Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6

Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Quảng Ninh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 53
Số lượng câu trả lời 392
Điểm GP 13
Điểm SP 212

Người theo dõi (86)

Chi Bi
hoang kieu trang
Ngô Minh Đức
Ran Mouri
nguyen_thi_quyen

Đang theo dõi (8)

Hoàng Công Minh
violet
Phùng Thị Bình

Câu trả lời:

Mùa là một phần thời gian của năm, nhưng có những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu. Nguyên nhân gây ra các mùa là do trục trặc của Trái đất nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất không đổi phương trong không gian.

Các nước theo dương lịch ở bán cầu Bắc lấy bốn ngày: xuân phân ( 21 – 3), hạ chí ( 22 – 6), thu phân ( 23- 9) và đông chí( 22 – 12) là bốn ngày khởi đầu của bốn mùa. Ở bán cầu Nam, bốn mùa diễn ra ngược với bán cầu Bắc.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21 – 3 đến 23 – 9 , bán cầu Bắc ngả về phía Mặt trời, nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn, diện tích chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng tối, đó là mùa xuân và hạ của bán cầu Bắc, ngày dài hơn đêm.

Trong khoảng thời gian từ ngày 23 – 9 đến 21 – 3, bán cầu Nam ngả về phía Mặt trời, nên bán cầu này có góc độ chiếu sáng lớn, đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Nam, ngày dài hơn đêm. Ở bán cầu Bắc thì ngược lại.

Riêng hai ngày 21 – 3 và 23 – 9, Mặt thẳng góc xuống Xích đạo lúc 12 giờ trưa nên thời gian chiếu sáng cho hai bán cầu là như nhau.

Ở Xích đạo, quanh năm có độ dài ngày và đêm khác nhau, càng xa Xích đạo, độ dài ngày và đêm càng chênh lệch nhiều.

Câu trả lời:

Một sợi rơm vàng, hai sợi vàng rơm/Bà bện chổi to, bà làm chổi nhỏ… Lời bài hát thiếu nhi của nhạc sĩ Hà Đức Hậu, trẻ con cả nông thôn và thành thị thập niên 70, 80 thế kỷ trước đứa nào cũng thuộc. Nó nằm trong chương trình dạy cho trẻ con mẫu giáo. Nét nhạc vui tươi, lời thơ giản dị, dễ nhớ.

Cho đến tận bây giờ hình như vẫn chưa có bài hát thiếu nhi nào được nhiều thế hệ trẻ con yêu thích đến thế. Bện chổi là công việc người già và trẻ nhỏ ở nông thôn ai ai cũng biết. Vài đứa trẻ lớn ở thành phố sơ tán về nông thôn những năm 1960 cũng tập tành bện chổi.

Cái chổi không phải lần đầu tiên và duy nhất có mặt trong văn chương, nghệ thuật. Trong cuốn Thánh Tông di thảo của vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) đã có truyện Ma chổi. Một câu chuyện huyền bí mang màu sắc Liêu Trai rất rõ của văn học thời ấy. Cái chổi về sau còn được nhà thơ Tố Hữu đưa vào bài thơ Tiếng chổi tre. Học sinh cấp 3 từ sau năm 1960 ai cũng học thuộc lòng. Hơi khó thuộc vì thể thơ bậc thang mới lạ nhưng đó là bài thơ tiêu biểu ca ngợi giai cấp công nhân từng có mặt rất nhiều lần trong đề thi tốt nghiệp.

Chổi dĩ nhiên được dùng để quét. Tiếng Việt không phân biệt nhiều lắm các loại chổi. Chỉ gọi chung là chổi mà thôi dù rằng vật liệu, cách thức chế tạo và công dụng tùy nơi tùy chỗ có khá nhiều khác biệt. Vùng đồi núi trung du người ta làm chổi bằng lá cọ, cây chổi xể. Chổi này cũng chỉ quét sân vườn và những nơi rộng rãi. Vài nơi có chổi thông buộc bằng lá thông. Nhà chùa quét bàn thờ và thợ quét giấy điệp in tranh dân gian hay dùng. Miền xuôi có chổi tre rất thông dụng. Nan chổi chẻ bằng cật tre bó lạt. Tùy theo người sử dụng mà tra cán dài ngắn khác nhau. Những năm trước, các gia đình Hà Nội thường có vại nước gạo để chứa thức ăn thừa nuôi heo. Những người đến xin nước gạo thường trả bằng vài cái chổi tre và chổi rễ (dũa tre cọ nồi) mỗi tháng. Chổi ấy để quét sân và khu vệ sinh của những ngôi nhà trong phố đã chia năm xẻ bảy sau hòa bình.

