Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bắc Giang , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 4
Số lượng câu trả lời 277
Điểm GP 38
Điểm SP 327

Người theo dõi (71)

kitoya
lê tùng lâm
cd vn

Đang theo dõi (5)


Câu trả lời:

“Nguyên tiêu” nằm trong chùm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc: “Nguyên tiêu”, “Báo Tiệp”, “Thu dạ”,…Sau chiến thắng Việt Bắc, thu đông năm 1947, sang xuân hè 1948, quân ta lại thắng lớn trên đường số bốn. Niềm vui thắng trận tràn ngập tiền tuyến hậu phương. Trong không khi sôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo “
Cứu quốc” như một đoá hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hương. Xuân Thuỷ đã dịch khá hay bài thơ này. Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt:

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền”.

Đêm nguyên tiêu trăng sáng ngời trên một không gian bao la. Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào đạt trong tâm hồn lãnh tu đêm nguyên tiêu lịch sử.

Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hương bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của “xuân giang”. Màu xanh ngọc bích của “xuân thuỷ” tiếp nối với màu xanh thanh thiên của “xuân thiên”. Ba từ “xuân” trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần” của cảnh vật sông, nước và bầu trời.

“Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên”.

(Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)

“Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả mùa xuân, của sông nước, đất trời vào xuân. Nó thể hiện vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của đất nước ta: trong lửa đạn vẫn dạt dào một sức sống trẻ trung, tiềm tàng. Ngoài giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến.

Với Bác Hồ, yêu vẻ đẹp đêm nguyên tiêu, yêu thiên nhiên cũng là yêu đời tha thiết. Bác yêu thiên nhiên nên sông, núi, cỏ cây, hoa lá, tạo vật trong thơ Bác rất hữu tình. Có “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Có “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” trong niềm vui thắng trận. Bác yêu hoa núi, chim rừng Việt Bắc: “Xem sách, chim rừng vào cửa đậu – Phê văn hoá núi ghé nghiên soi”; yêu ngọn núi, chim rừng báo mùa thu chợt đến… Thiên nhiên trong thơ Hồ chí Minh là một trong những yếu tố tạo nên sắc điệu trữ tình và màu sắc cổ điển.

Hai câu thơ cuối nói về dòng sông, khói sóng và con thuyền trăng:
“Yêu ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.

Ánh trăng ngày trước (1942-1943) chiếu vào ngục lạnh nơi đất khách quê người, thì đêm nguyên tiêu này là (1948), trăng lại soi xuống con thuyền trong đó Bác đang “đàm quân sự” (bàn bạc việc quân). Trăng nguyên tiêu là trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm, được nhân dân đón đợi với bao hy vọng, bao tình cảm nồng hậu. Lại nữa, trường hợp thưởng trăng không phải là trường hợp bình thường diễn ra trên sân nhà, ngõ xóm, hay “đăng lâu vọng nguyệt”, … mà là thưởng trăng trên khói sóng, nơi “yên ba thâm xứ” – cõi sâu kín, bí mật trên dòng sông, giữa núi rừng chiến khu bao la! Người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa, mà còn là con người hành động, người chiến sĩ đánh giặc, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân” để lãnh đạo nhân dân kháng chiến, bảo vệ non sông đất nước. Quả thật, đây là một trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. “Yên ba” là khói sóng, một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm hco bài thơ “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi. Ba chữ đàm quân sự” đã khu biệt thơ Bác với thơ của người xưa, làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại.

Sau những canh dài bàn bạc việc quân căng thẳng nơi khói sóng sâu kín, trời đã về khuya. Nửa đêm (dạ bán), Bác trở về bến, tâm hồn sảng khoái vô cùng. Con thuyền của vị thống soái, con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng của thi nhân nhẹ bơi trên sông nước mênh mông, chở đầy ánh trăng vàng:

“Dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền”.

(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền).

“Nguyệt mãn thuyền” là một hình ảnh rất đẹp và trữ tình, nó làm ta nhớ đến nhưng vần thơ hoa lệ:

“Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá?

Trăng nước như xưa chín với mười”.

(Triệu Hỗ - Đường thi)

“Thuyền mấy là đông, tây lặng ngắt,

Một vầng trăng trong vắt lòng sông…”

(Bạch Cư Dị)

“Nước biếc non xanh thuyền gối bãi,

Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu”

(Nguyễn Trãi)

.v.v….

Trở lại bài thơ Hồ Chí Minh, ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng, mang theo bao ánh trăng, hiện lên một thủ lĩnh quân sự giàu hồn thơ đang lãnh đạo quân dân ta kháng chiến để giành lại độc lập, tự do, để giữ mãi những đêm nguyên tiêu trăng đầy trời của đất nước quê hương thanh bình. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời.

Qua bài thơ “Nguyên tiêu”, ta có thể nói, trăng nước trong thơ Bác rất đẹp. Chính vầng trăng ấy đã thể hiện phong thái ung dung, tâm hồn thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc mang cốt cách nghệ sĩ, nhà hiền triết phương Đông.

