Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 28
Số lượng câu trả lời 1929
Điểm GP 302
Điểm SP 2299

Người theo dõi (393)

Đang theo dõi (21)


Câu trả lời:

Cuộc đời và sự nghiệp tác giả nhà văn Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân (10 tháng 7 năm 1910 – 28 tháng 7 năm 1987) quê ở Hà Nội, là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, sở trường về tùy bút và kí, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt và vốn ngôn ngữ, giàu có, điêu luyện. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụngtiếng Việt. Hà Nội có một con đường mang tên ông.

Sơ lược tiểu sử

Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.

Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung Nam Định (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.

Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi… Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.

Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập tùy bút Sông Đà (1960) là kết quả chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước. Ông chủ trương chủ nghĩa xê dịch không thích cuộc sống trầm lặng, bình ổn nên ông đi suốt chiều dài đất nước để tìm những điều mới mẻ,độc đáo.

Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987. Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

Tính cách

• Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà…, những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, nh¬ững nét đẹp rất riêng của Việt Nam

• Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch” . Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù).

• Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương.

• Nguyễn Tuân nổi tiếng là người sành ăn. Với ông, Ăn là một nghệ thuật, một giá trị thẩm mỹ, một sự khám phá cái ngon mà tạo hóa đã ban cho.

• Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy .

Sự nghiệp văn chương Quá trình sáng tác và các đề tài chính

Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua…

Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”, và “đời sống truỵ lạc”.

Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa (Một chuyến đi).

Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn “vang bóng một thời”. Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử tù).

Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.

Phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc. Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông”.

Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật.

Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi là Vang bóng một thời. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại.

Nguyễn Tuân học theo “chủ nghĩa xê dịch”. Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội……

Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình. Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu.

Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng. Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sỹ ở cả nhân dân đại chúng. Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.

Những tác phẩm nổi tiếng

• Ngọn đèn dầu lạc (1939)
• Vang bóng một thời (1940)
• Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
• Tàn đèn dầu lạc (1941)
• Một chuyến đi (1938)
• Tùy bút (1941)
• Thiếu quê hương (1940)
• Tóc chị Hoài (1943)
• Tùy bút II (1943)
• Nguyễn (1945)
• Chùa Đàn (1946)
• Đường vui (1949)
• Tình chiến dịch (1950)
• Thắng càn (1953)
• Chú Giao làng Seo (1953)
• Đi thăm Trung Hoa (1955)
• Tùy bút kháng chiến (1955)
• Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956)
• Truyện một cái thuyền đất (1958)
• Tùy bút Sông Đà (1960)
• Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
• Ký (1976)
• Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981)
• Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988)
• Tú Xương
• Yêu ngôn (2000, sau khi mất)
• Ký Cô Tô(1965)

Câu trả lời:

Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi đã ghi dấu tên mình như một nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà chính trị lỗi lạc. Không chỉ vậy, ông còn là một nhà thơ, nhà văn vĩ đại. Nổi bật trong gia tài văn học của Nguyễn Trãi là những áng văn chính luận kết hợp hài hòa giữa tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước thương dân với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn. Bình ngô đại cáo là tác phẩm thể hiện rõ nhất tài năng cũng như tấm lòng nhân đạo của ông.

Bình Ngô đại cáo ra đời sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược hoàn toàn thắng lợi. Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Nhân nghĩa vốn là một phạm trù tư tưởng của Nho giáo, chỉ mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí. Nguyễn Trãi đã chắt lọc lấy hạt nhân căn bản của tư tưởng nhân nghĩa: nhân nghĩa chủ yếu để yên dân, đồng thời phát huy truyền thống tốt đẹp của người Việt, đem đến nội dung mới cho nhân nghĩa: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo. Đó là cơ sở để bóc trần giọng điệu xảo trá của giặc Minh, đồng thời khẳng định lập trường chính nghĩa của quân ta và tính chất xâm lược phi nghĩa của kẻ thù. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ gìn độc lập dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”

Nguyễn Trãi đã khẳng định chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc ta. Với cảm hứng yêu nước, Nguyễn Trãi đã nói về độc lập dân tộc rất cụ thể: nước Đại Việt ta có cương vực lãnh thổ, có lịch sử, có nền văn hiến lâu đời, có lịch sử riêng, có chế độ riêng, có người hiền tài. Giọng điệu trang trọng, vang lên đầy kiêu hãnh, tự hào. Các từ ngữ: “từ trước”, “đã lâu”, “vốn xưng”, “đã chia”, “cũng khác” cho thấy sự tồn tại hiển nhiên, vốn có lâu đời của một đất nước Đại Việt độc lập, có chủ quyền và văn hiến. So với Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, ý thức độc lập dân tộc của Bình Ngô đại cáo toàn diện và sâu sắc hơn. Lý Thường Kiệt mới chỉ xác lập địa vị dân tộc ở hai phương diện lãnh thổ và chủ quyền. Nguyễn Trãi xác định dân tộc ở nhiều phương diện: lãnh thổ, lịch sử, văn hóa, văn hiến, con người. Lý Thường Kiệt căn cứ vào thiên thư- yếu tố tâm linh chứ không phải thực tiễn lịch sử. Nguyễn Trãi ý thức rõ và đề cao những yếu tố thực tiễn, căn bản nhất để làm nên một quốc gia độc lập. Tiếp theo, ông nêu ra những cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử mà chúng đều thất bại:

“Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi”

Soi chiếu luận đề chính nghĩa vào thực tiễn lịch sử, tác giả nêu lên bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân thù:
“Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?”

Phù Trần diệt Hồ chỉ là bức bình phong giặc để Minh lừa dối thiên hạ. Mục đích của chúng là lợi dụng tình hình chính trị bất ổn để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Ngay sau đó là những câu văn thấm đẫm nước mắt và sự thương xót. Nguyễn Trãi đã phác họa bức tranh khổ cực của nhân dân ta khi giặc Minh xâm chiếm: kẻ lên núi tìm vàng, người xuống biển mò ngọc, tình cảnh chia lìa nheo nhóc, khốn cùng, vợ mất chống, con mất cha, gia đình li tán, dân tình bị đẩy vào cảnh phu phen, tàn hại cả môi trường sống. Hình ảnh nhân dân hiện lên tội nghiệp, đáng thương, khốn khổ, trong khi đó hình ảnh kẻ thù tàn bạo, vô nhân tính như những tên ác quỷ. Bằng biện pháp nói quá, tội ác của quân thù được khắc họa trong hai câu thơ giàu sức gợi: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội/Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”. Giọng điệu vừa uất hận sôi trào, vừa cảm thương tha thiết. Đau xót và căm thù tội ác trời không dung, đất không tha của quân giặc, nhân dân Đại Việt đã đồng lòng đứng dậy:
“Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay”

Đoạn văn khắc họa hình tượng người chủ tướng Lê Lợi và những năm tháng gian khổ ban đầu của khởi nghĩa Lam Sơn. Hình tượng Lê Lợi được miêu tả bằng bút pháp tự sự kết hợp trữ tình: cách xưng hô khiêm nhường, nguồn gốc xuất thân cũng là chốn hoang dã nương mình cho đến địa bàn đóng quân hẻo lánh. Thế nhưng, người anh hùng áo vải lại có những phẩm chất đáng quý: lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí hoài bão lớn lao, quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Cuộc khởi nghĩa được tiến hành trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ, khan hiếm lương thực, thế và lực không cân xứng, thiếu nhân tài hào kiệt. Nhưng, nhờ ý chí khắc phục gian nan, sức mạnh đoàn kết, tư tưởng chính nghĩa, sử dụng chiến lược, chiến thuật linh hoạt, quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi. Ở đây, Nguyễn Trãi đã đề cao tính chất nhân dân, tính chất toàn dân, đặc biệt đề cao vai trò của những người dân nghèo, địa vị thấp hèn. Đó là tư tưởng lớn, tiến bộ trước đó chưa từng có và mãi đến thế kỉ 19 mới được Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục ca ngợi. Quá trình phản công và chiến thắng của quân ta được miêu tả hết sức sinh động bằng những hình ảnh có tính phóng đại, giọng văn sôi nổi, hào hùng diễn tả những chiến thắng dồn dập, liên tiếp cùng sự thất bại thảm hại của kẻ thù. Tình yêu hòa bình, tư tưởng nhân nghĩa yên dân- trừ bạo tiếp tục được khẳng định và sâu sắc hơn nữa.

Kết thúc bài cáo là lời tuyên bố thắng trận, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa và nêu lên bài học lịch sử:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay”.
Bằng giọng văn trang nghiêm, trịnh trọng, bài cáo khẳng định, tuyên bố với toàn dân về nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước đã được lặp lại, đồng thời nêu lên bài học lịch sử: sự thay đổi thực chất là sự phục hưng dân tộc, là nguyên nhân, là điều kiện đề thiết lập sự vững bền. Có được thành quả như vậy là nhờ sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại được phát huy cùng với sức mạnh chính nghĩa. Nguyễn Trãi còn sáng suốt nhìn ra con đường đi cho dân tộc khi đặt ra vấn đề phải đổi mới để đất nước được vững bền.

Bình Ngô đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc ta. Tác phẩm đã nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chân lí độc lập dân tộc, tố cáo tội ác của kẻ thù, tái hiện quá trình kháng chiến hào hùng và tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử. Bình Ngô đại cáo còn là áng thiên cổ hùng văn, mang đậm cảm hứng anh hùng ca, kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận sắc bén và văn chương trữ tình.

