Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Lưu học sinh đang ở nước ngoài , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 53
Số lượng câu trả lời 4064
Điểm GP 628
Điểm SP 5457

Người theo dõi (1116)

Lan Nguyen
prolaze
Lành

Đang theo dõi (9)


Câu trả lời:

Bạn tham khảo bài này:

Đã từ lâu, an toàn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Những năm gần đây, số tai nạn giao thông xả ra ở nước ta ngày càng nhiều. Số người chết vì tai nạn giao thông theo từng giờ, từng ngày đã lên đến mức báo động. Vậy chúng ta, nhất là những người trẻ, có suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần làm giảm thiểu tai nạn giao thông?

Trước hết, ta cần hiểu tai nạn giao thông là như thế nào? Khi tham gia giao thông trên đường, bất ngờ ta bị tai nạn do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Nhẹ thì chỉ thiệt hại về tài sản, nặng thì để lại thương tật suốt đời hoặc thậm chí là mất cả tính mạng, để lại biết bao đau thương, tiếc nuối cho những người thân. Từ khi con người sáng chế ra những phuơng tiện để di chuyển thì cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện tai nạn giao thông, dù là ở nhiều hình thức khác nhau. Có thể nói, cứ mười lần bước ra đường phố thì đã nhìn thấy hết bảy lần xảy ra tai nạn giao thông. Vậy tại sao lại có được một con số thật khó tưởng tượng, vì đâu mà tai nạn giao thông lại xảy ra một cách quá phổ biến? Có nhiều lý do để giải thích, như đã nói ở trên là do khách quan và chủ quan mà nguyên nhân chủ quan lại chiếm đa số.

Nguyên nhân đầu tiên là do sự thiếu hiểu biết. Số đông dân chúng còn có quan niệm răng tai nạn nói chung và tai nạn giao thông nói riêng là do số mệnh con người quyết định. Họ không thấy rằng phần lớn tai nạn giao thông là có thể phòng tránh được. Thứ hai là có hiểu biết về luật giao thông nhưng do ý thức kém nên đã không chấp hành: uống rượu bia vượt quá nồng độ cho phép khi lái xe, không đội mũ bảo hiểm ở phần đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm, chở trên ba người phóng nhanh vượt ẩu… Đây cũng là nguyên nhân phổ biến nhất, làm đau đầu các nhà quản lí. Một phần nữa vì không có biện pháp kiểm soát, bắt nóng ngay khi phạm luật nên mọi người cứ vô tư phạm luật khi không thấy có cảnh sát giao thông. Xét về nguyên nhân khách quan, cơ sở hạ tầng của rất nhiều tuyến đường kém chất lượng do sự tắc trách của các cơ quan xây dựng, ăn hối lộ, rút xén vật liệu….đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người tham gia giao thông.

Tất cả những nguyên nhân gây ra tai nạn đều bắt nguồn từ ý thức của người dân. Nếu như họ biết quý bản thân mình, biết tuân thủ luật lệ giao thông, biết nghĩ đến sự an toàn cho người lưu thông thì sẽ chẳng có những điều thương tâm và đáng tiếc. Hồi chuông cảnh báo luôn rung lên, nhắc nhở mọi người hãy biết chấp hành giao thông, vì sự an toàn của bản thân và xã hội. Để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông thì mọi người đều phải chấp hành nghiêm luật giao thông , đi đúng tốc độ ,đúng phần đường ,không điều khiển xe khi đã uống rượu bia ,đi trên đường không nên ganh đua với người khác. Đặt biển báo giới hạn tốc độ, làm gờ giảm tốc, đèn hiệu giao thông, vạch dành cho người đi bộ ở khu vực có đông trẻ em. Phía nhà trường cần đa dạng hoá các sinh hoạt ngoại khoá của học sinh, sinh viên, trong đó có các hoạt động về tuyên truyền, phổ biến pháp luật giao thông. Tích cực phát huy tính kỷ luật nghiêm khắc của một nơi gọi là môi trường giáo dục học sinh, có như thế thì sẽ hạn chế tối đa tình trạng vi phạm luật an toàn giao thông của học sinh.

