Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hòa Bình , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 158
Số lượng câu trả lời 3874
Điểm GP 129
Điểm SP 3179

Người theo dõi (493)

Đang theo dõi (55)

Trịnh Xuân Sơn
Vũ Thanh Tùng
tokyo ghoul
Kaneki Ken

Câu trả lời:

Dế Mèn phiêu lưu kí là tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài dành cho thiếu nhi. Thông qua đó, tác giả thể hiện những khát vọng đẹp đẽ của tuổi trẻ. Bài học đường đời đầu tiên trích từ chương I của tác phẩm, kể về lai lịch Dế Mèn từ lúc còn nhỏ cho tới lúc chú rút ra bài học đầu tiên.

Thông qua việc miêu tả hình dáng, lời nói, tâm trạng và những việc làm tai hại của Dế Mèn, tác giả muốn khuyên các bạn nhỏ không nên kiêu căng, tự mãn. Trước khi làm bất cứ việc gì đều phải suy nghĩ kĩ để tránh gây ra những điều có hại tới bản thân và người khác.

Bài văn có hai đoạn chính: đoạn một miêu tả hình ảnh Dế Mèn – một chàng dế thanh niên cường tráng. Đoạn hai là câu chuyện về trò đùa dại dột của Dế Mèn trêu chọc chị Cốc, dẫn đến cái chết thảm thương cho Dế Choắt. Bài văn thể hiện được nét đặc sắc của ngòi bút Tô Hoài trong nghệ thuật miêu tả và kể chuyện.

Sau khi ra đời được vài ngày, mẹ Dế Mèn đã cho mấy anh em chú ra ở riêng, bắt đầu cuộc sống tự lập, đúng theo tục lệ lâu đời của họ hàng nhà Dế. Để các con bớt khó khăn trong những ngày đầu, Dế mẹ đã chuẩn bị chu đáo cho từng đứa, từ cái hang cho đến mấy ngọn cỏ non đặt sẵn trước cửa. Thời gian đầu xa mẹ, tâm trạng của Dế Mèn là khoan khoái trước cuộc sống tự do. Chú chưa nghĩ đến những chuyện xa xôi mà cho rằng sự ung dung, độc lập của mình là điều thú vị lắm rồi. Dế Mèn vun vén, sửa sang cái hang thành nơi ở thuận tiện và an toàn.

Cuộc sống cứ thế trôi đi trong vui vẻ, nhàn nhã. Chiều chiều, Dế Mèn cùng anh chị em hàng xóm quanh bờ ruộng tụ họp lại, vừa gảy đàn vừa hát một bài hát hoàng hôn chào tạm biệt ông mặt trời. Tối đến, cả họ nhà Dế tụ tập giữa bãi cỏ, uống sương đọng, ăn cỏ ướt… cùng nhau ca hát, nhảy múa linh đình tới sáng bạch… Ngày nào, đêm nào, sáng và chiều cũng ngần ấy thứ việc, thứ chơi… Đối với tuổi trẻ hiếu động và đầy khát vọng như Dế Mèn thì cuộc sống ấy dần dần trở nên nhàm chán.

Câu trả lời:

Sống trên một vùng cao nguyên mênh mông, hùng vĩ, nhiều rừng, nhiều nắng, nhiều mưa các tộc người Tây nguyên đã biết thích nghi với thiên nhiên hào phóng quanh mình. Phát rừng, làm rẫy, trồng lúa, ngô, khoai, bầu bí để ăn, bông để mặc. Trên cơ sở của một nền kinh tế trồng trọt nương rẫy đạt đến trình độ tương đối ổn định và thành thạo, con người Tây nguyên đã sáng tạo nên một nền văn hóa khá toàn diện, mang đậm bản sắc dân tộc.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, giá trị văn hóa Tây nguyên quy tụ ở ba giá trị cơ bản: văn hóa hữu hình,văn hóa tinh thần và văn hóa nghệ thuật.

