Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 28
Số lượng câu trả lời 1929
Điểm GP 302
Điểm SP 2299

Người theo dõi (393)

Đang theo dõi (21)


Câu trả lời:

"Tre Việt Nam" là bài thơ kiệt tác của Nguyễn Duy được nhiều người yêu thích. Đây là một phần tiêu biểu của bài thơ ấy. Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát; trong đó câu lục đầu bài thơ được cắt thành hai dòng (2+4) và câu lục cuối bài được cắt thành ba dòng (2+2+2). Lời thơ mượt mà, có nhiều hình ảnhđẹp, giọng thơ du dương truyền cảm.

Ba dòng thơ đầu, nhà thơ ngạc nhiên hỏi về màu xanh của tre, liên tưởng đến "chuyện ngày xưa" - chuyện người anh hùng làng Gióng dùng gộc tre đánh đuổi giặc Ân. Qua đó, tác giả thể hiện rất hay sự gắn bó lâu đời giữa cây tre với đất nước và con người Việt Nam:

"Tre xanh,

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho bao phẩm chất cao quý của con nguời Việt Nam, của dân tộc Việt Nam

Cây tre, lũy tre tượng trưng cho tình thương yêu đồng loại, tinh thần đoàn kết dân tộc để vượt qua bão bùng, để làm nên lũy thành bền vững:

"Bão bủng thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau, tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người."

Nguyễn Duy có nhiều cách sáng tạo hình ảnh về cây tre, măng tre để thể hiện tính ngay thẳng, tinh thần bất khuất của nhân dân ta:

"Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”.

hay: "Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lự thường".

hay: "Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho đức hi sinh, tình thương con bao la của người mẹ hiền:

"Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc, tre nhường cho con".

"Tre già măng mọc” là sự thật, là niềm tin về tuổi thơ, về thế hệ tương lai.

Ba chữ "xanh" trong câu cuối bài thơ cho thấy cách viết rất tài hoa của Nguyễn Duy khi ca ngợi vẻ đẹp của cây tre, ca ngợi cảnh sắc làng quê đất nước bển vững trong dòng chảy thời gian đến muôn đời mai sau:

"Mai sau,

Mai sau,

Mai sau,

Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh".

Đọc bài thơ "Tre Việt Nam", ta yêu thêm cây tre, lũy tre, yêu thêm vẻ đẹp quê hương đất nước, ta thêm tự hào về bao phẩm chất cao quý của con ngườ: Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Câu trả lời:

