Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 28
Số lượng câu trả lời 1929
Điểm GP 302
Điểm SP 2299

Người theo dõi (393)

Đang theo dõi (21)


Câu trả lời:

Phong cảnh Cô Tô sau khi cơn bão đi qua hiện lên như một bức tranh tuyệt đẹp. Trên cái nền là bầu trời xanh tươi sáng và mặt nước màu lam biếc, nổi bật lên màu xanh mượt của cây, màu vàng giòn của cát và màu trắng của sóng xô dào dạt vào đảo.

Cảnh Cô Tô được miêu tả từ cao xuống thấp. Từ nóc đồn trên đảo, Nguyễn Tuân nhìn ra bao la Thái Bình Dương bốn phương tám hướng, quay gót 180 độ mà ngắm cả toàn cảnh đảo Cô Tô. Cảnh đẹp được thu vào tầm mắt khiến nảy sinh trong lòng nhà văn một cảm xúc mãnh liệt: càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây.

Đọc đoạn trích này, người đọc không thể nào quên cảnh mặt trời mọc trên biển Đông. Đây là một bức tranh lộng lẫy, huy hoàng hiếm có. Cảnh mặt trời mọc được miêu tả trong một không gian rộng lớn, bao la, trong trẻo, tinh khôi: Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. Tác giả đã dùng hình ảnh so sánh đặc sắc, ví mặt trời sau khi lên tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn… hồng hào, còn mặt bể là một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng.

Cảnh tượng ấy thật hùng vĩ, đường bệ y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Xa xa, vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại… một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh báo hiệu bắt đầu một ngày mới tốt lành. Bức tranh với đủ màu sắc: đỏ, hồng, xanh, bạc… lấp lánh đan xen tạo nên vẻ đẹp muôn hồng ngàn tía.

Hoạt động trên đảo vừa khẩn trương, tấp nập lại vừa vui vẻ, thanh bình. Quanh cái giếng nước ngọt đảo Thanh Luân sớm nay có không biết bao nhiêu là người đến gánh và múc… Người dân chài gánh nước ngọt từ giếng xuống thuyền, chuẩn bị cho mười tám thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng. Vẻ thanh bình của cuộc sống còn được thể hiện ở suy ngẫm và liên tưởng của nhà văn trước hình ảnh: chị Châu Hòa Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.

Nguyễn Tuân cảm nhận rất tinh tế về sắc thái riêng của cuộc sống ở Cô Tô. Điều đó được thể hiện qua so sánh: Cái giếng nước ngọt ở rìa một hòn đảo giữa bể, cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền.

Biển Cô Tô đẹp mê hồn! Sức hấp dẫn của biển cả và những sản vật mà nó hào phóng ban tặng cho con người đã thu hút biết bao chàng trai ra biển để làm giàu cho cuộc sống và cho Tổ quốc. Chủ nhân của vùng đảo tươi đẹp này là những ngư dân ngày đêm bám biển. Họ “ăn sóng nói gió” và đã quen chịu đựng những khó khăn gian khổ do thời tiết khắc nghiệt gây nên.

Kết thúc bài kí là cảnh đoàn thuyền chuẩn bị ra khơi và chị Châu Hòa Mãn dịu con đứng trên bãi biển tiễn chồng. Đó là những hình ảnh tiêu biểu của cuộc sống lao động khỏe khoắn, vui tươi của những ngư dân cần cù, chất phác trên đảo Cô Tô.

Cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt của con người trên đảo và vùng biển Cô Tô dược miêu tả trong đoạn trích thật tươi đẹp, trong sáng và đa dạng qua ngòi bút điêu luyện, giàu cảm xúc của Nguyễn Tuân. Đặc biệt, cảnh mặt trời mọc trên biển là một bức tranh huy hoàng, lộng lẫy đầy chất thơ.

Đoạn trích trên đây đã giúp em hiểu thêm về một cảnh quan nổi tiếng của đất nước, từ đó càng thêm yêu mến, gắn bó và tự hào về Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp.

Câu trả lời:

1.Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào? (Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993) Lý Công Uẩn là một trong những vị vua tài giỏi, lỗi lạc của đất nước, ông là người đầu tiên lập nên triều đại nhà Lý ở nước ta. Ông thông minh, nhân ái , yêu nước thương dân, có chí lớn và lập được nhiều chiến công. Lý Công Uẩn luôn mong muốn đất nước được thịnh trị, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Chính vì thế, ông nhận thấy Hoa Lư không còn phù hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Vì ông muốn đóng đô ở nơi trung tâm , mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu nên ông đã ban bố chiếu dời đô vào năm 1010 để “trên vâng mệnh trời dưới theo ý dân”. Việc định đô lập nước là một vấn đề trọng đại tới tương lai đất nước. Dời đô là khát vọng của Lý Công Uẩn, của nhân dân, của lịch sử dân tộc. Việc dời đô là phải tìm một nơi trung tâm của trời đất , địa thế rồng cuộn hổ ngồi. Lý Công Uẩn tâm đắc nói tới cái nơi đúng ngôi chính giữa nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, nơi đấy không phải là Hoa Lư chật hẹp, mà là một nơi địa thế rộng, bằng, đất đai cao thoáng. Một nơi thuận lợi về tất cả mọi mặt thì nhân dân được ấm no, thanh bình, dời đô hợp với thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Dời đô ra Thăng Long là một bước ngoặc lớn, đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc đại Việt. Kinh đô Thăng Long là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời Chiếu dời đô đã thể hiện sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước khi ông chọn Đại La làm kinh đô mới để mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho muôn đời sau. Chiếu nêu bật được vai trò kinh đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia. Thời gian sau đó, Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng và đang là Thủ đô Việt Nam hôm nay. Thăng Long thực sự là “nơi kinh đô bậc nhất của muôn đời”. Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Sỹ Liên đã viết: “Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này”. Sự xuất hiện của chiếu dời đô là bằng chứng cho thấy đất nước đã phát triển sang trang mới, vua Lý Thái Tổ không tự khởi nghiệp ở Thăng Long mà là người được triều đình Hoa Lư tiến cử lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Vì thế mà hệ thống triều đình và cơ sở vật chất của kinh thành Thăng Long có được đều thừa hưởng từ đô cũ Hoa Lư. Sự kiện ban Chiếu dời đô vừa khẳng định vừa phủ định vai trò của kinh đô Hoa Lư. Là mốc son đánh dấu lịch sử hình thành thủ đô Hà Nội của Việt Nam trên cơ sở, nền tảng kinh đô Hoa Lư. Chiếu dời đô vừa khẳng định, đồng thời vừa phủ định, vừa khách quan lại vừa cảm tính, có ý nghĩa sâu sắc đối với lịch sử Hoa Lư và Thăng Long, làm nên tính chất trọng đại của hành trình 1000 năm lịch sử. Đó là một áng văn của thời khắc lịch sử từ Hoa Lư đến Thăng Long - một bước ngoặt hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Câu trả lời:

2.Chúng ta vẫn thường nghe những câu tục ngữ như "Học đi đôi với hành" hay "Người có học, có thể thay đổi cả thế giới",.. Quả đúng là như vậy, từ xưa đến nay, việc học luôn luôn được ưu tiên đặt lên hàng đầu. Con người sống trong xã hội cần phải có học thức để sinh tồn và phát triển trong sự nghiệp. Vì vậy, khi vừa lên ngôi hoàng đế, Quang Trung đã chiêu tài các quân sĩ và Nguyễn Thiếp đã tấu lên nhà vua bài "Bàn luận về phép học" đúng đắn "Ngọc bất mài, bất thành chí, nhân bất học, bất trí lý".

Đầu tiên chúng ta cần phải hiểu rõ học là gì? Hành là gì? Học là quá trình thu nhận kiến thức, lưu trữ lý thuyết cũng giống như các máy tính là lưu trữ thông tin và dữ liệu nhưng chúng ta học linh hoạt và phải có chiều sâu, hiểu rõ vấn đề chứ không phải học vẹt, học gạo, phải vừa học vừa suy nghĩ mới phát huy hết khả nắng của mình. Hành gọi chung là thực hành, luyện tập, đưa những kiến thức đã học áp dung vào thực tế đời sống.

Vậy tại sao người ta thường nói "Học đi đôi với hành", học và hành lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau? Bởi học vấn là điều tất yếu mà mỗi con người chúng ta cần phải có. khi học xong lý thuyết thì phải thực hành ra đời sống thực tế. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đa nhấn mạnh "Ngọc bất mài, bất thành chí, nhân bất học, bất trí lý".