“Nguyên tiêu” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tố của bài thơ cổ: một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói sóng. Điệu thơ thanh nhẹ. Không gian bao la, yên tĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ây, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú từ chương, mà chỉ “đàm quân sự”. Bài thơ như một đoá hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh.

Văn tức là người. Thơ là tấm lòng, là tiếng lòng cộng hưởng từ một người đến với muôn người. Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng, hoa, tuyết, nguyệt…” nhưng đã phản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sống cao đẹp của Bác. Bác yêu nước, thương dân tha thiết nên Bác càng yêu đêm nguyên tiêu với vầng trăng xuân thơ mộng. Trong kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vầng trăng rằm tháng giêng, hướng tới bầu trời xuân với tâm hồn trong sáng và phong thái ung dung. Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Biết yêu trăng cũng là biết sống đẹp.

“Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận ...

Câu trả lời:

Trong cuộc đời này, tình mẫu tử có lẽ là tình cảm thiêng liêng nhất. Và với mỗi đứa con, người gần gũi, yêu thương nhất có lẽ cũng chính là người mẹ. Với em cũng vậy, mẹ là người em quý mến, yêu thương và hơn nữa đó là người em khâm phục, ngưỡng mộ!

Mẹ em đã gần bổn mươi tuổi. Vóc dáng và gương mặt của mẹ toát lên sự phúc hậu, điềm tĩnh khiến ai cũng yêu mến, có cảm giác gần gũi ngay từ lần gặp đầu tiên. Khuôn mặt của mẹ đầy đặn. Đôi mắt hiền từ rất đỗi dịu dàng. Tóc mẹ rất dài và dày, búi gọn sau gáy. Mái tóc ấy tạo cho mẹ dáng vẻ phúc hậu, lịch lãm. Mẹ bước đi thong thả, nhẹ nhàng (đã nhiều lần mẹ bảo em: “Con gái đi đứng sao lại vội vội vàng vàng, hấp tấp như thế!”) và gặp ai mẹ cũng khẽ nghiêng đầu mỉm cười, chào hỏi. Em thầm nghĩ, lớn lên em sẽ tập cho mình một phong thái bình tĩnh, điềm đạm tuyệt vời như mẹ.

Mẹ em là người phụ nữ đảm đang, hết lòng với gia đình.

Mẹ không quản ngại chuyện thức khuya, dậy sớm để lo lắng cho ba bố con em hay dọn dẹp nhà cửa cho tươm tất. Cũng chưa bao giờ mẹ hết kiên nhẫn với việc chỉ bảo cho chúng em những điều hay lẽ phải. Mẹ nhắc nhở chúng em về chuyện đi đứng, nói năng, về cách ứng xử, cách học, cách chơi... Em từng giấu kín trong lòng niềm khâm phục vì không hiểu sao mẹ lại hiểu rõ về mọi việc như vậy. Đã có lần em thỏ thẻ hỏị bố điều đó. Bố xúc động kể lại rằng, ngày trước mẹ em là sinhviên giỏi của trường sư phạm, mẹ đã đi dạy học và có những thành công trong công tác. Nhưng sau khi sinh con, công việc kinh doanh của bô" tiên triển thì mẹ đành nghỉ việc để chăm nom con cái, nhà cửa cho bố” yên tâm. Em ngỡ ngàng vì sự hi sinh của mẹ dành cho gia đình. Am thầm gạt bỏ ước mơ, lặng lẽ với những công việc nội trợ không tên trong nhà, mẹ chỉ mong ước một điều là gia đình êm ấm. Nhìn mẹ sắp xếp nhà cửa gọn gàng tươm tất, mỗi tối lại đợi chồng con bên mâm cơm, em xúc động và thấy thương mẹ quá...

Không chỉ vậy, với hàng xóm mẹ còn là một người bạn tốt, một người láng giềng cởi mở. Các cô bác hàng xóm thường sang hỏi mẹ em về cách thêu thùa, nấu nướng, hoặc nhờ mẹ em góp ý chuyện gia đình. Với ai, mẹ cũng tận tình hướng dẫn. Chị em em đi chợ thường được cô bác bán hàng mời mọc bằng một tên chung: “Con mẹ Lan mua trứng cho cô nhé!”, “Hôm nay có mua táo cho cô không ***** Lan?”... Có hôm bác bán rau còn không cầm tiền khi em mua rau, bác bảo biếu “cô Lan” vì “cô Lan” giúp bác nhiều. Em không biết mẹ đã giúp bác những gì nhưng nhìn nụ cười trìu mến của bác và các cô, các bác hàng xóm dành cho mình, em thấy tự hào về mẹ biết mấy....

Với em, mẹ gần gũi, dịu dàng nhưng cũng rất nghiêm khắc mỗi lần em phạm lỗi. Còn bao điều em phải học từ mẹ. Nghĩ đến mẹ, em lại thấy mình nhỏ bé, em nhủ lòng sẽ học thật giỏi để mẹ vui lòng và có thể tự hào về em.