Cái chổi thông dụng nhất vẫn là chổi lúa. Bện bằng rơm nếp vàng óng. Cả nông thôn và thành thị đều dùng nó để quét nhà. Nền đất và nền gạch đỏ chỉ nó mới có thể quét sạch. Nền gạch hoa ở phố trước khi lau cũng cần chổi lúa để quét. Người bán chổi hàng ngày gánh trên phố rao vang trời: Ai chổi lúa, chổi nan, chổi xể đây! Bán năm cái chổi chưa mua nổi cân gạo quê. Nhưng rơm vàng và nhân lực thừa ra sau vụ gặt cũng chẳng biết dùng vào việc gì.

Ở thành phố thịnh hành chiếc chổi phất trần. Làm bằng lông gà bó sơn ta lên cán trúc. Chủ yếu quét bụi trên sập gụ tủ chè và giường chiếu. Cán của nó là một công cụ dùng để dạy dỗ trẻ con rất thông dụng. Đã nhiều đứa trẻ nên người nhờ cái cán phất trần. Thực ra loại chổi này xét về mặt khoa học là hoàn toàn vô dụng. Nó chỉ đưa bụi từ chỗ này sang chỗ khác và chui vào mũi người sử dụng. Nhưng nó vẫn đắc dụng khi để trong cốp những chiếc ô tô. Thời gian chờ thủ trưởng, tài xế có thể mang ra phẩy bụi cho xe.

Giờ thì ở thành phố chỉ còn mỗi công nhân vệ sinh môi trường dùng cái chổi tre truyền thống. Chổi của họ vẫn là những nan tre chẻ dài vót tròn cẩn thận. Tuy nhiên nhát chổi có phần thưa thớt hơn nhiều. Hình như cái chổi tre đã bắt đầu bất lực trước số lượng rác rưởi khổng lồ dân phố xả ra hàng ngày. Đến mức có vài ông khách ngoại quốc ở Hà Nội thỉnh thoảng cũng phải tự biến mình thành “cái chổi” để tham gia nhặt rác.

Rất lâu rồi không nhìn thấy cái chổi lúa, chổi xể ở thành phố nữa. Nhà nhà dùng chổi sợi bông công nghiệp. Gọi là chổi lau nhà. Nó chỉ còn giống cái chổi ở mỗi chiếc cán mà thôi. Và cũng không dùng để quét. Chổi quét vỉa hè trước cửa hoàn toàn bằng nhựa. Tha hồ bền.

Nhiều gia đình ở phố bây giờ sử dụng máy hút bụi. Cũng không còn nhìn thấy cái chổi phất trần phi khoa học nữa. Máy hút bụt phát ra âm thanh chẳng kém gì máy khoan tường. Một tuần ít nhất nó cũng “khoan” vào tai một lần. Các cụ già mắt mũi kèm nhèm thường hút vào đấy khá nhiều đồ vật nhỏ dùng hàng ngày. Lọ thuốc đau mắt, cuộn chỉ thêu, đồ chơi lego, vỉ thuốc uống dở, vài cái núm vặn ở ampli máy nghe nhạc. Cũng có khi là cả chùm chìa khóa. May mà con cháu biết chắc chỗ tìm nên không thể mất.

Gần đây có phong trào các nhà văn viết lại chuyện cổ tích. Chẳng biết họ sẽ cho phù thủy cưỡi gì nếu như cái chổi không còn nữa?

Câu trả lời:

Con người sinh ra và chết đi là một quy luật của tự nhiên. Nhưng khi người ta chết đi không có nghĩa là không còn tồn tại trên đời nữa, họ vẫn để lại những tấm lòng, những tình thương của họ với những ngườicòn sống trên đời và hình ảnh của họ sẽ mãi ở trong tim mọi người. Đó là những gì mà ta, một họa sĩ già đã nhận ra trong 60 năm sống trên đời. Và giờ đây, khi ta đã về nơi thiên giới, ta đã yên lòng vì sự ra đi của takhông hề vô ích, nó đã cứu sống được một mạng người.Giờ đây, trong lòng ta đang ùa về những kỉ niệm của một mùa thu hai năm về trước. Đó là ngày ta để ý thấy Giôn-xi cứ nhìn ra ngoài cửa sổ, chờ cho chiếc lá rụng xuống và con bé sẽ chết. Nhìn Giôn-xi có mỗi ngày một tiều tụy đi như vậy, Ta nghĩ con bé đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình.Lúc đó, như có điều gì đã ngăn cản bước chân của ta lại. Nhìn Giôn-xi với vẻ mặt tuyệt vọng và Xiuvô cùng lo âu, lòng ta lại nhói đau. Ta không có con nhưng từ lâu ta đã coi Xiu và Giôn-xi là con ruột củamình. Ta đi xuống lầu, đi về phòng của mình, lấy vài chiếc bút lông, một bảng màu pha màu xanh và vàngtrộng lẫn với nhau. Đêm hôm ấy, trong một đêm mưa gió dập vùi, khủng khiếp, dưới ánh sáng mập mờ của ngọn đèn bão, ta bắc thang và bắt đầu vẽ lên tường một chiếc lá thường xuân đã úa vàng. Ta đã dùng hết tình cảm, sự yêu thương của mình để vẽ, ta cố gắng để vẽ sao cho thật sống động, thật giống với một chiếc lá thường xuân để đem lại niềm tin và nghị lực sống cho Giôn-xi. Đêm hôm đó, sau khi vẽ xong, ta trở về phòng của mình. Giày và quần áo của ta ướt sũng và lạnh buốt. Ta đã gục luôn trên sàn nhà từ lúc nào không biết. Sáng hôm sau, người gác cổng phát hiện ta nằm dướisàn bèn gọi bác sĩ. Khi ta tỉnh lại, ta thấy mình đang ở trong bệnh viện và Xiu đang chăm sóc cho ta. Nhìn vẻ mặt của Xiu, ta đoán chắc con bé cũng đã biết những gì ta đã làm đêm qua. Thấy ta tỉnh lại con bé vội chạy đếnbên giường. Nói nói với ta là ta mắc bệnh viêm phổi nặng vì dầm mưa đêm qua. Con bé cũng bảo đã nhìnthấy chiếc đèn bão, chiếc thang cùng vài hộp màu và mấy chiếc bút lông vung vãi trong phòng ta. Ta cũng kể cho Xiu nghe chuyện ta vẽ chiếc lá thường xuân trên tường. Ta vội hỏi về bênh tình của Giôn-xi. Xiu bèn kể cho ta nghe những gì đã xảy ra vào buổi sáng hôm đó.Sáng hôm đó, khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi lại tàn nhẫn ra lệnh cho Xiu kéo mành lên. Chiếc láthường xuân cuối cùng mà ta vẽ vẫn còn đó. Giôn-xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu rồi quay sang gọi Xiu đang quấy cháo trên bếp, con bé đã nói rằng: “Em thật là một con bé hư chị Xiu thân yêu ơi! Có một cái gì đấy đãlàm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thìchị có thể cho em xin ít cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – à khoan – đưa em chiếc gương tay trướcđã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng.” Và một tiếng đồng hồ sau,Giôn-xi lại nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ xinh đẹp.” Khi tanghe bác sĩ nói được năm phần mười rồi, chỉ cần chăm sóc chu đáo thì con bé sẽ khỏe, ta mừng lắm. Ta mỉm cười, ta cười vì những việc ta làm không hề vô ích, chiếc lá mà ta vẽ đã cứu sống được Giôn-xi, đã đưa con bé quay trở lại từ ngưỡng cửa của tử thần. Dù ta có phải trả giá như thế nào ta cũng không hề hối hận. “Xiu! Ta sắp đi rồi. Ta không thể ở bên các cháu được nữa. Cháu hãy nhắn với Giôn-xi rằng hãy sống thật tốt, đừng bao giờ nghĩ dại dột nữa, hãy làm những điều nócác cháu muốn làm, hãy đi những nơi các cháumuốn đi, và sống cho cả phần của lão già này nữa nhé! Hãy nhớ rằng, nghệ thuật chân chính không phải chỉđể trưng bày và cho người khác ngắm nhìn, nghệ thuật chân chính phải được tạo ra từ tình yêu thương giữacon người và vì con người. Ta tin các cháu sẽ là những nghệ sĩ chân chính. Ta ở trên trời cao sẽ phù hộ chocác cháu…” Nói rồi, ta cứ mất dần cảm giác, mắt ta cứ dần nhắm lại và chìm sâu vào giấc ngủ vĩnh hằng, thân thểcủa ta bỗng nhẹ tênh, ta có cảm giác ta đang bay lên trời, bay về với thượng đế chí nhân. Nhưng văng vẳngbên tai ta vẫn là tiếng của Xiu đang khóc thút thít: “Cháu nhớ rồi, cụ Bơ-men ạ. Cụ hãy cứ yên nghỉ đi!”…Trong nhịp sống tất bật, hối hả quay cuồng, nếu không có một khoảng lặng, một phút dừng lại ngắmnhìn cuộc đời, hẳn con người sẽ không bao giờ tìm được chút bình yên, thanh thản cho tâm hồn mình. Nhữnglo toan thường nhật, cuộc mưu sinh bận rộn với bao toan tính, đắn đo đã cuốn con người vào vòng quay bấttận. Nhưng không, ở ngay trong một khu phố nhỏ tồi tàn như nơi đây, hơi ấm tình người vẫn lặng lẽ toả sáng,vẫn cất lên bản nhạc dịu dàng giữa một xã hội phồn vinh, rộng lớn