Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 20
Số lượng câu trả lời 470
Điểm GP 30
Điểm SP 937

Người theo dõi (93)

Shin
Nguyễn Gia	Bảo
Trang Nguyen
Mai Diệu Xuân

Đang theo dõi (14)


Câu trả lời:

a, Ghi lại chính xác hai khổ thơ

* Khổ thơ đầu

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên fố đông người qua.

* Khổ thơ cuối

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ.

b, Fân tích hai khổ thơ

* Hình ảnh ông đồ thời hoàng kim

..Khổ thơ đầu đã vẽ ra một bức tranh đón tết với hình ảnh hoa đào nở. Nổi bật trên bức tranh ấy là hình ảnh ông đò già ngồi viết thư fab

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đò già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên fố đông người qua.

Cứ mỗi khi hoa đào nở, đó cũng chính là sự vần xoay của trời đất khi đã hết một chu kì. Mùa xuân đã về, ngày Tết cổ truyền của dan tộc đã đến. Trên con fố hay các fiên chợ ta lại thấy sự hiện diện của ông đò vớ Mực tàu, giấy đỏ để viết thư fab cho người đi sắm tết. Các cụ ta từ xưa đã có câu

Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng fáo, bánh chưng xanh.

Cũng với thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng,.. câu đối đỏ đã làm nên nét đặc trưng của ngày tết Việt Nam xưa.Vì thế sự xuất hiện của ông đồ đã trở nên quá quen thuộc và trở thành nét sinh hoạt văn hóa đáng trân trọng trong đời sống nhân dân Việt Nam trong một thời kì dài lịch sử.

* Hình ảnh ông đò thời tàn.

Khổ thơ cuối là niềm xót thương, sự tiếc nuối của nhà thơ

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu.

Hình ảnh ông đò già ngồi viết câu đối đã vĩnh viến chìm vào quá khứ, vĩnh viễn vắng bóng trong cuộc sông của người Việt Nam.Câu thơ chất chứa bao nỗi niềm bâng khuâng, , tiếc nuối, xót xa của cái tôi trữ tình.

Câu thơ cuối là một lời tự ván của nhà thơ, chất chứa đầy cảm xúc suy tư. Hình ảnh ông đồ ngồi viết câu đối không chỉ là của một cá nhân mà đó đại diện cho biết bao thế hệ ông đồ làm nên nét đeb trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc, tưởng như bền vững không bao giờ bị mất.Vậy mà thời thế thay đổi, giao tranh cũ..mới, nền văn hóa Đông ..Tây khiến cho nền văn hoasNho học nước nhà trở nên chao đảo.Chữ Nho đã bị đẩy lùi vào dĩ vãng để lại trong lòng những người như ông đồ bao đau đớn, xót xa.

* Nét đặc sắc trong nghệ thuật biểu hiện

+, Hai khổ thơ tạo ra sự hô ứng đầu cuối, nói lên sự biến đổi về thời gian, không gian, thời thế và hình tượng nhân vật.Trên cái nền tuần hoàn của thời gian, không gianvaf sự sống, nhà thơ đã làm nổi bật leencais đã từng hiện hữu và sự mất đi vĩnh viễn của một nền văn hóa.

+, Ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị nhưng sâu sắc. Câu hỏi tu từ két lại bài thơ như xoáy vào lòng người bao nỗi niềm, băn khoăn, trăn trở, tiếc nuối.

Câu trả lời:

Thơ lục bát là thể thơ dân tộc, hoàn thiện trên văn học vào thế kỉ thứ XVIII, đỉnh cao là Truyện Kiều. Thể thơ lục bát trong truyện Kiều được Nguyễn Du khai thác triệt để khả năng biểu hiện của nó, kết hợ giữa hai fương thức tự sự..trữ tình, tinh tế, giản dị mà âm vang, có thể diễn tả được nhiều sắc thái của cuộc sống, những suy nghĩ trong nội tâm, cảm xúc, tình cảm của con người cũng như miêu tả được cảnh thiên nhiên, sự vật.

+ Tả tâm trạng, cảm xúc con người

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân

Ôm lòng đòi đoạn xa gần

Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau

+ Vừa kể vừa tả

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ, mười fân vẹn mười.

+ Tả cảnh ngày xuân

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

+ Tả cảnh ngụ tình

Nao nao dòng nước uốn quanh

nhị cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

...Buồn trông cửa bể chiều hôm

.................................................................

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

+ Trình bày lí lẽ

Rằng tôi chút fận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng riêng những kính yêu,

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

+ Bình luận, nhận xét

...Đã cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho cho hại cho tàn cho cân.

...Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

...Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

...Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

>> Lục bát là thể thơ dễ làm, linh hoạt, nhưng rất khó hay. Song dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Ông đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo, khai thác triệt đẻ khả năng biểu đạt, đưa thể thơ đạt tới trình đọ cao siêu.