Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Tĩnh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 41
Số lượng câu trả lời 1082
Điểm GP 91
Điểm SP 1163

Người theo dõi (200)

74^m ku73
Vũ Quốc Phong
Nhím Ngốc
Thảo Vy

Đang theo dõi (8)

Đàm Ngọc Linh
meo xinh (muvik)
Chu Diệu Linh
Park Chanyeol
EXO
EXO

Câu trả lời:

Hồ Chí Minh 

Người lính già 
Đã quyết chiến hy sinh 
Cho Việt Nam độc lập 
Cho thế giới hoà bình! 
Người đã sống năm mươi năm vũ bão 
Vì nhân loại 
Người quyết dâng xương máu 
Vì giang sơn 
Người quyết dứt gia đình! 

Hồ Chí Minh 
Người đã quyết 
Mặc phong ba giá tuyết 
Mặc gươm súng xiềng gông 
Làm tên quân cảm tử đi tiên phong 

Đánh trăm trận, thề trăm phen quyết thắng! 
Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng 
Hồn vẫn tươi vui, thơm ngát tình đời 
Bước trường chinh dầu mỏi gối khan hơi 
Tim gang thép vẫn bừng bừng lửa chiến 
Cờ đã phất, phải gương cao quyết tiến! Người xông lên 
Và cả đoàn quân, thừa huyết khí thanh niên 
Rập bước tiến bên người Cha anh dũng. 
Tiếng Người thét 
Mau lên gươm lắp súng! 
Và cả đoàn quân 
Đã bao nhiêu năm tháng trải phong trần 
Mắt sáng quắc tay xanh loè mã tấu 
Vụt ào lên quyết hy sinh chiến đấu 
Diệt cường quyền! 
Ôi sức mạnh vô biên! 
Hồ Chí Minh 
Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng 
Trên đầu ta, ngọn cờ dân tộc 
Trăm thế kỷ trong tên Người: Ái Quốc 
Bạn muôn đời của thế giới đau thương! 
Chúng tôi đây 
Lớp con cháu trên đường 
Gươm tuốt vỏ, súng cầm tay, xốc tới 
Ngọn cờ đỏ sao vàng bay phấp phới 
Nước non Hồng vang dội Tiến quân ca 

Hồ Chí Minh 
Người trẻ mãi không già!

Câu trả lời:

Thơ ơi thơ sẽ hát bài ca gì 
Tôi muốn dắt thơ đi 
Tôi muốn cùng thơ bay 
Mùa xuân nay 
Đến tận cùng đất nước. 
Ôi! Mùa xuân bốn nghìn năm mơ ước 
Hơn nửa đường đi, tôi đã biết đâu 
Tổ quốc tôi rất đẹp, rất giàu 
đẹp từ mái tóc xanh đầu nguồn Pắc Bó 
Đẹp đến gót chân hồng đất mũi Cà Mau. 

Xưa quê cha mà tôi nào được biết 
Có Trường Sơn cao, có biển Đông sâu 
Tuổi thơ ùa trong mưa dầm da diết 
Cát truông dài nắng bỏng lưng trâu... 

Đảng dạy tôi biết ngẩng đầu, đứng dậy 
Vững hai chân, đứng thẳng, làm người 
Tôi đi tới, với bạn đời, từ ấy 
Đến hôm nay, mới thấy trọn vùng trời! 



Đâu phải đường xanh. Đường qua máu chảy 
Năm mươi năm, máu đỏ thành hoa 
Cuộc sinh nở nào đau đớn vậy ? 
Rất tự hào, mà xót tận trong da. 

Giặc đã diệt. Còn ta, vĩnh viễn 
Cả những người vắng bóng hôm nay 
Ôi, nếu Bác... 
Không, Bác vẫn đời đời hiển hiện 
Người vẫn hằng dìu dắt chúng con đây! 

Vĩnh viễn cùng ta, những gì còn, mất 
Những yêu thương, căm giận. buồn lo 
Những tiếng hát và những dòng nước mắt 
Cho núi sông này độc lập, tự do. 

Việt Nam! 
Người là ta, mà ta chưa bao giờ hiểu hết 
Người là ai ? Mà sức mạnh thần kỳ 
Giữa cái chết, không phút nào chịu chết 
Lửa quanh mình, một tấc cũng không đi! 

Sống cho ta, sống cả cho người 
Là trái tim, cũng là lẽ phải. 
Việt Nam ơi! 
Người là ai ? Mà trở thành nhân loại. 