Từ xưa tới nay, mối tương quan chặt chẽ giữa học và hành đã được nhiều người quan tâm, bàn luận, Học quan trọng hơn hành hay hành quan trọng hơn học? La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã góp một ý kiến xác đáng về vấn đề này trong bài Bàn luận về phép học: Phép dạy, nhất định theo Chu Tử. Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm. Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua. Ý kiến trên đây của ông là sự đúc kết kinh nghiệm sau bao năm nghiền ngẫm và áp dụng trong thực tế phương pháp dạy và học của Chu Tử (tức Chu Đôn Di), một bậc thầy của Nho giáo đời Tống bên Trung Quốc. Trong phép học của Chu Tử, Nguyễn Thiếp nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa học và hành: học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm. Vậy, chúng ta phải tìm hiểu xem học là gì? hành là gì? Học là hoạt động tiếp thu những tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử. Chúng ta có thể học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô, học ở bạn bè; tự học qua sách vở và học ở thực tế đời sống. Học để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết. Học để có thể làm chủ bản thân, làm chủ công việc của mình và góp phần hữu ích vào sự nghiệp chung của đất nước, dân lộc. Theo Nguyễn Thiếp, muốn có kết quả tốt phải có phương pháp học tốt. Trước hết phải học từ thấp đến cao. Khi học phải biết tóm lược kiến thức cơ bản đế dễ nhớ, dễ vận dụng. Theo cách nói bây giờ là ta phải biết sơ đồ hóa kiến thức, biết tóm tắt nội dung văn bản đã học. Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào những công việc hằng ngày. Ví dụ như một bác sĩ được những kiến thức tiếp thu được trong suốt quá trình đào tạo sáu, bảy năm ở trường đại học để vận dụng vào việc chữa bệnh cho nhân dân. Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng đem kiến thức đã học để thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên… để phục vụ đời sống con người. Anh công nhân trong xưởng máy vận dụng lí thuyết để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Chị nông dân áp dụng khoa học vào đồng ruộng để có được những vụ mùa bội thu… Học sinh vận dụng những điều thầy dạy để làm một bài toán, một bài văn… đó là hành. Bác Hồ cũng khẳng định: Học để hành, có nghĩa là học để làm cho tốt, Thực tế cho thấy có học có hơn. Ông cha chúng ta ngày xưa đã nói: Bất học, bất tri Lí. (Không học thì không biết đâu là phải, là đúng). Mục đích cuối cùng của sự học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao hơn. Nếu học được lí thuyết dù cao siêu đến đâu chăng nữa mà không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc mà thôi. Ngược lại, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Trong học tập, học sinh muốn làm được một bài văn hay một bài toán thì không những phải nắm vững lí thuyết mà còn phải biết vận dụng lí thuyết để làm từng kiểu bài cụ thể. Trong công việc, nếu ta chỉ làm theo thói quen, theo kinh nghiệm mà không có lí thuyết soi sáng thì năng suất công việc sẽ thấp và chất lượng không cao. Cách làm theo thói quen chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp có liên quan đến khoa học kĩ thuật thì chúng ta bắt buộc phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời đại. Quan niệm về học và hành của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cho đến nay vẫn giữ nguyên tính khoa học và tính thực tiễn của nó. Trong giai đoạn khoa học phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức các công việc phức tạp. Lí thuyết đúng đắn có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho thực hành. Con người sẽ rút ngắn thời gian mò mẫm, thử nghiệm và tránh được những sai lầm đáng tiếc. Lí thuyết gắn với thực hành sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, chúng ta không thể coi nhẹ vai trò to lớn của việc học mà phải nhìn nhận, đánh giá đúng mức môi liên quan giữa học và hành. Học và hành phải đi đôi vì chúng có tác động hai chiều với nhau. Học hướng dẫn hành. Hành bổ sung, nâng cao và làm cho việc học thêm hoàn thiện. Có học mà không có hành thì chỉ là ôm mớ lí thuyết suông. Trái lại, chỉ chú trọng thực hành mà không chịu học hỏi thì làm việc gì cùng khó khăn. Học và hành là hai mặt của một quá trình, không thể xem nhẹ mặt này hay mặt khác. Thực tế cho thấy trong tất cả các cấp học ngày nay, phương châm học đi đôi với hành là hoàn toàn đúng. Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở… phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống để sáng tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần phục vụ con người. Với cách lập luận chặt chẽ, bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp giúp chúng ta hiểu rõ mục đích của việc học là để làm người có đạo đức, có tri thức, tài năng, đặng góp phần thúc đầy sự hưng thịnh của đất nước, chứ không phải để cầu danh lợi theo kiểu “vinh thân phi gia". Muốn học tối phải có phương pháp đúng: Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm; đặc biệt học phải đi đôi với hành.

Câu trả lời:

"Bác để tình thương cho chúng con" (Bác ơi - Tố Hữu). Tình thương ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc về một nhân cách lớn. Là nét chân dung không hẳn là phổ biến với các bậc vĩ nhân, nó trở nên độc đáo, độc đáo trong sự hồn nhiên như bản chất Người sinh ra là vậy. Chính vì thế, dù lớn lao, Bác không xa lạ với đồng bào. Tình thương ấy đã gắn lãnh tụ với nhân dân thành một khối, trở nên một sức mạnh vô song. Chân lí ấy đã được chứng minh trong hai cuộc chiến tranh giữ nước: chống Pháp và chống Mĩ, "hai tên đế quốc to", mở ra thời đại vẻ vang của lịch sử dân tộc, thời đại Hồ Chí Minh. Ý nghĩa lớn lao đó là tinh thần của một bài tho nhỏ. Bài thơ khiêm nhường như một ghi chép đơn sơ nhưng cảm động về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa "anh đội viên" với lãnh tụ của mình trong một đêm khuya nơi rừng lạnh, giữa những năm gian khổ khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cách ghi không khoa trương mà chân thực như lối kể vè, hát dặm của chính quê Người. Bài thơ đã đi vào lòng dân với tư cách một tác phẩm văn chương đích thực từ đó.
Bài thơ có hai cách phân tích : theo chiều dọc và chiều ngang. Ở phương án "chiều dọc" (cũng có thể gọi là phương án tách rời) : hình tượng anh đội viên riêng và hình tượng Bác riêng. Còn cách thứ hai theo chiều ngang cũng gọi là phương pháp kết hợp gắn hai hình tượng với nhau. Cách thứ nhất có ưu điểm là tái hiện được hình tượng một cách trọn vẹn, còn cách thứ hai lại nêu bật được mối tương quan : tình cảm của người kể và cơ sở hiện thực nảy sinh ra tình cảm ấy. Bài viết này đi theo cách thứ hai cố gắng làm rõ một đặc điểm bao trùm về nghệ thuật của bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình. 1. Lần thứ nhất, anh đội viên thức dậy, sau một giấc ngủ ngắn nhưng chắc ngon lành. Anh không khỏi ngạc nhiên : Bác Hồ vẫn chưa hề ngủ dù đêm đã rất khuya, trời thì lạnh. Thực ra nhà thơ không tả cái lạnh, nhất là cái lạnh ở chốn rừng núi hoang vu mà chỉ viết : "Ngoài trời mưa lâm thâm - Mái lều tranh xơ xác" nhưng ta vẫn cảm nhận được cái rét thấu xương, thấm vào da thịt. Cái lạnh làm run rẩy những câu thơ tuy rất khẽ khàng. Mái lều là nơi ờ tạm đơn sơ của bộ đội, dân công nghỉ lại trong rừng làm sao che gió che sương. Vì vậy mà những nơi này thường hay đốt lửa sưởi. Bác ngồi bên bếp lửa, điều ấy không đáng ngạc nhiên. Nhưng cái băn khoăn đến khắc khoải ở anh đội viên là vì sao Bác không ngủ ? Không ngủ nên "vẫn ngồi", và "không ngủ" khác với "chưa ngủ". Chưa ngủ thì rồi sẽ ngủ, còn "không ngủ" thì hoàn toàn ngược lại. Sự "không ngủ" đối với con người có thể do hai tác động ngoại cảnh và nội tâm. Gần mười năm về trước, trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Người không ngủ được một phần vì lí do ngoại cảnh, vì cái lạnh thời tiết bên ngoài: Đêm thu không đệm cũng không chăn, Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an ; (Đêm thu) Còn trong trường hợp bài thơ của Minh Huệ hoàn toàn không phải thế, vẻ "trầm ngâm" trên nét mặt, cái "lặng yên" bên bếp lửa lúc canh khuya càng không phải là thanh thản. Nó phản chiếu một tâm tư không hề lặng lẽ ở bên trong. Khối tâm tư ấy của người chèo lái gắn chặt với con thuyền kháng chiến còn phải vượt qua bao nhiêu ghềnh thác cam go trước khi đến được với thắng lợi cuối cùng. Anh đội viên lo cho Bác đơn giản là nỗi lo lắng của một đứa con. Song, dù chỉ đơn giản vậy thôi mà đã đau đáu thiết tha tâm trạng. "Trời khuya lắm rồi" là một cách chủ quan hoá "trời khuya", "vẫn ngồi" là chủ quan hoá tư thế bất động "ngồi". Nhưng, những thắc mắc đến băn khoăn ấy được gỡ dần ra từ khổ thứ ba, từ dáng dấp người cha, "Người