Giá trị văn hóa hữu hình ở Tây nghuyên đến nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Đó là những ngôi nhà rông, nhà sàn của người Bana, Gialai, Êdê, Mnông hướng về phía bắc nam để lấy ánh sáng mặt trời tới sườn Đông Tây như hoa hướng dương. Đó là cầu thang nhà rông nhà sàn mang dáng bầu vú mẹ tiêu biểu cho mẫu hệ Tây nguyên, là những thiết chế nhà dài (kopan) được đẽo nguyên từ thân cây lớn, là ché rựu cần bên bếp lửa hồng, là những công cụ sản xuất thô sơ bằng đá, bằng đồng, là những vòng bạc, vòng đồng đeo ở cổ tay, chân trong những gày hỏi chồng(Trôk kô - ông), lễ thỏa thuận (Bi Kuộd) và lễ cưới ( Kbih Ungmô)

Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong và ngoài Thành phố Đà lạt như thác Đămbơri, thác Premli thơ mộng với hồ than thở, thung lung tình yêu... giá trị văn hóa hữu hình ở Tây nguyên còn phải kể đến vườn Quốc gia Yooc Đôn, Nom Ka, cao nguyên Konplong, khu rừng nguyên sinh Chư Mô Ray Đakuy núi Ngọc Linh với những chim thú, cây rừng hiếm quý, với thác Trinh Nữ mộng mơ, thác Yali hùng vĩ, thác Drây Sap, hồ Lắk, Dắk Tré, Kon Lak còn in đậm nét hoang dã. Giá trị vật thể ở Tây nguyên còn là những chứng tích căn cứ kháng chiến Bản Đôn, của làng Kông Hoa quê hương của những ngày đầu "Đất nước đứng lên", là ngục Kông Tum, đường mòn Hồ Chí Minh, là chiến thắng An Khê, một đỉnh cao của thời kỳ chống Pháp, là chiến thắng Plây Me, Đắk Tô, Tân Cảnh, chiến thắng lịch sử Ban Mê Thuật hào hùng với thời kỳ chống Mỹ.

Giá trị văn hóa tinh thần của Tây nguyên hội tụ đậm nét ở lê hội. Lễ hội là một hình thái sinh hoạt tinh thần mang đậm đà bản sắc dân tộc Tây nguyên, thường được tổ chức sau những ngày lao động mệt nhọc. Giá trị văn hóa tinh thần trong lễ hội của người Tây nguyên được thể hiện trong các lễ hội nông nghiệp, lễ hội phong tục, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử như hội mùa, lễ tỉa hạt, lễ cúng máng nước, cúng nồi, lễ đâm trâu, lễ hội Pơ thi, Lễ hội Cồng chiêng...Lễ hội của đồng bào Tây nguyên là bài ca về lòng yêu nước nồng nàn của các dân tộc Tây nguyên, là truyền thống coi trọng quá khứ, uống nứơc phải nhớ lấy nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, là bài ca về tình yêu thương cộng đồng qua biểu tượng "Đàu trâu máng nứơc", là tinh thần bao dung hòa đồng trong quan niệm hoang "sơ thiên, địa, nhân", là tinh thần thượng võ trong đấu tranh với thiên nhiên, với kẻ thù qua các lễ đâm trâu, lễ hội Cồng Chiêng, múa khiên, múa trống, là sự thủy chung trọn vẹn trong tình yêu qua "bổ củi hứa hôn" và "chiếc vòng cầu hôn".

Giá trị văn hóa tinh thần ở Tây nguyên còn được thể hiện ở những kinh nghiệm thuần dưỡng voi, ở những bài thuốc gia truyền chữa bệnh,ở kỹ thuật đúc đồng để chế tạo ra đàn đá và nhạc khí Cồng Chiêng, là các nghệ nhân điêu khắc qua các tượng nhà mồ của các dân tộc Gia Rai, Bana, Êđe,Mnông, là kỹ thuật trang trí dệt nên những hoa văn của các trang phục các dân tộc, là tinh thần anh dũng, mưu trí tuyệt vời qua truyền thuyết Đam San, Xing Nhã, Đia Đon, cũng như các anh hùng thời nay như anh hùng Núp, anh hùng Nơ Trang Long... Được hội tụ lại trong làng Kông Hoa, Bản Đôn, trong chiến thắng An Khê, Plây Me, Buôn Mê Thuật, Sa Thày, Đắk Tô, Đắk Nông, Đắk Min. Giá trị tinh thần còn đọng lại 200 tục lệ của người Êđê, 100 tục lệ của người Mnông và hàng nghàn tục lệ của người Gia Rai, Bana,Giẻ Triêng, Rơ Ngao, Xê Đăng, qua các ứng xử trong cộng đồng, qua việc ăn, ở, mặc, giải trí, trong việc cưới, tang, lễ nghi,tín ngưỡng và tôn giáo.