Con người ta, học cốt để trở thành người có trí tuệ, lý trí, nghị lực. Khi học, con người chúng ta phải hiểu rõ mục đính của việc học để sau này không lệch lạc, không ra rời khỏi con đường đúng đắn, không có cách học sai lầm. Mục đích của người đi học, từ đầu, phải xác định là không học để mưu cầu danh lợi, không chỉ học cho cá nhân mình và cho gia đình nhỏ bé, như ông bà ta thường nói chỉ để vinh thân phi gia, mà phải nghĩ xa hơn, sâu hơn là học để "lập đức", "lập công", để phò vua giúp nước theo như nền chính học thì lúc ấy"triều đình ngay ngắn, thiên hạn thịnh trị". Nếu ta chỉ học mà không có mục đích thì sẽ biến việc học thiêng liêng thành nấc thang danh vọng tầm thường thành công cụ để mưu cầu danh lợi như bọn tiểu nhân hay thành một thứ để khoe khoang. Ông cha chúng ta ngày xưa đã nói: Bất học bất trí lý. Mục đích cuối cùng của sự học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu qua cao hơn. Nếu học được lý thuyết thì cao siêu đến đâu chăng nữa mà không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc mà thôi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói "Học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy". Lời dạy trên của Bác cũng góp phần khẳng định mối quan hệ mật thiết và tương trợ giữa hai yếu tố " học" và "hành" trong cuộc sống. Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lý thuyết và thực hành được hiểu khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời với nhau. Việc thực hành có tác dụng củng cố kiến thức, khắc sâu những điều đã học. Người có học mà không biết ứng dụng vào những điều đã học vào thực tế thì việc học ấy trở nên vô ích. Sau mỗi bài học lý thuyết là bài tạp để củng cố, sau mỗi tiếp thí nghiệm thực hành là kiến thức đã học được khắc sâu hơn. Nếu không có những tiết bài tập và thí nghiệm thì những điều chúng ta đã học sẽ trở thành mớ lý thuyết suông không có tác dụng gì. Học mà không hành thì sẽ ra sao? Học mà không hành thì giống như ông cha ta đã từng nói "Con tằm ăn dâu, đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…". Tức là nếu như học mà không "tiêu hóa", không "hành" thì khác gì con tằm ăn dâu, mà nhả lại những gì kẻ khác đã nói. Học như thế, không có ích gì cho bản thân mà còn hạ phẩm cách của con người ngang hàng với máy móc. Một xã hội mà con người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hóa đã đến ngày cùng tận. Nhưng nếu chỉ có hành mà không học thì sẽ trở thành kẻ phá hoại. Thực tế cho thấy trong tất cả các cấp học ngày nay, phương châm học đi đôi với hành hoàn toàn đúng. Những kiến thức mà ta thu được từ sách vở, nhà trường phải áp dụng vào thực tế cuộc sống để sáng tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần phục vụ con người. Chẳng hạn như chúng ta vừa nghe giảng bài với những kiến thức cơ bản, với những định nghĩa, định luật, kiến thức khó nhớ nhưng nếu áp dụng vào bài tập thì kiến thức sẽ được nhớ lâu.

Qua đó tác giả cũng phê phán những kẻ chuộng hình thức lấy việc học để khoe mẽ thì không còn cần thiết bởi thực tế đã chứng minh"trăm hay không bằng không bằng tay quen", nghĩa là nếu như học lý thuyết thì chỉ là lý thuyết suông, trong công việc chỉ là "chỉ tay năm ngón", còn khi vào công việc sẽ trở nên lúng túng làm hỏng việc. Chúng ta cũng phê phán, lên án những kẻ học gạo, hay học đối phó, học vẹt. Song song với việc thực hành những điều trên, chúng ta cần nhận ra hậu quả của việc học vẹt và lười học, học đừng như máy thu âm chỉ biết lặp lai những gì người khác nói và cũng đừng suy nghĩ như những con rô bốt, cả hai điều này đều rất tai hại.

Do đó chúng ta không thể coi nhẹ vai trò to lớn của việc học mà phải nhìn nhận, đanh giá đúng mức mối quan hệ giữa học và hành. Học và hành phải đi đôi vì chúng có tác động hai chiều với nhau. Học hướng dẫn hành. Hành bộ sung, nâng cao và làm cho việc học thêm hoàn thiện. Học mà không có hành thì chỉ như lý thuyết suông. Trái lại, chỉ chú trọng thực hành mà không chịu học hỏi thì làm việc gì cũng khó khăn. Học và hành là hai mặt của một quá trình. Không thể xem nhẹ mặt này hay mặt kia. Học và hành là phương pháp đúng giúp chúng ta có kiến thức, có kỹ năng. "Học đi đôi với hành", "theo điều học mà làm" là phương châm, phương pháp giúp chúng ta có chỗ đứng trong xã hội, giúp chúng ta sinh tồn và phát triển trong tương lai sự nghiệp.

Tuy đã cách chúng ta hơn ba thế kỷ nhưng lời dạy của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về một cách học đúng đắn vẫn còn tồn tại mãi cho đến ngày hôm nay. Chỉ có học kết hợp với thực hành mới đem lại hiệu quả cao. Vì vậy chúng ta phải noi theo lời dạy của ông.

Học luôn là vấn đề quan trọng và được đặt lên hàng đầu của bất cứ quốc gia nào nên chúng ta phải ý thức được tầm quan trọng lớn lao của sự học và phải luôn khắc ghi những lời dạy của ông cha ta xưa. Em thấy mình cần phải chăm chỉ rèn luyện, trau dồi kiến thức nhiều hơn nữa dể trở thành một công dân tốt cho xã hội, để sau này lớn lên góp phàn xây dựng đất nước hùng mạnh, vững bền.