Không chỉ hôm qua 
Hôm nay, mãi mãi 
Đất nước này vạn đại tươi xanh 
Như rừng đước, cháy rồi, lại mọc 
Tràm lại ra hoa cho ong mật đu cành. 
Ngút mắt trông 
Biển lúa mênh mông 
Sông nước Cửu Long dào dạt 
Dừa nghiêng bóng mát 
Thơm ngọt xoài ngon. 
Tươi rói đất son 
Rừng cao su xanh thẳng tắp 
Bắp mẩy, mía giòn. 
Bát ngát Tây Nguyên vẫy gọi 
Nào trai tài gái giỏi 
Lại đây! 
Khai phá, dựng xây 
Trên trận địa năm xưa, rạch những đường cày mới 

Thời gian không đợi 
Cả trời đất vào xuân, cùng ta đồng khởi 
Cho những mùa gặt lớn mai sau 
Phải nhanh chân từ những bước đầu. 
Tổ quốc ta phải giàu, phải mạnh 
Ta sẽ đi, như lao vào trận đánh. 
Đường Hồ Chí Minh rộng mở, thênh thang 
Ta phải thắng thiên nhiên, và thắng cả chính mình 
Cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi. 

Hãy bước tới. 
Từ đỉnh cao này vời vợi 
Đến những chân trời xa... 
Hạnh phúc ở mỗi bàn tay vun xới 
Mỗi nụ mầm nở tự lòng ta. 

Xứ sở mình có đủ nắng quanh năm 
Cuộc sống ấm ân tình, với Đảng 
Lớn khôn chung, một sẽ hoá thành trăm 
Đời rạng rỡ, mỗi con người tự sáng. 

Phải thế chăng, hỡi mùa xuân hùng tráng 
Mà tuyến đường Thống Nhất nổi còi vang 
Mà Nam Bắc hoà sắc màu duyên dáng 
Đầu mạ non xanh, đầu lúa chín vàng. 
Lịch sử sang trang. 
Đại hội Đảng mở mùa vui. Phơi phới 
Từ chiến trường ra, ta xốc tới công trường 
Người chiến thắng là người xây dựng mới 
Anh em ơi 
Tất cả lên đường.

Câu trả lời:

NGOẠI KHÓA CHÀO MỪNG NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

 

 

 

Sáng ngày 8/3 trong không khí tưng bừng chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ, trường THCS Nguyễn Đức Cảnh long trọng tổ chức ngoại khóa : “Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong Văn học và Âm nhạc” do thầy giáo Nguyễn Tiến Trì và thầy giáo Vũ Mạnh Cương thực hiện. Về dự chương trình ngoại khóa có đại diện Hội Cha mẹ học sinh cùng toàn thể cán bộ giáo viên và học sinh trong trường. Cô giáo Nguyễn Thị Duyên - Trưởng ban Nữ công lên giới thiệu lí do, ý nghĩa của giờ ngoại khóa. Tiếp theo là đại diện Hội Cha mẹ học sinh trường lên tặng hoa chúc mừng nhân ngày Quốc tế Phụ nữ mùng 8/3.

 Với chất giọng truyền cảm thầy Nguyễn Tiến Trì và thầy Vũ Mạnh Cương  giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong các tác phẩm Văn học ở THCS và trong Âm nhạc. Mang nét truyền thống về vẻ đẹp hình thức và vẻ đẹp tâm hồn hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử được khắc họa một cách trọn vẹn, sâu sắc. Đó là hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa qua số phận của Thị Kính,Vũ Nương, Thúy Kiều, Thúy Vân, …Đó là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến qua số phận của chị Dậu (Tắt đèn), là người mẹ của chú bé Hồng ( Những ngày thơ ấu)…Đặc biệt hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời chiến tranh hiện lên với vẻ đẹp truyền thống và hiện đại qua một số nhân vật người mẹ Tà- Ôi (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ), người bà (Bếp lửa), những cô gái thanh niên xung phong ( Những ngôi sao xa xôi)…Còn hình ảnh người phụ nữ Việt nam sau chiến tranhđược ngợi ca với vẻ đẹp hiện đại, năng động…Đan xen trong giờ ngoại khóa là một số bài hát nổi tiếng ca ngợi người phụ nữ Việt Nam: Cánh cò trong câu hát mẹ ru, Lời ru trên nương, Người mẹ của tôi. Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Cô gái mở đường…

Giờ ngoại khóa kết thúc với những ấn tượng tốt đẹp! Đây thực sự là món quà tặng đầy ý nghĩa của Nam công nhà trường trong ngày mùng 8/3.  

Câu trả lời:

Sơn là núi, La là suối. Sơn La có nghĩa là vùng đất bắt nguồn từ con suối trên núi. Cùng với thời gian, con suối ấy vẫn đang tuôn trào bao bọc 12 dân tộc anh em, tạo thành sức mạnh, tỏa sáng như viên ngọc giữa đất trời Tây Bắc.

Vùng đất Sơn La có vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết của rừng, của núi, của những dòng suối nước trong veo, của những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trong những cuộc hành trình về với Sơn La.