Giá trị vật thể trong văn hóa nghệ thuật Tây nguyên bao gồmnhạc khí, kiến trúc, hội họa trên các trang phục. Nhạc khí các dân tộc Tây nguyên không thể không nói đến nhạc cụ dây(cordiophon)gồm các loại kèn vĩ như đàn Kơ ny, loại búng như đàn Goong, loại gẩy như đàn Brô hay nhạc cụ hơi(Airophone) có loại hơi lùa như Đinh Duk, Klongut,loại lưỡi gà rung tự do như Alat Tơ Điệp Đinh khan, loại hơi lỗ vòm như Đinhtuk hoặc nhạc cụ tự thân vang ldiophone như đàn trưng, chiêng Kial, Khinh Khung, Klong Klai cũng như nhạc cụ màng rung(Membranophone) gồm trống Sơgơr(trống nhỏ đeo trước ngực)và trống Pơ Nông(trống lớn treo lên hoặc khênh đi để đánh).

Kiến trúc Tây nguyên trước hết phải nói đến kiến trúc nhà mồ. Tuy nó là kiến trúc dân gian thuộc loại không lớn nhưng có thể nó không có một dạng kiến trúc nào của Tây nguyên lại có thể so sánh với nó về giá trị nghệ thuật kiến trúc và giá trị nghệ thuật tạo hình. Nhà mồ là sản phẩm kết tinh của nhiều loại hình nghệ thuật, là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp, nó là kiến trúc, là điêu khắc, là hội họa, là trang trí.

Tiếng cồng triêng trầm hùng, sâu lắng suốt ngày đêm của lễ hội bỏ mả có tác dụng như đẩy lùi cả bầu trời ra xa, đem xuống cả bức tranh nhà mồ càng uy nghi, hoành tráng hơn bởi hàng trăm đống lửa rực sáng bừng lên giữa cõi âm u tĩnh mịch của núi rừng tạo nên như một thiên cung huyền ảo.

Theo quan niệm của người Tây nguyên chết không phải là hết mà là sự tiếp tục của cụôc sống ở dạng khác để rồi sẽ trở lại làm người cho lên nhà mồ Tây nguyên với lễ hội bỏ mả họp thành biểu tượng , hợp thành bài ca đề cao sự sống bất diệt của con người chứ không phải đền đài, miếu mạo để thờ tự người chết hay lăng tẩm để vĩnh viễn hóa cái chết của một người, vật nào đó như các dân tộc khác.

Giá trị văn hóa nghệ thuật Tây nguyên còn thể hiện trong nghệ thuật trang chí hoa văn. hóa văn cổ truyền Tây nguyên không phải ra đời trong phút chốc dưới ngòi bút của cá nhân họa sĩ nào đó mà dần dần được hiện hình qua cuộ sống lâu dài của từng tộc người. Nhìn hoa văn các dân tộc Tây nguyên người xem rung động trước hình khối, màu sắc không chỉ hiện hình trên mặt vải mà còn có hoa văn trên đồ đan lát (gùi, bồ), hoa văn vẽ, khắc, thậm chí đục thủng trên các bộ phận kiến trúc và hiện vật nghi lễ (ở nhà chung của làng, trên cột đâm trâu, cột lễ nhà mồ).

Hoa văn trang phục Tây nguyên gắn bó với dáng vóc, thân thể của con người Tây nguyên,với cuộc sống hàng ngày, với thiên nhiên của núi rừng Tây nguyên, mang lại giá trị thẩm mỹ tuy giản dị nhưng lại đậm đà tinh tế. Hoa văn Tây nguyên chủ yếu là hoa văn hình họa.

Giá trị phi vật thể thành văn và không thành văn của văn hoa Tây nguyên chủ yếu là văn hóa dân gian khuyết danh và truyền miệng, đó là phôn cờ-lo Tây nguyên, còn văn hóa bác học về các tác giả, tác phẩm lớn, các nhà văn hóa thì vẫn còn khiêm tốn.

Về mặt hình thái học, tính diễn xướng là đặc trưng cơ bản của phôn cờ-lo vì nó quy định những cách kết hợp khác nhau của các phưng tiện diễn tả.

Văn hóa dân gian ở đây có các thể loại như Tơpun( đồng giao), Pơ đuk( ca dao, tục ngữ, thành ngữ). Avòng(giao duyên), Tơ roi(chuyện kể các loai bao gồm cả truyền thuyết, thần thoại, ngụ ngôn), Blao(chuyện cười), Hơri (hát đối đáp), Hơ Amôn( trường ca), ngoài ra còn có các loại văn vần dùng trong các bài khấn, tế, phù chú như somak, khia, Kơmưt, Tơdok, Ninhmang.

