Câu 1:
- Đầu thế kỉ VI, nhà Lương đô hộ Giao Châu.
Chính quyền đô hộ chia lại nước ta thành nhiều châu huyện do người Trung Quốc cai quản.
- Phân biệt đối xử: Người Việt không được giữ những chức vụ quan trọng mà chỉ có tôn thất nhà Lương và các dòng họ lớn mới được làm.
- Đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí.
Câu 2: Diễn biến cuộc khởi nghĩa Lý Bí và nước Vạn Xuân được thành lập:
- Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, hào kiệt khắp nơi kéo về hưởng ứng.
- Trong vòng chưa đầy ba tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện.
- Tháng 4 năm 542, nhà Lương huy động quân sang đàn áp. Nghĩa quân chủ động kéo quân lên phía bắc và đánh bại quân Lương, giải phóng thêm Hoàng Châu.
- Đầu năm 543, nhà Lương tổ chức cuộc tấn công đàn áp lần thứ hai. Quân ta chủ động đón đánh địch ở Hợp Phố.
- Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế), đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng kinh đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) ; thành lập triều đình với hai ban văn, võ.
Câu 3: Diễn biến cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng:
- Khoảng năm 776, Phùng Hưng cùng em là Phùng Hải đã họp quân khởi nghĩa ở Đường Lâm.
- Ít lâu sau, Phùng Hưng kéo quân về bao vây phủ thành Tống Bình. Phùng Hưng chiếm được thành, sắp đặt việc cai trị.
- Phùng Hưng mất, con trai là Phùng An nối nghiệp cha. Năm 791, nhà Đường đem đại quân sang đàn áp, Phùng An ra hàng.
Câu 4: Tình hình kinh tế và văn hóa Cham-pa từ thế kỉ II -X:
*Văn hóa:
- Chữ viết: Chữ Phạn
- Tôn giáo: Đạo Phật và đạo Bà - la - môn
- Tín ngưỡng: Tục hỏa táng người chết
- Kiến trúc: Tháp Chăm, các bức tượng, chạm nổi,...
*Kinh tế:
- Đánh cá, khai thác lâm thổ sản
- Biết trồng trọt, làm thủy lợi
- Trao đổi buôn bán với nước ngoài.
- Kinh tế phát triển tương đương với cư dân các vùng lân cận.
Câu 5: Khúc Thừa Dụ dựng quyền tự chủ trong hoàn cảnh:
- Từ cuối thế kỉ X, nhà Đường suy yếu, Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ bị giáng chức.
- Đầu năm 906, được sự ủng hộ của nhân dân, Khúc Thừa Dụ đánh chiếm Tống Bình rồi tự xưng là Tiết độ sứ, xây dựng một chính quyền tự chủ.
Câu 6: Diễn biến của trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng:
- Năm 938, quân Nam Hán kéo vào bờ biển nước ta.
- Khi nước triều lên, quân ta khiêu chiến, giả vờ thua rút chạy, nhử giặc đuổi theo vượt qua trận địa cọc ngầm ở cửa sông Bạch Đằng.
- Khi nước triều rút, quân ta dốc toàn lực lượng đánh quật trở lại, quân giặc bị đánh tan.
Ý nghĩa:
+ Đây là một chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ta, đã đánh bại hoàn toàn mưu đồ xâm lược của phong kiến phương Bắc.
+ Đã bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và mở ra thời đại độc lập đối với dân tộc ta.