Đến Sơn La  để ngắm nhìn những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm, hang Trâu… và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

Hang Thẳm Ké (hang Trâu)  dài chừng 1km với 2 cửa hang thông ngang 2 sườn núi. Đây từng là kho chứa vũ khí lớn nhất mà chúng ta tìm được ở Tây Bắc sau khi thực dân Pháp thua trận ở Điện Biên. Hang bia Quế Lâm Ngự Chế - nơi ghi dấu bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440 với bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng. Dưới lòng hang rộng là rất nhiều thạch nhũ từ vòm hang buông xuống.

Thác nước Bản Vặt, một địa danh gắn liền với lịch sử cư trú rừ rất xa xưa của tộc người Thái ở vùng đất Mường Sang xưa, Mộc Châu ngày nay.Có thể nói đây là một cảnh quan sinh thái tuyệt đẹp được thiên nhiên ban tặng cho chủ nhân vùng đất này. Ngoài tên gọi dân dã trên, thác nước này còn có tên gọi khác như thác Nàng, thác Dải Yếm, nhằm ví vẻ đẹp của thác nước như xuân sắc của người con gái tuổi trăng tròn.

Đó là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo,  là một phần không thể thiếu của vùng rừng núi Tây Bắc Sơn La.

 

Câu trả lời:

Câu 1: Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc là những cuộc xung đột, chiến tranh, từ thời Cổ đại đến thời Hiện đại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây là các sự kiện nổi bật trong lịch sử Việt Nam.

Những xung đột đó được biết đến từ những truyền thuyết truyền miệng thời xa xưa, như truyền thuyết thời Hồng Bàng, quốc gia Văn Lang của Hùng Vương phải phòng vệ trước sự xâm lược của nhà Ân.

Nhà Tần sau khi thôn tính các quốc gia Trung Nguyên đã tiếp tục tràn xuống phía nam sông Trường Giang, xâm chiếm lãnh thổ các bộ lạc Bách Việt trong đó có Âu Lạc, Thục Phán đã lãnh đạo thành công cuộc chiến 10 năm bảo vệ lãnh thổ (218-208 TCN), nhưng sau đó bị mắc bẫy nên mất quyền cai trị đất nước vào tay nhà Triệu năm 179 TCN (hoặc 207 TCN). Từ đây vùng lãnh thổ độc lập của người Việt phải chịu tình trạng thuộc địa của các triều đại phương bắc Trung Quốc trong 10 thế kỷ (179 TCN- 905 hoặc 111 TCN - 905).[1] Các triều đại của Trung Quốc từng kiểm soát lãnh thổ thuộc Việt Nam ngày nay là Tây Hán (111 TCN-9),Tân (9-23), Đông Hán (23-220) (gián đoạn 40-43 khởi nghĩa Hai Bà Trưng), Đông Ngô (222-280), Tây Tấn (280-316), Đông Tấn (317-420), Lưu Tống (420-479), Nam Tề (479-502), Lương (502-557), Trần (557-589), Tùy (581-619), Đường(618-905).

Người Việt giành được độc lập tự chủ, kết thúc thời kì Bắc thuộc có thể từ năm 905 khi Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, hay năm 938 khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán. Người Việt giành được tự chủ cho mình, nhưng trong suốt hơn 1000 năm tiếp theo cho đến hiện tại xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia.

 

Câu trả lời:

                                                  TỪ HÁN VIỆT (TIẾP THEO)I. KIẾN THỨC CƠ BẢN1. Sử dụng từ Hán Việt để sắc thái biểu cảma) Thử thay những từ trong ngoặc đơn vào vị trí của những từ in đậm, so sánh và rút ra nhận xét sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa của chúng trong câu.(1) Phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. (đàn bà)(2) Cụ là nhà cách mạng lão thành. Sau khi cụ từ trần, nhân dân địa phương đã mai táng cụ trên một ngọn đồi. (chết, chôn)(3) Bác sĩ đang khám tử thi. (xác chết)Gợi ý: Các từ in đậm (từ Hán Việt) đồng nghĩa với các từ trong ngoặc đơn (từ thuần Việt). Nhưng giữa những từ này có sự khác biệt nhau về sắc thái biểu cảm. Dùng từ trong câu, không những phải dùng đúng nghĩa gốc mà còn phải phân biệt để từ đó lựa chọn giữa các từ khác nhau để không mắc lỗi về sắc thái biểu cảm. Sắc thái biểu cảm của từ phải phù hợp với sắc thái nghĩa của câu, trong mối kết hợp với các từ khác.Các từ Hán Việt Phụ nữ, từ trần, mai táng mang sắc thái biểu cảm trang trọng; tử thimang sắc thái tao nhã, phù hợp với nội dung biểu đạt của các câu trên.b) Trong đoạn văn sau, các từ Hán Việt in đậm mang sắc thái nghĩa gì?Yết Kiêu đến kinh đô Thăng Long, yết kiến vua Trần Nhân Tông.Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi một loại binh khí.Yết Kiêu: Tâu bệ hạthần chỉ xin một chiếc dùi sắt.