Sự phát triển song song giữa nhạc có lời (nhạc hát) và nhạc không có lời (nhạc đàn)là hiệ tượng đáng lưu ý ở Tây nguyên. Âm nhạc và văn hóa dân gian không thể tách lời nhau và tất cả các thể loại văn học kể trên đều được trình diễn bằng một hay nhiều làn điệu. Các dân tộc Tây nguyên không bao giờ "sáng tác" văn học ngoài các làn điệu( thơ ca dân gian)hay ngoài thể thức kể diễn (văn xuôi dân gian). Chẳng hạn, tùy theo nội dung cụ thể các bài thơ giao duyên sẽ được hát lên bằng một trong các làn diệu Aroong, Brô-ông, lnhing, Sơtang hay Srơ-di

Có thể nói phôn cờ-lo Tây nguyên là cuốn sử dân tộc được viết bằng nghệ thuật, bằng ngôn ngữ hình tượng trong đó cuộc sống qua khứ và hiện tại, ngọt bùi và cay đắng, khát vọng, ước mơ của con người được phả ánh và mô tả sắc nét

UNESCO, tổ chức văn hóa giáo dục khoa học Liên Hiệp Quốc vừa qua đã công nhận"không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên là nghệ thuật truyền khẩu đặc sắc và di sản phi vật thể cảu nhân loại. Đây là phần thưởng quý giá, tôn vinh nền văn hóa Việt Nam và con người Việt Nam những người biết duy trì và phát huy giá trị văn hóa Tây nguyên.

Câu trả lời:

Gia đình tôi có hai anh em trai, tôi là út. Bố mẹ tôi đã theo về với tổ tiên hơn mười năm nay. Tôi ở với anh được một thời gian thì anh tôi lấy vợ. không muốn cho tôi ở chung, họ bèn chia gia tài. Lợi dụng quyền thế của mình, hai vợ chồng chiếm hết tài sản quý giá, chỉ đế lại cho tôi một mảnh nhỏ và cây khế ngọt ở cuối vườn. Là phận em, tôi không đòi hỏi gì cả, và cũng chẳng phàn nàn, chỉ lo làm thuê cuốc mướn kiếm sông qua ngày.

Đến mùa khế ra qua, bỗng nhiên có một con chim lạ đến ăn hết trái này đến trái khác. Tôi xót ruột lắm bèn than thở cùng chim:

- Chim ơi! Cơ nghiệp nhà tôi chỉ có mỗi cây khế, chim ăn hết, tôi biết trông cậy vào đâu!

Chim lạ liền nói:

- Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng.

Thế rồi hôm sau chim lạ đưa tôi đi ra một hòn đảo ở tít ngoài khơi đầy vàng châu báu. Y theo lời dặn của chim, tôi chỉ lấy vừa đủ một túi ba gang rồi chim trở về nhà. Từ đó, cuộc sống của tôi trở nên khá giá, giàu có.

Biết chuyện, vợ chồng anh tôi ngày nào cũng sang nhà tôi năn nỉ xin đổi bộ gia tài để lấy cây khế. Thương anh, tôi đồng ý đổi. Đến mùa khế, vợ chồng anh tôi thay nhau chờ chực ở gốc cây chờ chim lạ đến. Rồi chim lạ cũng đến ăn. Sự việc giống như trước đây chim lạ đã nói với tôi. Chim lạ đi rồi, hai vợ chồng anh tôi hí hửng về nhà may một cái túi nhưng không phải ba gang như chim lạ bảo mà rộng đến mười hai gang.

Sáng hôm sau chim lạ đến chở anh tôi ra đảo. Vốn là người có tính tham anh tôi chất đầy vàng bạc châu báu ngọc ngà vào túi. Không những thế, anh tôi còn tìm kiếm chỗ nào trên người có thể nhét được, đều nhét vào rồi ì ạch lôi cái túi vàng khổng lồ và thân mình nặng trịch leo lên lưng chim. Nặng quá, chim phải vỗ cánh đến ba lần mới nhấc nổi mình lên được. Lúc bay qua biển, gặp một luồng gió mạnh, chim lảo đảo nghiêng cánh hất anh tôi cùng vàng rơi xuống biển sâu.

Tôi rất buồn vì cái chết của anh tôi nhưng nghĩ cho cùng đó cũng chính là học cho những kẻ tham lam, ích kỉ như lời ông cha đã dạy "tham thì thâm”.