Riêng về phần học sinh chúng ta, ngay bây giờ,khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hãy tích cực tham gia các hoạt động thiết thực do Đoàn trường tổ chức để tuyên truyền luật giao thông cho mọi người và gia đình, chấp hành nghiêm luật giao thông, đội mũ khi đi xe gắn máy. Không phải thực hiện theo cách đối phó mà hãy thực hiện vì chính sự an toàn của bản thân mình. Bản thân tôi cũng sẽ có gắng chấp hành luật giao thông thất tốt, góp một phần nhỏ nào đó làm giảm thiểu tai nạn giao thông, đem lại an toàn cho chính bản thân và những người xung quanh.

Tóm lại, tai nạn giao thông là một vấn đề bức bách cần giải quyết. Vấn đề này cần sự ý thức trách nhiệm và hành động cụ thể của từng cá nhân trong xã hội này. Hy vọng là một ngày gần đây, tình trạng tai nạn giao thông sẽ giảm thiểu tối đa, đem lại nhiều niềm vui cho những ai tham gia giao thông.

Câu trả lời:

1/Châu Phi có mấy khu vực?

Châu Phi có ba khu vực : Bắc Phi , Trung Phi và Nam Phi

2/Em hãy nêu những môi trường có ở châu Phi.

- Môi trường xích đạo ẩm

- Môi trường nhiệt đới

- Môi trường hoang mạc

- Môi trường Địa trung hải

3/Đường bờ biển châu Phi có đặc điểm như thế nào?Em hãy nêu ý nghĩa của đặc điểm tự nhiên ấy.

- Đường bờ biển châu Phi ít khúc khuỷu, không có nhiều bán đảo, vịnh và biển ven bờ. Vì thế, khoảng cách từ trung tâm Bắc Phi đến bờ biển lớn, ảnh hưởng của biển không thể vào sâu trong lục địa khu vực Bắc Phi.

- Khoảng cách từ Nam Phi đến bờ biển nhỏ hơn khoảng cách từ trung tâm Bắc Phi đến bờ biển, nên ảnh hưởng của biển có thể vào sâu trong lục địa Nam Phi.

Chính vì thế, mặc dù Nam Phi có đường chí tuyến Nam đi qua, nhưng ảnh hưởng biển rõ hơn Bắc Phi. Khí hậu Nam Phi ẩm hơn khí hậu Bắc Phi.

4/Tại sao châu Phi có nhiều hoang mạc và sa mạc lớn?Em hãy nêu 2 hoang mạc lớn ở châu Phi.

Ở Châu Phi diễn ra hiện tượng sa mạc hóa nhiều do nhiều nguyên nhân:
+ Vì việc khai thác rừng bừa bãi quá mức của con người ở nơi này mà không chịu tái tạo lại rừng dẫn đến việc sa mạc hóa nhanh
+ Vì việc trồng trọt quá lạc hậu : Đốt rừng để trồng trọt , chỗ này trồng xong chuyển sang nơi khác vì đất đó đã bạc màu , khô .
+ Vì nơi này còn tiếp xúc hai vùng biển lạnh chạy sát vào đất liền mang không khí khô , ít mưa

- Hai hoang mạc lớn :

Hoang mạc Kalahari – sa mạc bao trùm lên phần lớn diện tích của Botswana và các bộ phận của Namibia và Nam Phi Hoang mạc Karoo - sa mạc bao gồm các bộ phận phía nam Nam Phi.

5/Bề mặt châu Phi có đặc điểm như thế nào?Giải thích.

Toàn bộ bề mặt là một khối cao nguyên khổng lổ độ cao trung bình 750m

Do : thời tiết và khí hậu

Câu trả lời:

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam. Học tập Bác nếu chỉ dừng ở việc học những lời dạy của Bác thôi thì chưa đủ. Bên cạnh những bài viết, bài nói thể hiện tư tưởng, đường lối cách mạng, thì chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác là minh chứng sinh động nhất, dễ thuyết phục nhất. Vì như Người đã viết: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có đủ tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” .
Học tập Bác, trước hết chúng ta học tập đạo đức trong sáng, suốt đời phấn đấu vì nhân dân của Bác. Bác luôn coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Cái lớn nhất trong đạo đức của Bác là hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Cả cuộc đời Bác chỉ có một ham muốn tột bậc là “... làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” .
Học tập Bác chúng ta học phong cách lãnh đạo, phương pháp làm việc, học cách xử thế, ứng xử với bạn bè, đồng chí, với người thân, với cán bộ, với nhân dân... Có những chi tiết về cuộc sống đời thường của một vị chủ tịch nước chúng ta cũng nên biết để hiểu về Bác đầy đủ hơn. Ở mỗi con người nếu không biết yêu quý, hiếu thảo với cha mẹ, anh em mình thì làm sao có tình thương yêu và sự cảm thông đối với nhân loại. Bác đã cống hiến cả đời cho cách mạng, tới lúc đi xa chỉ tiếc một điều là không được phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa. Trong trái tim bao la của Người, chúng ta hiểu, vẫn có góc riêng dành cho gia đình, quê hương. Bác đã từng nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất”. Những năm tháng lênh đênh trên con tàu vượt đại dương đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Người vẫn không quên người cha - ông Nguyễn Sinh Sắc ở quê nhà. Từ nước ngoài Người đã có 3 lần gửi thư về thăm tin tức của cha. Những tháng lương đầu tiên từ nghề phụ bếp trên tàu, Người gửi về biếu cha . Những kỷ niệm buồn khi ở Huế, mẹ Bác – bà Hoàng Thị Loan mất trong lúc cha vắng nhà, người em Nguyễn Sinh Xin khát sữa khóc đòi đã in đậm trong trái tim Bác, để sau này có lúc nghe tiếng trẻ khóc, Người lại giật mình nhớ tới tiếng khóc của người em năm xưa. Tháng 9 năm 1950, nghe tin người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm mất, do hoàn cảnh kháng chiến không thể về chịu tang anh được, Bác đã viết một bức điện chia buồn gửi dòng họ Nguyễn Sinh (9/11/1950): “... xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”. Bức ảnh ấm mộ cha mà các đồng chí giúp việc tìm thấy trên giá sách của Bác, sau khi Người đi xa; bức điện báo tin người chị gái Nguyễn Thị Thanh qua đời ở quê nhà mà Bác không kịp về chịu tang và cũng không kịp gửi cả điện chia buồn đã làm Người day dứt. Những tình cảm ấy của Bác chắc chỉ những người rất gần Bác mới có thể biết được.
Vì công việc cách mạng Bác chưa kịp có một gia đình riêng thì tuổi đã già, nhưng không phải Người không quan tâm đến vấn đề này. Trong một buổi tối rét lạnh ở núi rừng Việt Bắc, bên đống lửa hồng, Người trầm ngâm suy nghĩ rồi tâm sự với các cộng sự của mình: “Mình cũng chẳng phải thần thánh gì, cũng như tất cả mọi người, nhưng với hoàn cảnh này còn điều kiện nào nghĩ tới gia đình... nhưng thôi, gia đình nhỏ chưa thể được, thì ta lo cho gia đình lớn đi vậy”. Bác phát biểu điều này khi vừa ủng hộ tác thành cho một đôi anh chị trong chính phủ. Dù không có gia đình, nhưng Bác lại là người rất tâm lý, dễ cảm thông. Ông Hoàng Đạo Thúy, một người đã có những năm tháng được làm việc gần Bác kể lại, có những buổi chiều ở chiến khu Việt Bắc, bà Trường Chinh đưa các con đến thăm Bác. Khi các cháu theo mẹ ra về, Bác rất buồn, đôi mắt rưng rưng lệ. Có đồng chí cán bộ nhìn thấy, Bác cười buồn và nói rằng cái nghiệp của mình nó thế. Thế nhưng Người nói thu