HOC24
Lớp học
Môn học
Chủ đề / Chương
Bài học
Đổi: 12 tấn = 12000kg
a. Khối lượng riêng của xe cát là:
\(D=\dfrac{m}{V}=\dfrac{12000}{8}=1500\left(kg/m^3\right)\)
b.Trọng lượng riêng của xe cát là:
\(d=10.D=10.1500=15000\left(N/m^3\right)\)
c. Trọng lượng của xe cát là:
\(P=10.m=10.12000=120000\left(N\right)\)
d. Không thể viết như thế vì 12000kg là khối lượng m, còn 120000N là trọng lượng P, hai đại lượng này khác nhau nên không thể viết như thế.
Vi 62 chỉ chia hết cho 2 và 31 nên tổng số phần bằng nhau phải là 31.( vì tổng số phần không thể là 2 )
Coi số can loại 2 là 2 phần thì can loại 3 là 5 phần và số can loại 1 là 24 phần bằng nhau như thế
Số căn loại 1 : 60 : 31 x 24 = 48 ( cái )
2 : 60 : 31 x 2 = 4 ( cái )
3 : 60 : 31 x 5 = 10 ( can )
Can loại 1 nhiều hơn can loại 3 là : 48 - 10 = 38 ( cái )
Đ/S : 38 cái
Số xe ô tô công ti đó cần là:
570:45=13( dư 30) (xe)
Vì 30 người cũng cần có một xe nên :
13+1=14(xe)
Đ/S:14 xe
Nếu đúng nhớ tick cho mình ngen bạn
Nói trọng lượng riêng của nước là 10000N/m3 có ý nghĩa là cứ 1m3 nước thì có trọng lượng là: 10000N
Giải:
a/ Độ biến dạng của lò xo là:
\(l'=l-l_0=35-30=5\left(cm\right)\)
b/ Chiều dài của lò xo là:
\(l_1=l_0+l_2=30+2=32\left(cm\right)\)
Vậy độ biến dạng của lò xo khi treo vật năng là: 5cm
chiều dài của lo xo khi lò xo biến dạng 2cm là 32cm
Có ba loại máy cơ đơn giản là: mặt phẳng nghiêng, ròng rọc và đòn bẩy.
Mặt phẳng nghiêng làm giảm lực di chuyển vật. Đòn bẩy giúp giảm lực để nâng vật. Ròng rọc làm thay đổi hướng kéo vật (ròng rọc cố định) và làm giảm lực nâng vật (ròng rọc động).
Mặt phẳng nghiêng như ván bắt lên xe tải, ròng rọc dùng trong các công trình xây dựng để đưa vật liệu lên cao. Đòn bẩy như búa nhổ đinh....
Tổng lực tối đa mà hai bạn có thể tạo ra là:
\(F=F'+F'=490+490=980\left(N\right)\)
Ta thấy lực mà hai bạn tạo ra nhỏ hơn trọng lượng của thùng (980<1000) nên hai bạn dùng phương án nâng thùng sẽ không đưa được thùng lên xe tải.
Có thể dùng mặt phẳng nghiêng để đưa thùng phi lên xe tải.
Khi xây những con đê để ngăn lũ thì ta nên xây những con đê có dạng hình thang rộng dần về phần chân đê để chân đê có thể chịu được áp suất lớn hơn mặt đê. Vì chân đê nước có độ sâu lớn hơn, áp suất sinh ra cũng lớn hơn nên chân đê cần phải lớn hơn mặt đê để đê đứng vững và chịu được áp suất lớn.
Thời gian đi hết quãng đường trước khi sửa xe là:
\(t_1=\dfrac{s_1}{v_1}=\dfrac{4}{10}=0,4\left(h\right)\)
Thời gian đi hết quãng đường sau khi sửa xe là:
\(t_2=\dfrac{s_2}{v_2}=\dfrac{8}{v_2}\)
Ta có vận tốc trung bình của người đó là:
\(v_{tb}=\dfrac{s}{t}=\dfrac{s_1+s_2}{t_1+t_2}\Leftrightarrow6=\dfrac{4+8}{0,4+\dfrac{8}{v_2}}\)
Suy ra: \(6\left(0,4+\dfrac{8}{v_2}\right)=12\)
\(\Leftrightarrow2,4+\dfrac{48}{v_2}=12\\ \Leftrightarrow12-2,4=\dfrac{48}{v_2}\\ \Leftrightarrow9,6=\dfrac{48}{v_2}\\ \Leftrightarrow9,6v_2=48\\ \Leftrightarrow v_2=5\)
Vậy vận tốc của người đó sau khi sửa xe là: 5km/h
Tóm tắt:
\(h=1,2m\\ d=8000N/m^3\\ h_0=0,4m\\ \overline{p_{đáy}=?Pa}\\ p_{điểm}=?Pa\)
Áp suất của dầu tác dụng lên đáy bình là:
\(p_{đáy}=d.h=8000.1,2=9600\left(Pa\right)\)
Độ cao của điểm M là:
\(h_M=h-h_0=1,2-0,4=0,8\left(m\right)\)
Áp suất của dầu tác dụng lên điểm M là:
\(p_{điểm}=d.h_M=8000.0,8=6400\left(Pa\right)\)
Vậy áp suất của dầu lên đáy bình là: 9600Pa
Áp suất của dầu lên điểm M là: 6400Pa