Cha mái tóc bạc". Thì ra cái không "an lòng" trước hết, Bác dành cho những người xung quanh, đồng đội của anh đội viên "Ngày mai đi đánh giặc". Tấm lòng ấy nói bằng hành dộng : đốt lửa, dém chăn. "Đốt lửa" là khơi ngọn lửa cho bốc to lên, còn "dém chăn" là giắt lại chăn cho ấm. Hành động dịu dàng và lặng lẽ ấy là tiếng nói của tình thương. Không phải tình ruột thịt thì làm sao có những cử chỉ ân cần chu đáo đối với từng đứa con như thế ? ("Từng người, từng người một"). Có lấy hạnh phúc của người khác làm hạnh phúc của mình thì mới phải nhẹ nhàng "nhón chân" để những chiến sĩ không giật mình thức giấc. Hình tượng Bác, dưới con mắt của anh đội viên, lớn lao, kì vĩ hẳn lên. Đó là ông tiên trong truyện cổ tích. Chỉ ông tiên mới "lồng lộng", mới hiện ra từ một thứ hào quang kì diệu như một giấc chiêm bao. Cảm giác ấm áp mà người nằm mơ nhận được mới có thể "Ấm hơn ngọn lửa hồng". Song, cốt lõi của giấc chiêm bao lại là một con người bằng xương, bằng thịt. Vì vậy, đây là tiếng nói thầm thì của con người có thật : - Bác ơi ! Bác chưa ngủ ? Bác có lạnh lắm không ? Từ kính phục đến cảm thông, từ "mơ màng" trở về cõi thực, câu thơ thật day dứt, xót xa. Anh đội viên thương Bác đến đứí ruột mà không biết làm gì để biểu lộ tinh thương ấy. Từ "thổn thức", anh chỉ còn biết "bồn chồn" ngổn ngang : Bác sẽ ốm mất vì cứ "thức hoài", thức như thế, lấy sức đâu mà đi, chiến dịch còn dài, đường đi lại gập ghềnh dốc, ụ,... Cách tính của anh đội viên giống cái bấm đốt ngón tay của người nông dân chất phác quen nghĩ đến công việc mùa màng giống má, thời vụ để cho cây lúa trĩu bông. 2. Lần thứ ba, khi thức dậy, anh đội viên đã kinh ngạc nhận ra, Bác vẫn ngồi y như lần thứ nhất : ... Lần thứ ba thức dậy Anh hốt hoảng giật mình: Bác vẫn ngồi đinh ninh Chòm râu im phăng phắc Như vậy, "đinh ninh" là biến thái của "lặng yên", còn "Chòm râu im phăng phắc" là biến thái của "Vẻ mặt Bác trầm ngâm". Thời gian lặng lẽ trôi đi, anh đội viên đã ngủ thêm được một giấc, nhưng đêm đã sắp tàn. Sự "hốt hoảng" của anh cũng dễ hiểu. Cái lo lắng của anh ở lần thứ nhất được đẩy tới cao trào, nó cuồn cuộn dâng lên. "Thổn thức" mới chỉ là những xáo động trong lòng (tuy đã có cường độ mạnh đến mức không kìm nén được) còn "hốt hoảng" là sự sợ hãi đến cuống quýt lộ hẳn trên nét mặt. Hình thức thay đổi, nội dung cảm xúc không thể đứng yên. Khi nghịch lí hiện ra: cái phần hữu hạn người làm sao chống chọi được với cái vô hạn thời gian, giọng nói của anh không còn có thể "thầm thì" được nữa. Anh vội vàng nằng nặc : - Mời Bác ngủ Bác ơi ! Trời sắp sáng mất rồi Bác ơi ! Mời Bác ngủ ! Cầu khẩn đến van nài, tha thiết đến rưng rưng, câu thơ không còn mạch lạc vì người nói không giữ được tư thế trang nghiêm cần thiết trước một bậc vĩ nhân, khổ thơ loạn nhịp (câu thứ tư lặp lại câu hai), ngôn ngữ thơ có được cái sinh động của sự chất phác, chân thành gần với ngôn ngữ ở ngoài đời vốn có. Đến đây, ta thấy hai mạch cảm xúc đã hình thành và gặp nhau ô cái điểm bất ngờ tưởng như ngẫu nhiên mà thực ra là tất yếu. Về phía anh đội viên, trước việc Bác Hồ không ngủ đêm nay, từ ái ngại đến thổn thức băn khoăn, lo lắng, rồi cuối cùng mời Bác ngủ bằng được. Còn về phía Bác, câu đối thoại "Chú cứ việc ngủ ngon - Ngày mai đi đánh giặc" chỉ là cách trả lời một nửa câu hỏi của người chiến sĩ mà thôi. Chính vì một nửa còn lại kia mà người chiến sĩ không yên "Vâng lời anh nhắm mắt - Nhưng bụng vẫn bồn chồn". Đến lần thứ ba, biết được tâm trạng "bồn chồn" đó, Người không thể không thổ lộ. Đến đây, cái nửa còn lại mà người đội viên băn khoăn mới được điền vào khoảng trống: - Chú cứ việc ngủ ngon Ngày mai đi đánh giặc