Nhà vua: Để làm gì?

Yết Kiêu: Để dùi thủng chiến thuyền của giặc, vì thần có thể lặn hàng giờ dưới nước.(Theo Chuyện hay sử cũ)Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa cũng như cách dùng các từ kinh đô, yết kiến, trẫm, bệ hạ, thần. Tên gọi Chuyện hay sử cũ gợi ra điều gì về sắc thái biểu cảm của các từ này? Các từ Hán Việt trong đoạn văn này có sắc thái cổ, có tác dụng tạo ra không khí cổ xưa, phù hợp với ngữ cảnh.2. Không nên lạm dụng từ Hán ViệtSo sánh cách diễn đạt của mỗi cặp câu sau:(1) Kì thi này con đạt loại giỏi. Con đề nghị mẹ thưởng cho con một phần thưởng xứng đáng!(1') Kì thi này con đạt loại giỏi, mẹ thưởng cho con một phần thưởng xứng đáng nhé!(2) Ngoài sân, nhi đồng đang vui đùa.(2') Ngoài sân, trẻ em đang vui đùa.Gợi ý: Trong ví dụ (1), (2), người viết đã lạm dụng từ Hán Việt. Trong các trường hợp này, sắc thái biểu cảm của từ Hán Việt không phù hợp, đối với những câu không có sắc thái nghĩa trang trọng nếu dùng từ Hán Việt sẽ gây cảm giác khiên cưỡng, cứng nhắc.II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG1. Chọn từ ngữ trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống sao cho phù hợp:a)                                      Công cha như núi Thái Sơn,Nghĩa ... như nước trong nguồn chảy ra.Nhà máy dệt kim Vinh mang tên Hoàng Thị Loan - ... Chủ tịch Hồ Chí Minh.(thân mẫu, mẹ)b) - Tham dự buổi chiêu đãi có ngài đại sứ và ...Thuận ... thuận chồng tát bể Đông cũng cạn.(vợ, phu nhân)c) - Con chim ... thì tiếng kêu thương,Con người ... thì lời nói phải.Lúc …ông cụ còn dặn con cháu phải thương yêu nhau.(lâm chung, sắp chết)d) - Mọi cán bộ đều phải thực hiện lời ... của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.Con cái cần phải nghe lời ... của cha mẹ.(giáo huấn, dạy bảo)Gợi ý: Các từ in đậm là từ Hán Việt, tra từ điển để nắm được nghĩa của từ này cũng như cách dùng chúng.2. Người Việt Nam thích dùng từ Hán Việt để đặt tên người, tên địa lí. Với hiểu biết về sắc thái biểu cảm của từ Hán Việt, em hãy giải thích hiện tượng này.Gợi ý: Dùng từ Hán Việt để đặt tên người, tên địa lí để tạo sắc thái trang trọng cho tên gọi.3. Trong đoạn văn sau đây, có những từ Hán Việt dùng để tạo sắc thái cổ xưa, em hãy tìm các từ ấy.Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải. Mấy lần Đà đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết rất nhiều, nên Đà đành cố thủ đợi cơ hội khác. Triệu Đà thấy dùng binh khí không lợi, bèn xin giảng hoà với An Dương Vương, và sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chú ý tìm cách phá chiếc nỏ thần.Trong những ngày đi lại để kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ gặp được Mị Châu, một thiếu nữ mày ngài mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần, con gái yêu của An Dương Vương.(Theo Vũ Ngọc Phan)Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa cũng như cách dùng những từ ngữ giảng hoà,cầu thânhoà hiếunhan sắc tuyệt trần,... Đây là những từ ngữ có tác dụng tạo không khí cổ xưa cho câu chuyện, phù hợp với bối cảnh của sự việc.4. Nhận xét về việc dùng các từ Hán Việt in đậm trong những câu sau:Em đi xa nhớ bảo vệ sức khỏe nhé!Đồ vật làm bằng gỗ tốt thì sử dụng được lâu dài. Còn những đồ làm bằng gỗ xấu dù làm rất cầu kì, mĩ lệ thì cũng chỉ dùng được trong một thời gian ngắn.Dùng các từ thuần Việt để thay thế các từ Hán Việt trên cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp bình thường.Gợi ý: Tra từ điển để nắm được sắc thái nghĩa cũng như cách dùng các từ bảo vệmĩ lệ. Nên thay thế bằng các từ giữ gìnđẹp đẽ.