xếp nhà cho cán bộ gần cơ quan. Bác sĩ Chánh, người đã có nhiều năm phục vụ Bác xúc động kể lại, có lần Bác đã cử ông đến công tác gần nơi bà Liên, vợ ông làm việc, với thiện ý để bác sĩ có dịp ghé thăm vợ. Nhưng bác sĩ Chánh lại là người rất nghiêm túc. Xong việc ông về luôn. Khi trở về Bác hỏi: chú ghé thăm cô ấy có khỏe không? Khi biết ông không vào thăm vợ, Bác phê bình luôn: “Chú làm như thế không được, đã tới đó mà không ghé thăm cô ấy, động viên, thăm hỏi để cô ấy yên tâm, phấn khởi công tác” lại một điều bất ngờ đối với ông, phục vụ Bác nhiều năm mà ông chưa hiểu Bác, một người rất chu đáo, nặng nghĩa tình”.
Dẫn ra một số những câu chuyện trên để chúng ta hiểu thêm về Bác. Bác chăm lo những việc lớn của đất nước, song những việc nhỏ Người cũng không quên. Đó là nét đẹp đời thường của một vị Chủ tịch nước. Đó là những điều chúng ta nên học bên cạnh học những điều lớn lao mà Bác đã dạy chúng ta. Có ai đó chưa hiểu hết về Bác, viết và nói chưa đúng về Bác là không nên. Có những bài viết đi sâu tìm hiểu về đời sống riêng tư của Bác nhưng lại sử dụng nguồn tư liệu chưa đáng tin cậy là một điều đáng tiếc.
Về cuộc sống tình cảm riêng của mình, chính Bác đã nói với những cộng sự thân nhất của mình. Một trong số những cộng sự thân nhất của Bác là đồng chí Phạm Văn Đồng. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết: “Sau cách mạng Tháng tám, trong kháng chiến chống Pháp, nhiều đồng chí, đồng bào, với lòng yêu thương săn sóc vị lãnh đạo của mình, đã nhiều lần suy tính để Hồ Chí Minh có người bạn trăm năm. Bác không từ chối việc bình thường và cần thiết tự nhiên ấy trong cuộc sống của một con người”. Nhưng rồi việc không thành, đó là một điều ân hận đối với đồng chí đó. Và rồi ông tự an ủi rằng: “Trong cuộc đời bất cứ ai, cũng có những việc không thành như vậy”.
Khi nói học tập đạo đức trong sáng của Bác, chúng ta học đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, học đức giản dị khiêm tốn của Người. Cuộc sống của Người giản dị, thanh bạch. Một ngôi nhà sàn nho nhỏ ẩn giữa lùm cây, bên ao cá. Những bữa cơm đơn giản, thanh đạm, bên cạnh vài người giúp việc. Đó là cuộc sống thanh tao, lịch lãm, văn hóa. Nhưng đó không phải là cuộc sống khắc khổ, theo kiểu tu hành. Một cuộc sống giản dị nhưng tâm hồn lại vô cùng phong phú, bao la nhân ái. Những tấm ảnh về cuộc sống đời thường trong quãng thời gian 15 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch được phát hành rộng rãi cũng minh chứng cho những điều này. Đó là những hình ảnh Bác ngồi làm việc giữa giàn hoa Phủ Chủ tịch; Bác đang quây quần giữa các cháu thiếu nhi ngày 1- 6; Bác đang cuốc đất tăng gia cùng cán bộ nhân viên trong cơ quan; Bác ngồi cho cá ăn bên bờ ao; Bác cầm bình tưới cây vú sữa đồng bào miền Nam gửi tặng Người... Đứng ở cương vị cao nhất của Đảng, của đất nước nhưng Bác đến với mọi người một cách rất bình dị, tự nhiên, không nghi thức, màu mè: gặp gỡ nông dân đang cấy thì Người cũng bỏ dép, xắn quần, lội xuống ruộng hoặc nắm chắc tay gàu sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng, lúng túng, đi thăm tàu hải quân thì Người cũng cầm lái như một thuỷ thủ, Người còn bế em nhỏ hoặc ngồi bón cơm cho trẻ như bất kỳ một người bình thường nào ta gặp… Và chính tác phong quần chúng bình dị ấy như có sức hút kỳ lạ, làm cho quần chúng đến với Người không chút e ngại, làm cho lãnh tụ và quần chúng dễ dàng đến với nhau, hiểu nhau, đồng cảm với nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tiết kiệm và luôn kêu gọi mọi người phải biết tiết kiệm, nhưng Người cũng nói rõ: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Nhưng thế mới đúng là tiết kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là tiết kiệm”. Người cũng khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”. Bác yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện để có được tác phong sinh hoạt giản dị, lành mạnh, trong sạch. Những tư tưởng, đạo đức cách mạng cao đẹp phải biến thành những thói quen trong cuộc sống của mỗi người. Con người ta ai cũng có ham muốn, nhưng theo Bác, phải hướng những ham muốn vào việc phấn đấu thực hiện những mục tiêu, lý tưởng của cách mạng. Bác dạy: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức”. Khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm đã trở thành đạo đức truyền thống mà toàn Đảng, toàn dân ta luôn phải học tập và làm theo.
Học tập Bác, chúng ta học tinh thần học tập, phấn đấu kiên trì, không mệt mỏi, quyết tâm thực hiện cho bằng được mục đích của mình. Khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, Bác bắt đầu một cuộc sống vất vả, khó khăn. Người kiên trì học tập, trau dồi kiến thức và quan sát. Từ lúc làm phụ bếp trên tàu, Bác đã phải học ngoại ngữ bằng nhiều cách, trong đó có cả sáng kiến viết chữ lên cánh tay để vừa làm vừa có thể học. Sau này, kể cả khi Người đã trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn tranh thủ mọi lúc mọi nơi để học. Đồng chí Vũ Kỳ thư ký riêng của Người cũng kể lại, trước mỗi chuyến đi công tác nước ngoài, đến những nước mà Người không biết tiếng nước đó, bao giờ Người cũng phải học lấy mấy câu chào hỏi và nói rất chuẩn. Nên đến nơi, Người xóa ngay khoảng cách giữa khách và chủ nhà .
Bác đã dạy cán bộ: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy không đúng. 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời”. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng” . Cả cuộc đời Bác là sự vận dụng sáng tạo những điều đã học vào thực tiễn cách mạng. Với một kho tri thức cộng với những kinh nghiệm tích lũy được mà Bác đã có những dự đoán chính xác và đưa ra những quyết định sáng suốt trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình kiên trì học hỏi, phân tích, đúc kết, chứ không phải Người sinh ra đã là một ông thánh như một số người đã nói và viết.
Bác là một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, nhưng đồng thời là một nghệ sĩ, một họa sĩ, một nhà thơ. Cả cuộc đời Người theo đuổi những hoài bão lớn: Độc lập cho dân tộc, tự do cơm áo cho đồng bào, nhưng cuộc sống của Người lại giản dị, yêu thương con người, yêu thiên nhiên và sống lạc quan. Cuộc đời hoạt động của Bác trải qua nhiều biến cố thăng trầm cùng với những bước thăng trầm của cách mạng Việt Nam. 79 mùa xuân của Bác là một bản anh hùng ca bất diệt. Vĩ đại là thế nhưng Người thật gần gũi với mỗi chúng ta. Chúng ta luôn hình dung được đôi mắt sáng, nụ cười hiền và cảm thấy được tình cảm yêu thương, nhân ái, bao dung độ lượng của Người. Tất cả những điều đó sẽ tiếp thêm cho chúng ta sức mạnh trong cuộc sống đời thường, trong cuộc sống hàng ngày. Những câu chuyện thường ngày về Bác, mỗi câu chuyện có những ý nghĩa khác nhau. Chắt lọc từ những câu chuyện tưởng là nhỏ ấy, chúng ta thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin dẫn lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông nhớ lại ấn tượng sâu sắc lần đầu tiên gặp Bác Hồ: “Khi gặp Bác, nay nhớ lại, tôi không thấy một vẻ gì lạ hoặc đặc biệt, như trước đây tôi hằng tưởng tượng, mà chỉ thấy, chỉ gặp một phong cách, một cảm tưởng trong sáng, giản dị và cho mãi về sau này, trong công tác trực tiếp với Bác, cái phong cách trong sáng, giản dị ấy ở Bác, tôi vẫn giữ được một cảm giác nguyên như ngày mới gặp. Tôi mới gặp đồng chí Vương lần đầu, nhưng thấy từ phút đầu đã gần gụi ngay, rất gần như đã quen từ lâu. Tôi nghĩ rằng con người vĩ đại thì lúc nào cũng giản dị, giản dị đến không bao giờ có gì là đặc biệt cả”