Bác thức thì mặc Bác Bác ngủ không an lòng Trong lúc anh đội viên thương Bác vì Bác không ngủ thì Bác cũng thương bộ đội, dân công đang giá lạnh ngoài rừng: Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn Chỉ khác nhau ở mức độ: tình thương của người chiến sĩ trong thơ hướng tới một người, còn tình thương của Bác đang hướng tới hàng ngàn, hàng vạn người. Chính vì thế mới xuất hiện hai tâm lí trái chiều, trong khi anh đội viên đang mong đêm dài ra (để Bác có thể chợp mắt một lần), thì Người lại mong trời mau sáng. Hai cường độ của mong ước lúc này cũng mãnh liệt ngang nhau, riêng cái "nóng ruột" của Bác Hồ thì như có lửa đốt. Cũng phải tới lúc này, với anh đội viên, hình tượng Bác Hồ mới hiện ra toàn vẹn. Đó là một sự thống nhất từ hình dáng, cử chỉ đến lời nói. Toàn bộ con người ấy toả sáng tình thương : thương các chiến sĩ đang yên ngủ để "Ngày mai đi đánh giặc", thương bộ đội, đồng bào vì kháng chiến mà gánh chịu gian khổ, hi sinh. Hai sự phát sáng loé ra cùng một lúc từ người chiến sĩ về nhận thức và tâm hồn, trước hết là cảm nhận trực tiếp : Bác là ngọn lửa hồng. Hình ảnh đó có sự tin yêu, nâng đỡ với sức mạnh diệu kì. Và lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân đến quên mình, đó là một phẩm chất, một "lẽ thường tình" ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều này không có gì khó hiểu. 3. Về nghệ thuật, nhà thơ đã thành công trong việc miêu tả nhân vật. Ở đây có hai loại nhân vật. Đó là nhân vật cảm nghĩ (chủ quan - nhà thơ) và nhân vật được nhà thơ khắc hoạ (khách quan - Bác Hồ). Mỗi nhân vật có một cách miêu tả riêng. Nhân vật cảm nghĩ - nhà thơ ở ngôi thứ nhất, là người kể chuyện vừa ghi chép theo lối kí hoạ về những điều nhìn thấy, vừa diễn tả tâm trạng của mình. Đó là cả một thế giới nội tâm phong phú, sinh động và chân thực. Diễn biến tâm trạng cũng lại vừa đa chiều vừa có một lô gích phát triển từ thấp đến cao. Đỉnh cao của sự phát triển ấy là khi những băn khoăn, thắc mắc của anh đội viên về Bác đột ngột có hồi âm thì bài thơ kết thúc với cảm xúc: Bác lớn lao, Bác cũng bình dị lạ thường. Nhà thơ sung sướng được "thức luôn cùng Bác" như câu thơ của Tố Hữu : Ta bên Người, Người toả sáng trong ta Ta bỗng lớn ở bên Người một chút (Sáng tháng năm) Còn nhân vật thứ hai được thực hiện bằng lối kí hoạ chân dung thể hiện ở góc quan sát và lựa chọn dường nét. Bỏ qua những chi tiết ngoại hình không nói lên đặc điểm mà tập trung vào những gì tiêu biểu nhất: dáng ngồi, nét mặt, chòm râu, ta bắt gặp một nhà hiền triết phương Đông, một chiến sĩ cách mạng lão thành. Đó là một lãnh tụ kiểu mới phối hợp được hai nét hài hoà : vừa đức độ, bao dung vừa tinh anh, hiền triết. Thể thơ và ngôn ngữ bài thơ cũng có nét độc đáo. Tác giả sử dụng thể thơ năm chữ, về hình thức giống như thơ ngũ ngôn trường thiên của văn chương bác học trước đây, nhưng thực chất lại là một loại vè dân gian, một lối hát dặm của dân ca Nghệ - Tĩnh. Chúng ta nhận ra cách gieo vần ở hai câu liền nhau (câu hai với câu ba, rồi câu bốn với câu một khổ tiếp). Vần lại nhịp nhàng: cứ hai vần bằng (rồi, ngồi) rồi tiếp hai vần trắc (ngủ, lửa) và luân phiên cho đến hết bài. Còn ngôn ngữ cùa bài thơ là ngôn ngữ của lời kể, một thứ ngồn ngữ đời thường nhưng chân thực và sinh động. Người kể dùng nhiều từ láy và thành công trong việc dùng nó để xây dựng nhân vật. Có từ láy tạo hình (miêu tả Bác), có từ láy biểu cảm (diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ). Những từ láy dùng trong thơ cũng phong phú, dồi dào như kho tàng ca dao, dâh ca xứ Nghệ mà những nhà thơ như Trần Hữu Thung (thăm lúa) cùng thời với Minh Huệ đã vận dụng khá thành công.

