Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 32
Số lượng câu trả lời 4138
Điểm GP 1347
Điểm SP 7156

Người theo dõi (1282)

Phi Trương
Huy Jenify
Trần Doanh Doanh
lyng

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

"Đồng chí" là bài thơ hay nhất của Chính Hữu viết về người nông dân mặc áo lính trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bài thơ được viết vào đầu xuân 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, nó đã đi qua một hành trình nửa thế kỉ làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

Hai mươi dòng thơ, với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, cảm xúc dồn nén, hình tượng thơ phát sáng, có một vài câu thơ để lại nhiều ngỡ ngàng cho bạn đọc trẻ ngày nay.

Bài thơ "Đồng chí" ca ngợi tình đồng đội gian khổ có nhau, vào sinh tử có nhau của các anh bộ đội Cụ Hồ, những người nông dân yêu nước đi bộ đội đánh giặc trong những năm đầu gian khổ thời 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954).

Hai câu thơ đầu cấu trúc song hành, đối xứng làm hiện lên hai “gương mặt" người chiến sĩ rất trẻ, như đang tâm sự cùng nhau. Giọng điệu tâm tình của một tình bạn thân thiết:

"Quê hương anh nước mặn, đồng chua,

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá".

Quê hương anh và làng tôi đều nghèo khổ, là nơi "nước mặn, đồng chua", là xứ sở "đất cày lên sỏi đá". Mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của mình, Chính Hữu đã làm cho lời thơ bình dị, chất thơ mộc mạc, đáng yêu như tâm hồn người trai cày ra trận đánh giặc. Sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau là cơ sở, là cái gốc làm nên tình bạn, tình đồng chí sau này.

Năm câu thơ tiếp theo nói lên một quá trình thương mến: từ "đôi người xa lạ" rồi "thành đôi tri kỉ", về sau kết thành "đồng chí". Câu thơ biến hóa, 7, 8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ, cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: "Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau". Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!"

"Súng bên súng" là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; "anh với tôi" cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. "Đầu sát bên đầu" là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao. Câu thơ "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ. Chia ngọt sẻ bùi mới "thành đôi tri kỉ". "Đôi tri ki" là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình. Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ "đồng chí” làm diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc. Các từ ngữ được sử dụng làm vị ngữ trong vần thơ: bên, sát, chung, thành - đã thể hiện sự gắn bó thiết tha của tình tri kỉ, tình đ-ồng chí. Cái tấm chăn mỏng mà ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính, không bao giờ có thể quên:

"Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội đã về đâu

Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt

Nhớ cái rét ban đầu

Thấm mối tình Việt Bắc..."

("Chiều mưa đường số 5" - Thâm Tâm)

Ba câu thơ tiếp theo nói đến hai người đồng chí cùng nhau một nỗi nhớ: nhớ ruộng nương, nhớ bạn thân cày, nhớ gian nhà, nhớ giếng nước, gốc đa. Hình ảnh nào cũng thắm thiết một tình quê vơi đầy:

"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay,

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính".

Giếng nước gốc đa là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong ca dao xưa: "Cây đa cũ, bến đò xưa... Gốc đa, giếng nước, sân đình...", được Chính Hữu vận dụng, đưa vào thơ rất đậm đà, nói ít mà gợi nhiều, thấm thía. Gian nhà, giếng nước, gốc đa được nhân hóa, đang đêm ngày dõi theo bóng hình anh trai cày ra trận ?

Đoạn thơ trích trong bài "Đồng chí" vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dị khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh – người lính binh nhì buổi đầu kháng chiến.

Ngôn ngữ thơ hàm súc, mộc mạc như tiếng nói của người lính trong tâm sự, tâm tinh. Tục ngữ thành ngữ, ca dao được Chính Hữu vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất thơ dung dị, hồn nhiên, đậm đà. Sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và màu sắc lãng mạn chung đúc nên hồn thơ chiến sĩ.

"Đồng chí" là bài thơ rất độc đáo viết về anh bộ đội Cụ Hồ - người nông dân mặc áo lính, những anh hùng áo vải trong thời đại Hồ Chí Minh. Bài thơ là một tượng đài chiến sĩ tráng lệ, mộc mạc và bình dị, cao cả và thiêng liêng.

Câu trả lời:

Chiến tranh luôn mang lại nhiều đau thương mất mát cho con người, hạnh phúc gia đình bị chia cắt. Nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà là người chịu cảnh bất hạnh và để lại cho người đọc nhiều cảm xúc.

Đất nước đang có chiến tranh Thu phải xa người cha ngay từ khi lọt lòng, Thu chỉ biết về cha qua những hình ảnh trong bức ảnh được treo trong nhà, suốt tám năm Thu không gặp cha, không được thấy cái nhìn âu yếm, trìu mến của cha, không cảm nhận được tình cảm mà người cha dành cho con, chiến tranh khiến gia đình li tán, khiến cô bé chịu nhiều thiệt thòi. Càng thương cho Thu và những đứa trẻ có hoàn cảnh đó ta càng căm ghét chiến tranh phi nghĩa bấy nhiêu.

Hình ảnh người cha sau khi trở về ông Sáu gọi Thu bằng con, Thu ngơ ngác, lạ lẫm và chạy gọi mẹ, sự việc bất ngờ không chỉ khiến ông Sáu mà cả người đọc cũng cảm thấy xót xa, đến khi mẹ nói đây là cha thì Thu không chấp nhận được, rõ ràng sao có thể chấp nhận được khi người cha này quá khác so với khung cảnh mà em được biết. Trong bữa cơm mẹ Thu bảo mời cha vào ăn cơm thì cô bé Thu đã dùng những lời nói trống không với ông, điều đó thể hiện được Thu chưa chấp nhận được đó là cha của mình.

Trong bữa cơm ông Sáu gắp thức ăn thì Thu không chịu, những hành động thái quá đó làm cho ông Sáu tức giận rồi cô bé bị đánh,theo tâm lý chung của một đứa trẻ Thu đã bỏ về nhà ngoại. Khi ở ngoại Thu được giải thích hiểu được những điều mà cha phải trải qua, chiến tranh cướp đi khuôn mặt để lại vết sẹo dài, nỗi đau đó đã làm cho bé Thu tự giằn vặt bản thân và cảm thấy có lỗi với cha.

Khi quay về nhà cô bé đã có những giây phút cuối cùng ở bên cha, những giây phút đó đã thể hiện được những nỗi đau đớn trong tâm hồn của bé, hành động trước đây làm cho bé Thu đau đớn và tự giằn vặt bản thân, tình cảm cha con đã thôi thúc và giúp cô bé vượt qua tất cả để ở bên cha mình.

Có thể hiểu được những hành động trong truyện của bé Thu thể hiện sự ngang bướng, sự hồn nhiên của một cô bé đang tuổi ăn tuổi học, những điều không đúng cô bé sẽ không chịu thừa nhận, đây là tâm lý chung của những đứa trẻ cùng lứa tuổi. Khi người cha đi những tình cảm trong tâm hồn Thu mới bộc lộ ra, sâu sắc, nghẹn ngào, cảm xúc dâng trào về tình cha con thiêng liêng, đó cũng là tình cảm gia đình đáng trân trọng.

Nhân vật bé Thu đã được tác giả xây dựng tính cách qua tâm lí và hành động rất hay và chân thực, cô bé có tình cảm mạnh mẽ nhưng thật rạch ròi. Thu có nét ngang bướng nhưng vẫn là một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ. Hình ảnh bé Thu đã để lại ấn tượng mạnh trong lòng độc giả.