Câu trả lời:

- Giải thích:

+ "Lá": hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho con người.

+ "Lành": nghĩa đen là còn nguyên, không bị sứt mẻ, rách hoặc tổn thương; nghĩa bóng là đầy đủ, giàu có, sung sướng...

+ "Rách": đối lập lại với lành.

+ "Đùm": nghĩa đen là bọc tạm hoặc buộc túm lại; nghĩa bóng là bao bọc, che chở, giúp đỡ...

Câu tục ngữ nói về việc những người có cuộc sống đầy đủ, sung sướng nhưng không giữ điều đó cho riêng mình mà quan tâm, chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ những người nghèo khó, bất hạnh. Đó là một truyền thống đạo lí tốt đẹp của nhân dân ta từ xưa đến nay.

- Phân tích, chứng minh:

+ Trong xã hội luôn có sự phân hoá giàu nghèo. Bên cạnh những người giàu có nhưng ích kỉ, thì cũng có nhiều người có cuộc sống giàu sang, phú quý nhưng luôn biết chia sẻ tiền bạc, của cải, tình cảm... của mình đối với những người kém may mắn, nghèo khó để giúp họ có cái ăn, cái mặc hoặc vững tin để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống, vươn lên có cuộc sống no đủ.

Đó là truyền thống nhân đạo hay tinh thần tương thân, tương ái của nhân dân ta.

+ Trong xã hội hiện nay, có nhiều việc làm từ thiện của những người giàu có thành đạt hoặc của những người tuy không giàu có nhưng luôn muốn san sẻ những gì mình có, dù ít ỏi, cho những người nghèo khổ, kém may mắn hơn mình (do thiên tai, ốm đau, thất nghiệp,...).

+ Tục ngữ còn có câu: Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, Thương người như thể thương thân... Một sự chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ.:, về vật chất và tinh thần (dù ít ỏi) đối với những người sa cơ lỡ vận hoặc khó khăn luôn là nguồn động viên, an ủi, khích lệ để họ tiếp tục duy trì cuộc sống và vươn lên. Hơn nữa, việc chia sẻ, giúp đỡ người khác cũng làm "người cho" nhận được niềm vui, niềm hạnh phúc.

- Bàn luận, đánh giá:

Câu tục ngữ đã nêu lên một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Truyền thống đó vẫn luôn được giữ gìn và phát huy cho đến ngày nay. Mỗi người hãy biết sống vì người khác, "mình vì mọi người, mọi người vì mình", tránh thái độ thờ ơ, vô cảm, lạnh lùng, ích kỉ trước những cảnh đời bất hạnh, nghèo khổ để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Câu trả lời:

Câu 5 :

Lĩnh vưc Nội dung
Quân đội và luật pháp

* Quân đội

Quân đội thời Lê sơ được tổ chức theo chế độ "ngụ binh ư nông": khi đất nước có ngoại xâm thì tất cả quân lính đều tại ngũ chiến đấu cùng toàn dân ; khi hoà bình thì thay phiên nhau về làm ruộng.
Quân đội có hai bộ phận chính : quân ở triều đình và quân ở các địa phương; bao gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kị binh. Vũ khí có đao, kiếm, giáo, mác, cung tên, hoả đồng, hoả pháo.
Hằng năm, quân lính được luyện tập võ nghệ, chiến trận. Vùng biên giới đều có bố trí quân đội mạnh canh phòng và bảo vệ, không để xâm lấn.
* Luật pháp

- Bản chất mang tính giai cấp và đẳng cấp. Mục đích chủ yếu để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, trước hết là đặc quyền đặc lợi của vua, triều đình, của các quan lại cao cấp, cùng cố chế độ quân chủ trung ương tập quyền. Có một số điều luật khuyến khích nông nghiệp phát triển, ổn định xã hội.

- Luật pháp thời Lê sơ được nhà nước rất quan tâm. Bộ luật Hồng Đức được ban hành là bộ luật hoàn chỉnh, đầy đủ, tiến bộ nhất trong các bộ luật thời phong kiến ở Việt Nam. Một số điều trong bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ (về kinh tế, gia đình, xã hội).

