Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Tĩnh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 41
Số lượng câu trả lời 1082
Điểm GP 91
Điểm SP 1163

Người theo dõi (200)

74^m ku73
Vũ Quốc Phong
Nhím Ngốc
Thảo Vy

Đang theo dõi (8)

Đàm Ngọc Linh
meo xinh (muvik)
Chu Diệu Linh
Park Chanyeol
EXO
EXO

Câu trả lời:

Đã bấy lâu nay bác đến nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta.

Thơ Nguyễn Khuyến chẳng có mấy bài vui bởi tâm trạng ông mang nặng nỗi buồn trước tình cảnh đất nước đau thương, trước thói đời éo le, bạc bẽo. Nhất là từ khi cáo quan về sống ẩn dật ở quê nhà thì nỗi buồn ấy trong thơ ông càng sâu, càng đậm. Tuy nhiên, bàiBạn đến chơi nhà lại là nốt vui bất chợt làm bừng sáng cái thông minh, dí dỏm vốn có trong tính cách cụ Tam Nguyên.
Ẩn chứa trong bài thơ là một tình bạn già khăng khít, keo sơn, vượt qua mọi ràng buộc của những lễ nghi tầm thường. Cái nghèo vật chất không lấn át được tình cảm ấm áp, chân thành.

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng không theo cấu trúc 4 phần (đề, thực, luận, kết ), mỗi phần hai câu như thường thấy. Ở bài này, Nguyễn Khuyến chỉ sử dụng có một câu làm câu đề, câu thứ hai đã chuyển sang phần thực. Giữa phần thực và phần luận lại không có ranh giới rõ rệt. Hai câu 7 và 8 thì câu 7 gắn với phần luận, chỉ có câu 8 là phần kết. Sự phá cách này tạo nên nét độc đáo trong cấu trúc bài thơ, đồng thời

chứng tỏ khả năng sáng tạo của nhà thơ:
Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Câu mở đề giản dị, tự nhiên như lời chào hỏi chân tình của hai người bạn thân lâu lắm mới gặp lại nhau. Tuổi già là tuổi người ta thường cảm thấy cô đơn nên khao khát có bạn để chuyện trò, giãi bày tâm sự. Chính vì thế nên khi được bạn đến thăm, nhà thơ thực sự vui mừng. Ông gọi bạn bằng bác. Cách gọi dân dã, thân tình song cũng rất nể trọng, thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa chủ và khách. Câu thơ giống như lời chào quen thuộc hằng ngày ấy sẽ là tiền đề cho sự giãi bày tiếp sau đó: Đã lâu rồi, nay mới có dịp bác quá bộ tới chơi nhà, thật là quý hoá! Vậy mà...Thôi thì cứ tình thực mà nói, mong bác thông cảm vui lòng đại xá cho!

Sau khi Nguyễn Khuyến rũ áo từ quan, về ở chốn quê nghèo Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa mà vẫn có bạn cũ tìm tới thăm thì hẳn người ấy phải là tri kỉ ; bởi thói đời giàu thời tìm đến, khó thời lui. Xúc động thật sự, nhà thơ nhân đó lấy cái giàu có, quý giá của tình bạn để khoả lấp cái nghèo nàn vật chất trong cuộc sống của mình.

Theo phép xã giao, khi khách đến chơi, trước hết chủ nhà phải có nước có trầu tiếp khách. Bạn thân ở nơi xa tới, lâu ngày mới gặp thì nhất thiết phải mời cơm, mời rượu. Ở chốn phố phường còn có quán xá chứ ở vùng quê Nguyễn Khuyến thì kiếm đâu ra? Cái hay của bài thơ bắt đầu từ ý này: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Nhà thơ phân trần với khách về sự tiếp đãi không thể chu đáo của mình. Vừa mới tay bắt mặt mừng mà lại giãi bày với ý : “Nhà vắng người sai bảo, chợ ở xa, tôi thì già yếu không đi được”, liệu có làm mất lòng nhau ? Nhưng bạn già chắc sẽ thông cảm vì lí do chủ nhà đưa ra nghe chừng đúng cả. Mọi thứ ở nhà tuy sẵn có nhưng ngặt nỗi :
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Hiểu theo bề nổi của chữ nghĩa, nhà thơ muốn thanh minh với bạn : Cá thì nhiều đấy, nhưng ao sâu nước cả. Gà không thiếu nhưng vườn rộng rào thưa. Cải, cà, bầu, mướp thì đều chửa ra cây, còn mới nụ, vừa rụng rốn, đương hoa. Nghĩa là toàn ở độ dở dang, sắp sửa, chưa dùng được. Vậy là bữa cơm đãi khách với đầy đủ cá thịt hay đạm bạc rau dưa đều không thể có. Thôi thì ta nói chuyện với nhau bằng điếu thuốc, chén nước, miếng trầu vậy. Nhưng giở đến trầu thì đã hết tự bao giờ : Đầu trò tiếp khách trầu không có, mà xưa nay miếng trầu là đầu câu chuyện. Người đọc như hình dung ra rõ ràng cái sự loay hoay, lúng túng thật dễ thương của vị đại quan xưa, nay đã thành ông già dân dã chốn quê mùa.

