascinate me. I marvel at the inhabitants who are able to tolerate the intense heat of the burning sun, traveling along miles of barren, hot land on camels where the only vegetation found would be the few palm trees growing at an oasis. The wide range of food which we enjoy daily such as butter, cheese, fruits, bread that comes from wheat and many others lead me on to find out how they are processed and imported into Malaysia and finally make their appearance in our homes.

As I study more in Geography, I understand better the changes in weather conditions, for example, why there are hot and dry seasons or cool rainy days during the monsoon season and how deserts are caused.

Câu trả lời:

Cách đây đúng một ngàn năm trước, năm 1009, vua Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Lý Thái Tổ. Mùa xuân sau đó là năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Từ đó về sau, triều Lý truyền ngôi được hơn 200 năm, trong hoàn cảnh đất nước thái bình thịnh trị. Đến khoảng năm 1231, một người con trai chào đời tại Kiếp Bạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, đã có một thầy tướng bảo rằng:"Người này ngày sau có thể cứu nước giúp đời" (Theo Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép). Đó chính là Trần Hưng Đạo, người anh hùng, đức Thánh Trần, người đã để lại bài Hịch tướng sĩ và Binh thư yếu lược. Vậy chúng ta hãy dựa vào Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ và Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo để tìm hiểu về vai trò của những người lãnh đạo anh minh!

Phần mở đầu bài chiếu, tuy là một bậc đế vương, là "thiên tử" nghĩa là có quyền thay trời quyết định mọi chuyện nhân gian, vậy mà vua Lý Thái Tổ vẫn viết những câu văn đặc biệt nhấn mạnh đến "ý dân": "trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đồi".

Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại rằng khi vua Đinh Tiên Hoàng chọn đất làm đế đô, nhà vua đã chọn Hoa Lư vì: "Chọn được đất hẹp ở Đàm Thôn, vua muốn dựng đô ở đó, nhưng thế đất hẹp mà thiếu hiểm trờ, nên vẫn đóng đô ở Hoa Lư". Hoa Lư là vùng đất bằng phẳng nhưng chật hẹp và bị bao vây bởi những dây núi đá vôi dựng đứng, ra vào chỉ có một con đường độc đạo. Hiểm trở thì hiểm trở thật, song không có lợi cho việc xây dựng triều đại và phát triển đất nước, ở Hoa Lư, nhà Đinh và nhà Tiền Lê không bị giặc ngoại xâm, mà lại liên tiếp những nội loạn: vua tôi, cha con, anh em tranh giành nhau ngai vàng: Đinh Liễn giết em là Hạng Lang khi vua cha Đinh Tiên Hoàng còn tại thế, Đô Thích là bề tôi lại giết Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành vừa mất thì ba con đánh nhau....Đó là những lí do mà Lý Thái Tồ đã thể hiện qua câu: "Hai triều Đinh Lê vẫn theo ý riêng mình...cứ đóng yên thành ở đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngùi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi".

Sau khi phân tích những lí do khiến vua nhà Lý muốn dời đô, nhà vua đã phân tích những ưu điểm của vùng đất mới: "Huống gì thành Đại La, ở vào nơi trung tâm của trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà phẳng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất phong phú tốt tươi...."

Qua phần phân tích những ưu điểm của thành Đại La, chúng ta thấy vua nhà Lý đã không xuất phát từ mục đích phòng ngự, mà xuất phát từ ý muốn cho "dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt" đời sống của vua quan và toàn dân cũng khởi sắc vì "muôn vật cũng phong phú tốt tươi". Sử gia Ngô sĩ Liên khen rằng: "Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thế Việt Nam, không nơi nào hơn được nơi này!"

Không những vua Lý Thái Tổ vừa tỏ lòng chăm lo, cải thiện đời sống muôn dân trong câu trên, mà nhà vua còn thể hiện bản lĩnh và ước vọng chính đáng của một nhà lãnh đạo anh minh trong việc ca ngợi những người lãnh đạo biết lo toan nghiệp cả dài lâu:" Phải đâu các vua thời Tam Đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu..."

Thực vậy, dời đô ra Thăng Long, lợi ích về giao thương kinh tế đã rõ, còn về quân sự, tuy không có núi non hiềm trở như Hoa Lư, nhưng vẫn rất thuận tiện về việc giữ nước, giữ thành. Nếu kẻ xâm lược phương Bắc tấn công bằng đường sông, thì mỗi con sông là một phòng tuyến, nếu xâm lược bằng đường bộ, cũng phải băng qua nhiều cầu, nhiều sông, dân chúng hai bên bờ sông là lực lượng chiến sĩ can cường sẵn sàng bảo vệ quê hương!