Cho dù đã trải qua hàng mấy thế kỉ, đến ngày nay, Bình Ngô đại cáo vẫn giữ nguyên được giá trị tư tưởng vượt tầm thời đại của nó. Tác phẩm đã giúp người đọc hình dung ra một trang vàng son trong lịch sử dân tộc, khơi dậy tình yêu nước và tự hào dân tộc ở mỗi con người.

Câu trả lời:

DÀN Ý BÀI VĂN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO CỦA NGUYỄN TRÃI
1. MỞ BÀI
Giới thiệu tác giả, tác phẩm

2. THÂN BÀI
Phần 1: Việc nhân nghĩa...chứng cứ còn ghi: Nêu luận đề chính nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo
Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc Việt Nam:
Nền văn hiến, phong tục, lịch sử, chế độ riêng
So sánh với Nam quốc sơn hà: tiến bộ, sâu sắc, toàn diện hơn

Phần 2: Vừa rồi...ai bảo thần nhân chịu được: Bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân thù
Những âm mưu và tội ác của kẻ thù: âm mưu xâm lược, chính sách cai trị vô nhân đạo, tàn sát người vô tội, bóc lột dã man, hủy diệt môi trường sống
Hình ảnh nhân dân: khốn khổ, tội nghiệp, đáng thương
Hình ảnh kẻ thù: tàn bạo, vô nhân tính
Nghệ thuật: phóng đại, câu hỏi tu từ, giọng điệu uất hận trào sôi, cảm thương tha thiết

Phần 3: Ta đây núi Lam Sơn dấy nghĩa...Cũng là chưa thấy xưa nay: Kể lại quá trình chiến đấu gian khổ và kết cục toàn thắng của khởi nghĩa Lam Sơn
Hình tượng người chủ tướng Lê Lợi và những năm tháng gian khổ ban đầu của cuộc khởi nghĩa
Nguồn gốc xuất thân: chốn hoang dã nương mình
Lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí, hoài bão cao cả
Những khó khăn của nghĩa quân Lam Sơn: quân thù đang mạnh, tàn bạo; quân ta lực lượng mỏng, lương thực khan hiếm
Sức mạnh giúp ta chiến thắng: ý chí khắc phục gian nan, sức mạnh đoàn kết, chiến lược, chiến thuật linh hoạt, tư tưởng chính nghĩa
Quá trình phản công và chiến thắng
Khí thế của quân ta hào hùng, chiến thắng dồn dập, liên tiếp
Hình ảnh kẻ thù tham sống sợ chết, hèn nhát, thảm bại

Phần 4: Tuyên bố chiến thắng và nêu lên bài học lịch sử
Tuyên bố, khẳng định với toàn dân nền độc lập chủ quyền của dân tộc đã được lập lại
Tư tưởng canh tân đất nước, tin tưởng vào tương lai

Đánh giá: nội dung và nghệ thuật

3. KẾT BÀI
Khẳng định ý nghĩa và giá trị của tác phẩm

Câu trả lời:

Đoạn 2 là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của quân xâm lược nhà Minh.Nguyễn Trãi đã lột trần âm mưu thâm độc của chúng: lợi dụng nhà Hồ chính sự đổ nát, giặc mInh đã thừa cơ vào cướp nước ta:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
…….
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Tác giả khẳng định đó là tội ác “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” và kể ra những hành động tội ác man rợ của chúng. Nào là tàn sát, giết hại nhân dân kể cả các em nhỏ cũng không tha: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”.Rồi chúng lại bóc lột dân ta bằng thuế khoá nặng nề, ra sức vơ vét tài nguyên đất nước, đẩy người dân đến chỗ đường cùng, thậm chí tính mạng không được đảm bảo:
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Còn dã man, tàn bạo đến mức:
-Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
-Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Hậu quả bọn chúng để lại thật là tàn khốc: gia đình tan nát, vợ mất chồng, con cái thì nheo nhóc, muôn loài bị phá huỷ, tiêu diệt, sản xuất thì trì trệ, nhân dân khổ cực
Để nêu rõ tội ác của quân xâm lược, tác giả đã dụng phương pháp liệt kê có chọn lọc, sử dụng những câu văn giàu hình tượng, giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc.Lúc thì tỏ ra căm phẫn, tức giận đến thấu xương cái lũ xâm lược tàn bạo, lúc thì lại thể hiện sự xót xa, đau đớn cho nhân dân ta.
Ở phần đầu bản cáo trạng là một hình ảnh đầy ấn tượng: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, để rồi két thúc bằng một hình ảnh có giá trị tổng kết cao: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội- Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi”. Và cuối cùng là lời phán quyết nghiêm khắc, đanh thép của nhân dân ta về tội ác của chúng:
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần nhân chịu được?