Câu trả lời:

Đi tìm ý nghĩa của văn chương, Hoài Thanh đã giải thích: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là ở lòng thương người và rộng ra là thương cà muôn loài, muôn vật. Chính vì thế mà ông khẳng định: "Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có".

Trong những chức năng cùa văn chương, người ta chú ý nhất đến chức năng truyền cảm. Nghĩa là văn chương có khả năng gây dựng những cảm xúc cho ta. Chúng ta hãy nhớ lại câu chuyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, một câu chuyện cổ tích đến từ nước Nga rất xa xôi và tất nhiên có khá nhiều tình tiết xa lạ đối với chúng ta về văn hóa và phong tục. Thế nhưng chúng ta vẫn xúc động trước lối sống đầy ân nghĩa của chú cá vàng và vẫn căm ghét trước sự tham lam của mụ vợ. Chúng ta thường nghe nói: lòng tham của con người là vô đáy. Nhưng có lẽ đối với nhiều người, phải đọc đến tác phẩm này, chúng ta mới lần lượt hình dung về sự vô đáy của lòng tham.

Chúng ta lại nhớ đến "Bài học đường đời đầu tiên" nhớ đến chú Dế Mèn vốn hay cà khịa, hung hăng và hống hách. Trò nghịch ngợm tinh quái của Mèn đã khiến chị Chốc trút cờn giận tày đình lên người Dế Choắt. Nỗi đau và sự ân hận của Dế Mèn vì thế mà cũng là một bài học lớn đối với mỗi chúng ta. Nó răn dạy chúng ta, nhắc nhở chúng ta hãy trận trọng trong mỗi lời ăn tiếng nói và trong mỗi hành động của mình.



Những bài học, những cảm xúc mà chúng ta vừa mới nêu ra, có thể với một số người, nó bắt đầu từ cuộc sống thế nhưng với rất nhiều người nó được "truyền sang” từ những tác phẩm văn chương. Vì thế mà dân gian ta mới có câu sách là người bạn lớn. Nó dạy ta những bài học nhân sinh và nghĩa lý ở đời.

Văn chương truyền cho ta niềm vui, nỗi buồn, truyền cho ta những cảm xúc và rung động. Không chỉ thế, văn chương còn tô thêm những tình cảm đã có trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Thử hỏi trong chúng ta có ai lại không còn nhớ chút gì về ngày đầu tiên đi học. Với nhiều người có khi những ấn tượng ấy thậm chí vẫn còn sâu sắc lắm. Ấy thế mà tại sao khi đọc bài văn "Cổng trường mở ra" của tác giả Lý Lan chúng ta vẫn thấy xúc động, vẫn hay, vẫn thích đọc đi đọc lại nhiều lần? Câu trả lời có thể có nhiều cách để mà giải thích. Thế nhưng, sự lý giải dễ dàng và hợp tình lý nhất là bởi vì bài văn đã khơi đúng những cảm xúc của chúng ta. Có đọc bài văn, chúng ta mới thấy cái cảm xúc kia là sâu xa lý thú. Và cũng nhờ có đọc bài văn mà chúng ta lại càng khắc sâu hơn một ấn tượng đẹp đẽ về những năm tháng tuổi thơ.

Văn chương là tâm hồn và cũng là cuộc sống. Hai thứ ấy quện hòa quấn quýt vào nhau. Cuộc sống là chất liệu của văn chương còn văn chương thì làm đẹp lòng người. Nhưng để lòng người càng thêm yêu thêm đẹp thì văn chương trước hết cũng phải đẹp, phải hay. Nghĩa là nó phải yêu thương đích thực và phải là sản phẩm của những tâm hồn biết yêu thương.