Nhưng xét kĩ thì chủ nhà không nghèo, ngược lại, ông là người giàu có. Câu thơ toàn nói đến cái không nhưng lại hàm chứa cái có. Cái nghèo vật chất trong hiện tại được thi vị hoá như là sự giàu có trong tương lai. Có thể những thứ cá, gà, cải, cà, bầu, mướp đều chẳng thiếu và nhà thơ đã tiếp đãi bạn rất chu tất, còn nội dung bài thơ chỉ là cách giới thiệu độc đáo của cụ Tam Nguyên với bạn về cuộc sống thanh đạm của mình sau khi từ quan chăng ?!

Cách nói của nhà thơ là cố làm ra vẻ giàu có, dư dả nhưng thực ra ông rất nghèo và cái nghèo ấy dễ gì che giấu được ! Bạn biết ta nghèo, lại ở một nơi xa xôi hẻo lánh mà vẫn tìm đến thăm ta, điều đó còn gì quý giá bằng ! Tuy vậy, ẩn trong lời nói khiêm nhường của Nguyễn Khuyến là sự tự hào về cảnh sống thanh bần của mình. Ta tuy nghèo thật nhưng dễ gì giàu sang đổi được cái nghèo ấy! Trong đoạn thơ trên thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh, thâm thuý của bậc đại Nho.

Bác đến chơi đây ta với ta là một câu kết hay, là linh hồn của bài thơ. Ta với ta nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng ; kẻ tri âm đến với người tri kỉ. Vậy thì tất cả những lễ nghi kia đều là tầm thường, vô nghĩa. Chủ và khách có chung một tình cảm thắm thiết thanh cao, đó là cái quý giá không vật chất nào sánh được. Ba tiếng ta với ta gợi cảm xúc mừng vui, thân mật. Bạn bè xa cách đã lâu, nay vượt đường xa dặm thẳm, vượt cái yếu đuối của tuổi già để đến thăm nhau thì thật là quý hoá ! 
Đáng quý hơn nữa là bác với tôi, ta cùng lánh đục tìm trong, lui về vui thú điền viên để giữ trọn hai chữ thiên lương. Sự gần gũi, tương đắc về mặt tâm hồn đã gắn bó chủ với khách làm một. Những điều câu nệ, khách khí đã bị xoá nhoà. Chỉ còn lại niềm vui và sự chân thành bao trùm tất cả. Tình bạn ấy đã vượt lên trên những nghi thức tiếp đãi bình thường. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy mà để được gặp nhau, được hàn huyên tâm sự cho thoả nỗi khao khát nhớ mong.

Câu thơ đã thể hiện cách sử dụng từ ngữ tài tình của Nguyễn Khuyến. Đáng chú ý nhất là cụm từ ta với ta. Đại từ ta trong tiếng Việt vừa chỉ số ít, vừa chỉ số nhiều. Nguyễn Khuyến dùng cả hai nghĩa : ta với ta tuy hai nhưng là một. Từ với gắn hai từ ta lại. Bạn và nhà thơ ngồi bên nhau thủ thỉ tâm tình, hai người hoà thành một. Quả là không gì có thể đánh đổi được tình bạn thuỷ chung giữa hai ta.

Bài thơ Bạn đến chơi nhà là tấm lòng của nhà thơ và cũng là bức tranh phong cảnh nông thôn bình dị, tràn đầy sức sống. Khu vườn với luống cà, giàn mướp ; mặt ao lăn tăn sóng gợn, tiếng gà xao xác trưa hè... là hiện thân của mảnh hồn quê mộc mạc, đậm đà, sâu lắng. Màu xanh trong của nước ao, màu xanh mơn mởn của vồng cải, màu tím hoa cà, màu vàng tươi hoa mướp... loại nào cũng đang độ tươi non, làm vui mắt và ấm lòng người. Những sự vật tưởng như tầm thường ấy thực ra có sức an ủi rất lớn đối với một tâm hồn mang nặng nỗi đau đời của nhà thơ. Được đón bạn đến chơi nhà trong khung cảnh rạo rực đầy sức sống ấy, chắc hẳn niềm vui của cụ Tam Nguyên cũng tăng lên gấp bội.