Thế rồi, "trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân", lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững chính quyền suốt hơn hai trăm năm, còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình. Xây dựng Văn Miếu năm 1070 và Quốc Tử Giám năm 1070 đánh dấu sự phát triển của văn hóa và giáo dục, các khoa thi tuyển chọn hiền tài đã được mở ra bắt đầu từ năm 1075. Thể chế chính trị cũng được phân cấp quản lí rõ ràng, dựa vào luật pháp nhiều hơn là sự chuyên quyền độc đoán của một cá nhân. Công lao dời đô và xây dựng đất nước của Lý Thái Tổ thực sự lớn lao, lưu danh muôn thuở với non sông nước Việt!

Năm 1283, vua Nguyên sai Toa Đô mang quân đánh Chiếm Thành, nhưng chưa được. Năm 1284, Nguyên Thái Tổ bên Tàu muốn tiến đánh Đại Việt, phong cho hoàng tử Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương. 

Tháng 12 năm 1284, tướng nhà Nguyên là hoàng tử Thoát Hoan đem theo 16 tướng hùng mạnh cùng các quân sĩ giỏi chia làm 3 ngả tiến đánh Chi Lăng, Trần Hưng Đạo thất thế tại sông Đuống đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, phải bỏ kinh thành Đại La mà chạy, rồi cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng:" Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?"

Trần Hưng Đạo tâu rằng:

"Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã, rồi sau hãy hàng!"

Từ câu thề mang đầu ra giữ ngai vàng và xã tắc, Hịch tướng sĩ ra đời cùng với Binh thư yếu lược, trong lúc ấy, Thoát Hoan cùng các binh tướng đang đóng đô tại kinh đô nước Việt. Đau nỗi đau của dân tộc, nhục nỗi nhục của hoàng gia và võ tướng, Trần Quốc Tuấn đã cầm bút viết Hịch tướng sĩ, không phải là giọng văn của kẻ sĩ chốn học đường, mà là tiếng kêu gào, tiếng trống kèn của một đại tướng thúc giục mọi quân sĩ xông pha giết giặc!

Tấm lòng đau đớn của Trần Quốc Tuấn chẳng phải nỗi buồn thương của một văn nhân khi nước mất nhà tan, mà là nỗi căm hận sục sôi kìm nén trong tiếng rít giữa kẽ răng, truyền đến ngàn vạn binh tướng bằng giọng văn hào hùng khí khái: "Ta cùng các người sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, mang thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. ..thật khác nào ném thịt nuôi hổ đói, sao cho khỏi tai vạ về sau!...nay các ngươi ngồi nhìn chù nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm".

Ngày dựng kinh đô, Lý Thái Tổ ca ngợi Đại La thành, ao ước non sông vĩnh cửu, thì nay Trần Quốc Tuấn không hổ danh tôn tử anh hùng, đêm không ngủ, ngày không ăn, nuôi chí khôi phục cơ đồ đã mất:" Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa...Chỉ căm túc rằng chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, cũng nguyện xin làm" bằng cách phân tích những thú vui chơi sa đạo của các tướng sĩ:

"Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoạc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát... "

Mặc dù là đại tướng quân, Trần Hưng Đạo đã đưa ra lời thuyết phục hết sức cảm động, vô cùng thống thiết bằng nghệ thuật sử dụng những hình ảnh đối lập thật chua chát:

"Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng mộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc, vả lại vợ bìu con ríu, việc quân cơ trăm sự ích chi!"

Để thức tỉnh ba quân tướng sĩ, Trần Hưng Đạo không hề dùng kỉ luật hay pháp luật mà những lời kêu gọi chân thành của vị tướng tài ba này xuất phát từ dòng máu yêu quê hương, căm thù giặc xâm lược:

"tiền của tuy nhiều, không mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe, không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không làm giặc say chết, tiếng hát hay không thề làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!"

Ở đoạn hịch này, ta thấy hình ảnh dữ dội được đưa lên đầu đoạn là "đầu giặc"! Thực sự đối với một võ tướng, đầu giặc là tất cả sự nghỉệp của người ấy! Huống chi là đối với Trần Hưng Đạo, ông đã lấy đầu mình ra thay cho sự hi sinh của Trần Nhân Tông.

Cuối bài hịch, sau khi vẽ ra cái tiền đồ tối tăm của các tướng sĩ bê tha sau khi thua trận, mất nước, tác giả đã khuyên nhủ hết lời các tướng sĩ hãy tìm ra con đường chân chính mà tiến bước: học tập binh thư yếu lược để cứu nước. Câu trả lời cho Trần Hưng Đạo là những chiến thắng chống quân Nguyên vang dội đến ngày nay.

Hơn một ngàn năm qua, lịch sử nước Việt đã trải qua bao sóng gió thăng trầm, nhưng công lao của Lý Thái Tổ và Trần Hưng Đạo mãi mãi là những vết son không phai trong văn học và lịch sử việt Nam! Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ là một tài liệu lịch sử đáng tự hào và ghi ơn; Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo vừa có giá trị văn học, lịch sử, lại vừa là một tấm gương rạng ngời thiên thu về tình yêu nước của anh hùng dân tộc việt Nam xưa.