Câu trả lời:

Trong khoảnh sân bé xíu của nhà ông ngoại em có trồng một cây đào phai rất đẹp. Sau một chuyến công tác lên Sa Pa vào đúng dịp trước Tết Nguyên đán, ông ngoại em đã mang về gốc đào nho nhỏ ấy.

Năm nào cả nhà em cũng ăn Tết với ông bà bên cây đào mang đầy hình ảnh của núi rừng ấy. Dáng cây khẳng khiu, cành lá vươn tự nhiên. Thân cây màu nâu sẫm, lốm đốm những vết sần cằn cỗi. Ông em bảo, phải như vậy, cây đào mới chịu đựng được cái giá rét của mùa đông Sa Pa, để rồi sang Xuân lại đâm chồi, nảy lộc. Lúc ông em mang cây đào về trồng, nó chưa có một bông hoa nào, trơ trọi, có vẻ chịu đựng. Qua mùa đông, đến chừng Rằm tháng Chạp, cây đào bắt đầu ra hoa. Cả nhà em mừng rỡ, vì không ai nghĩ rằng, cây đào mảnh khảnh, trơ trụi ấy lại có thể chống chọi được với những cơn gió mùa Đông Bắc, và nhất là, với mảnh sân ở nơi thành phố bụi bặm này. Những bông hoa của nó thật tuyệt vời. Hiếm có cây đào nào có màu hoa đẹp như nó. Hoa chỉ có năm cánh, nhưng màu cánh như có bàn tay của người họa sĩ tài ba đã pha những sắc màu thật nền nã mà chau chuốt. Ở sát nhuỵ là một màu của lụa trắng trong veo, nhưng càng về dần đầu cánh, nó lại chuyển sang phơn phớt hồng. Không những thế, cánh hoa còn như được bọc trong 1 lớp xà cừ mỏng tang, óng ánh, để khi có ánh nắng chiếu vào, chúng như đang tỏa sáng.

Sau Tết, ông ngoại em ra tận bãi sông Hồng để mang về mấy tải đất đổ thêm vào hốc đào. Cây đào núi ấy, dưới bàn tay chăm chút của ông em lớn thật nhanh và khỏe. Những lớp xù xì tróc vảy trên thân cây biến mất dần, chúng như được mặc 1 tấm áo mới màu nâu khỏe khoắn. Chẳng mấy chốc, lại đến một cái Tết nữa. Trước Tết khoảng 1 tháng rưỡi, ông ngoại rủ em ra cây đào vặt lá. Ông bảo làm thế, hoa đào sẽ nở vào đúng Tết. Hai ông cháu nâng niu từng cành cây bé nhỏ, ngắt đi những chiếc lá xanh đậm già cỗi, dài và nhọn như những lưỡi dao con các cụ ngày xưa dùng để bổ cau. Quả đúng như lời ông nói, hoa đào nở tưng bừng đúng những ngày giáp Tết. Trên những cành cây nâu bóng là những bông hoa đào phai bung rộng 5 cánh rung rinh nhụy hồng. Cả cành cây chỉ nhìn thấy toàn hoa là hoa, trên mỗi đầu cành mới thấy ló ra vài ba chiếc lá tươi non, mỡ màng đang e ấp chưa dám bung rộng cánh. Khách đến nhà em chúc Tết, ai cũng phải trầm trồ.

Mới đó mà đã 5 cái Tết trôi qua, 5 cái Tết cây đào kiêu hãnh đón Xuân cùng gia đình em. Những năm về sau, nó còn đậu cả quả. Quả đào hình thuôn thuôn, được bọc 1 lớp lông tơ mịn màng, nhưng chúng chỉ to được bằng ngón tay cái thì lại rụng mất. Ông em bảo, vì đây là loại đào chỉ ra hoa thôi, không phải đào ăn quả. Ông còn bảo: “Bây giờ ở Nhật Tân, người dân đã bán hết đất trồng đào đi rồi. Vì thế, có lẽ mai kia, con cháu sẽ chẳng còn được nhìn thấy một cây hoa trường tồn cùng mùa xuân của dân tộc nữa. Nếu có điều kiện, mỗi nhà nên trồng lấy một cây, để giữ gìn loài hoa thân thuộc ấy!”

Hoa đào là biểu tượng của mùa xuân, của sức trẻ mơn mởn, của những người con gái đẹp. Một mùa xuân nữa lại sắp về! Cả nhà em đang háo hức đón chờ cây đào lại tưng bừng nở hoa, báo hiệu một năm mới hạnh phúc, tốt lành.