Bài thơ nói về một tình bạn trong sáng, đẹp đẽ. Giọng thơ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân quê mùa, chất phác, ấy vậy nhưng nó vẫn bộc lộ rõ nét tài hoa của ngòi bút Nguyễn Khuyến trong nghệ thuật tả cảnh, tả tình. Cảnh, tình đan xen, hoà hợp, bổ sung cho nhau để tạo nên một bức tranh quê trong sáng, tươi mát và ấm áp tình người.

Câu trả lời:

Tuần vừa qua vào ngày 15 tháng 10 năm 2016 liên đội trường THCS Phan Huy Chú đã tiến hành đại hội toàn liên đội với chủ đề :

Măng non đất nước

Tiếp bước cha anh

Làm nghìn việc tốt

Xứng cháu Bác Hồ

Buổi lế diễn ra rất long trọng và ý nghĩa. Đến dự với đại hội có thầy giáo Trần Đức Luyến Bí thư chi bộ - Hiệu trưởng nhà trường, có chị Đỗ Thị Liên  bí thư Thành Đoàn cùng các thầy cô giáo trong BGH, đông đảo các anh chị phụ trách và 999 bạn đội viên trong toàn liên đội.

Các bạn biết không sau phần lễ chào cờ là đến phút tưởng niệm Bác Hồ và màn truyền thống Đội . Trong buổi lễ có rất nhiều hoạt cảnh  tái hiện lại những tấm gương anh dũng hi sinh còn ở độ tuổi rất trẻ lứa tuổi đội viên và thanh niên như chúng em bây giờ đó là hình ảnh anh Kim Đồng làm liên lạc, chị Võ Thị Sáu, anh Lê Văn Tám, Vừ A Dính,  Nguyễn Bá Ngọc  lấy thân mình lấp lỗ châu mai. xong ấn tượng nhất với em là giai điệu lời bài hát “ Ông tiên ” cùng với điệu múa đài sen dâng Bác em như thấy mình đang được nhìn thấy Bác – thấy Ông tiên từ trên trời xuống căn dặn chúng em phải chăm ngoan học giỏi, xúc động biết bao dù em đã được  dự rất  nhiều buổi lễ đại hội liên Đội trong đó có màn truyền thống của Đội nhưng  ấn tượng nhất với em là buổi lễ đại hội diễn ra ngày hôm nay dưới mái trường THCS Yên Biên này.

 

Màn truyền thống Đội đã khắc sâu trong tâm hồn em cũng như bao đội viên niềm tự hào về tổ chức Đội. Đó còn là lời dạy, lời  động viên khích lệ chúng em tinh thần yêu nước và phát huy truyền thống tốt đẹp của Đội gắn với phong trào học tập là các hoạt động nhân đạo từ thiện, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao tô thắm thêm trang sử hào hùng của Đội.

Không gì tự hào hơn khi chúng em đang được tiếp bước gương những người anh hùng  nhỏ tuổi em hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, giành nhiều hoa điểm mười để dâng tặng các thầy các cô, dâng tặng các anh, các chị đã tiếp thêm sức mạnh cùng nhiều niềm tin cho chúng em.

Kết thúc đại hội liên đội,  với nét mặt hân hoan của các bạn đội viên toàn liên đội đồng lòng quyết tâm thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ và chỉ tiêu mà đại hội đề ra, giữ vững thành tích mà liên đội đạt được và luôn là liên đội dẫn đầu về công tác Đội và phong trào thiếu nhi của Thành phố cũng như của Tỉnh Hà Tĩnh.

 

Câu trả lời:

Trong không gian và thời gian của lễ hội, những giá trị văn hóa của cộng đồng được nuôi dưỡng, tái tạo, hồi sinh và trao truyền cho các thế hệ. Nó được gìn giữ và phát huy trong đời sống của người dân. Đó là các hình thức diễn xướng dân gian thông qua các điệu múa, kể khan, nghệ thuật đánh cồng chiêng, văn hóa ẩm thực... Đối với các tộc người Tây Nguyên, cồng chiêng là loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc sinh ra cho đến khi trở về với đất trời. Cồng chiêng được trình diễn trong các lễ hội, cuộc vui của buôn làng… Tiếng cồng chiêng là phương tiện để cho các tộc người giao tiếp với những vị thần linh. Nghệ thuật đánh cồng chiêng vừa đa dạng và mang phong cách riêng của từng tộc người được tái hiện trong những buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng. “Cồng chiêng Êđê chỉ diễn tấu trong ngôi nhà dài, khu mộ địa, trên rẫy; cồng chiêng Mơ Nông diễn tấu trong ngôi nhà trệt, ngoài sân, trên đường lên nương rẫy; người Gia rai đánh cồng chiêng trước ngôi nhà rông theo điệu xoang (múa) và khu mộ địa”(7). Đến với Tây Nguyên là đến với mảnh đất có nhiều kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà rông, nhà dàn dài. Ngôi nhà rông mang dáng vẻ hoành tráng, đường bệ và thướt tha, mềm mại. Đây là nơi diễn ra lễ cúng thần linh, sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng. Người Ê đê gọi ngôi nhà dài là sang Ê đê. Ngôi nhà sàn Ê đê được chia thành gian trong (ôk) và gian ngoài (gah). Phần ôk là không gian sinh hoạt của gia đình, còn phần gahlà nơi tiếp khách, uống rượu, sinh hoạt văn nghệ, tiến hành các nghi lễ. Ngôi nhà sàn dài Ê đê nhìn từ xa tựa như con thuyền… Nhà sàn dài là nơi cu trú của đại gia đình mẫu hệ Ê đê”. Tây Nguyên từ lâu đã được biết đến là vùng đất của sử thi. Sử thi là kho tàng văn hóa dân gian độc đáo của các tộc người Tây Nguyên. Hiện nay, thông qua các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, người dân đã bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của sử thi.

Câu trả lời:

Ngoài những nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ giá trị vật chất, các tộc người Tây Nguyên còn có nhu cầu về tâm linh, được thể hiện thông qua các lễ cúng. Ví như lễ cúng thần suối của người Mạ; thần đập nước, thần lúa của người Chu ru; lễ cúng đất của người Ba na ở Kon Tum và Gia Lai. Nghi lễ cúng đất của người Ba na được tổ chức vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch để chuẩn bị cho mùa canh tác nương rẫy mới, thường kéo dài trong hai ngày. Họ cầu xin các vị thần linh phù hộ cho công việc canh tác nương rẫy được thuận lợi, cuộc sống được an bình. Lễ mừng cơm mới của đồng bào Ba na ở hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai được tổ chức tại nhà riêng hoặc nhà rông sau vụ thu hoạch. Nghi lễ được tổ chức để tạ ơn thần lúa và là lễ hội mừng mùa thu hoạch mới, cầu mong cho ruộng nương ngày càng nhiều thóc. Lễ vật dâng cúng thường là lợn hoặc gà. Lễ ăn trâu là lễ hội dân gian phổ biến và tiêu biểu nhất của các tộc người Tây Nguyên. Lễ hội thường được tổ chức tại nhà rông. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, con trâu là vật hiến tế thần giàng. Sau các nghi thức cầu thần linh chứng giám lòng thành và nhận lễ vật, con trâu được mang ra cột giữa sân, trẻ con, trai gái, người già cùng nhau nhảy múa trong âm vang của cồng chiêng. Một đội gồm những thanh niên trai tráng trên tay cầm giáo mác tiến hành nghi thức đâm trâu. Sau đó con trâu được đồng bào mổ ăn mừng. Lễ ăn trâu thường được tổ chức từ 2 đến 3 ngày vào những dịp đặc biệt của buôn làng hay của mỗi gia đình. Trong quan niệm của các tộc người ở Tây Nguyên mọi vật xung quanh con người từ các vật dụng như chiêng, ché, ghế ngồi, đến cây cỏ, sông suối, đồi núi, con vật…đều có yang (hồn, thần). Có yang tốt, yang xấu, phù hộ hay làm hại con người. Từ quan niệm vạn vật có yang đã tạo ra nhiều lớp bao quanh con người những hồn ma, khiến họ luôn lo sợ trước các lực lượng siêu nhiên.

Câu trả lời:

 Là một hiện tượng văn hóa dân gian có sức sống trường tồn trong đời sống các tộc người Tây Nguyên, lễ hội đã trở thành môi trường văn hóa quan trọng tạo nên sự cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra vai trò và sức mạnh của khối đoàn kết các tộc người từ những buổi đầu khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số khu vực miền Nam (6-1946) và Hội nghị các dân tộc thiểu số toàn quốc (12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xơ đăng hay Ba na và dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải yêu thương nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ quyền tự do, độc lập của chúng ta”