Câu trả lời:

Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của những người anh hùng dân tộc vĩ đại . Tài năng kiệt xuất và đức độ cao cả của họ đã có ảnh hướng quyết định đến vận mệnh đất nước . Đọc lại áng văn “ Chiếu dời đô “ của Lí Công Uẩn và bản hùng văn bất hủ muôn đời “ Hịch tướng sĩ “ của Trần Quốc Tuấn , chúng ta thấy sáng ngời nhân cách và hành động vì dân vì nước của họ . Qua đó , chúng ta hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc .

“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn là sự tỏ bày ý định từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế . Sau đó , ông đổi tên kinh đô thành Thăng Long . Đấy là năm Thuận Thiên thứ nhất – năm khởi đầu sự nghiệp lẫy lừng của nhà Lí – 1 triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà đến đỉnh cao vòi vọi .

Xưa nay , thủ đô là trung tâm về văn hoá , chính trị của 1 đất nước . Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của 1 dân tộc . Thủ đô có ý nghĩa rất lớn . Dừơng như lịch sử của các nước có nền văn minh lâu đời đều có những cuộc dời đô như thế . Mỗi lần dời là một thử thách của dân tộc . Đó phải là quyết định của những đầu óc ưu tú nhất thời đại . Nói cách khác , ko có ý chí quyết tâm lớn , ko có tầm nhìn thấu cả tương lai thì Lí Công Uẩn ko thể nói đến chuyện dời đô .

Mở đầu bài chiếu , nhà vua giải thích tại sao lại dời đô . Và bằng 1 lí lẽ ngắn gọn nhưng sắc sảo , cùng với dẫn chức thiết thực , nhà vua đã khẳng định : việc dời đô ko phải là hành động , là ý chí của 1 người . Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử . Lí Công Uẩn tuyệt vời là đã hiểu được khát vọng của nhân dân , khát vọng của lịch sử . Dân tộc Việt ko chỉ là 1 nước độc lập . Muốn bảo vệ được điều ấy thì non sông , nhân tâm con người phải thu về 1 mối . Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh . Muốn vậy , việc đầu tiên là phải tìm 1 nơi “trung tâm của trời đất” , 1 nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi” . Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dực núi” . Nơi đây ko phải là miền Hoa Lư chật hẹp , núi non bao bọc lởm chởm mà là “ địa thế rộng mà bằng , đất đai cao mà thoáng” . Như vậy , đây là mảnh đất lí tưởng “ dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ và ngập lụt , muôn vật rất mực phong phú tốt tươi .”Thật cảm động , vị vua anh minh khai mở 1 triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân . Tìm chốn lập đô cũng vì dân , mong cho dân được hạnh phúc . Trong niềm tin của vua , có 1 kinh đô như vậy , nước Đại Việt sẽ bền vững muôn đời .

Dời đô ra Thăng Long là 1 bước ngoặc rất lớn . Nó đánh dấu sự trường thành của dân tộc Đại Việt . Chúng ta ko cần phải sống phòng thủ , phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù . Chúng ta đã đủ lớn mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa nước phát triển đi lên , đưa đất nước trở thành quốc gia độc lập sánh vai với phương Bắc . Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời , là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy !

Có thể nói , với trí tuệt anh minh tuyệt vời , với lòng nhân hậu tuyệt vời , nhà vua Lí Công Uẩn đã bày tỏ ý định với các quan trong triều ý định dời đô giàu sức thuyết phục . Theo em , phần đầu nhà vua đưa ra những lí lẽ thuyết phục là nhờ những bằng chứng sử sách . Nhưng phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô , ko chỉ là cho ta thoả mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm . Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ , tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực . Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó . Trải qua bao thăng trầm , con rồng bay lên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho cả nước bái phục nhân cách , tài năng của Lí Công Uẩn , 1 vị vua anh minh vĩ đại .

“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo , đặc sắc của tổ tiên để lại . Ngôn ngữ trang trọng , đúng là khẩu khí của bậc đế vương . Đó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam . Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ .

Tiếp theo triều đại nhà Lí rất vẻ vang với sự khởi thuỷ là vị vua anh minh Lí Thái Tổ , nước Đại Việt viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của mình ở thời đại nhà Trần với đầy những chiến công lấp lánh . Những người lãnh đạo thời kì này đều ghi tên mình vào sử sách . Trần Quốc Tuấn , tác giả “Hịch tướng sĩ” là 1 ví dụ . Ông được nhân dân Việt Nam tôn thờ gọi là Đức Thánh Trần . Người hùng này sở dĩ tên tuổi “muôn đời bất hủ” lưu danh trong sử sách , là nhờ những chiến công giữ nước tuyệt vời . Trần Quốc Tuấn gắn tên mình với Bạch Đằng , Chương Dương , Hàm Tử . Là người đã bẻ gẫy ý đồ xâm lược hung hăng của đế quốc Nguyên – Mông . Nhà quân sự kiệt xuất này có những chiến công hiển hách là nhờ ông quan tâm tới vận mệnh nước nhà bằng trái tim ý chí của một anh hùng dân tộc