Kinh tế - Nông nghiệp : Hai mươi năm dưới ách thống trị của nhà Minh, nước ta lâm vào tình trạng xóm làng điêu tàn, ruộng đồng bỏ hoang, đời sống nhân dân cực khổ, nhiều người phải phiêu tán. Nhà Lê cho 25 vạn lính (trong tổng số 35 vạn) về quê làm ruộng ngay sau chiến tranh, còn lại 10 vạn lính, chia làm 5 phiên thay nhau về quê sản xuất; kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng ; đặt một số chức quan chuyên chăm lo sản xuất nông nghiệp : Khuyến nông sứ, Hà đẽ sứ, Đồn điền sứ... Thi hành chính sách quản điền, cấm giết trâu, bò và bắt dân đi phu trong mùa gặt cấy. Nhờ các biện pháp tích cực, sản xuất nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển.
- Thủ công nghiệp, thương nghiệp :
+ Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời, Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất. Nhiều ngành, nghề thủ công truyền thống ờ các làng xã ngày càng phát triển. Các công xưởnq do nhà nước quản lí gọi là Cục bách tác, chuyên sản xuất đồ dùng cho vua, vũ khí, đúc tiền...
+ Nhà nước khuyến khích lập chợ mới và họp chợ. Buôn bán với nước ngoài phát triển, các sản phẩm sành, sứ, vải, lụa, lâm sản quý được thương nhân nước ngoài ưa chuộng.
Văn hóa * Giáo dục và khoa cử
- Vua Lê Thái Tổ cho dựng lại Quốc tử giám ờ kinh đô Thăng Long. Ở các đạo, phủ đều có trường công, hằng năm mở khoa thi để tuyển chọn quan lại. Đa số dân đều có thể đi học, trừ kẻ phạm tội và làm nghề ca hát. Nội dung học tập, thi cử là các sách của đạo Nho. Nho giáo chiếm địa vị độc tôn. Phật giáo, Đạo giáo bị hạn chế.
- Thời Lê sơ (1428 - 1527) tổ chức được 26 khoa thi, lấy đỗ 989 tiến sĩ và 20 trạng nguyên.
* Văn học, khoa học, nghệ thuật
- Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế, văn học chữ Nôm giữ vị trí quan trọng. Văn thơ thời Lê sơ có nội dung yêu nước sâu sắc, thể hiện niềm tự hào dân tộc, khí phách anh hùng và tinh thần bất khuất của dân tộc.
- Sử học có tác phẩm Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt sử kí, Lam Sơn thực lục...
- Địa lí có tác phẩm Hồng Đức bản đồ, Dư địa chí, An Nam hình thăng đồ.
- Y học có Bản thảo thực vật toát yếu.
- Toán học có Đại thành toán pháp, Lập thành toán pháp.
- Nghệ thuật sân khấu ca múa nhạc, chèo, tuồng... đều phát triển.
- Điêu khắc có phong cách khối đồ sộ, kĩ thuật điêu luyện.
Một số danh nhân văn hoá xuất sắc của dân tộc như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông

Câu 6 :

Tên cuộc khởi nghĩa Thời gian Địa bàn
Nguyễn Dương Hưng 1737 Sơn Tây
Nguyễn Hữu Cầu 1739 - 1769 Hải Phòng , di chuyển lên Kinh Bắc ,uy hiếp thành Thăng Long xuống Sơn Nam , vào Thanh Hóa , Nghệ An
Nguyễn Danh Phương 1740 - 1757 Vĩnh Phúc
Lê Duy Mật 1738 - 1770 Thanh Hóa , Nghệ An

Câu 7 :

*Diễn biến:

-Năm 1784, quân Xiêm chiếm được miền Tây Gia Định.

- Tháng 1-1785, Nguyễn Huệ đã quyết định chọn Rạch Rầm-XoàiMút làm trận địa.

-Thủy quân được giấu trong các nhánh sông Rạch Gầm-Xoài Mútvà sau các ngách cù lao

-Bộ binh: mai phục bên bờ và trên cù lao Thới Sơn giữa sông

-Ngày 19-1-1785, Nguyễn Huệ đã dùng mưu nhử định vào trận địamại phục , từ Mĩ Tho và các nhánh Cù Lao các nhánh sông đổ ra đánh phía trước mặtvà vào bên sườn địch trong khi phục binh bắn tên xả vào đoàn thuyền chiến.

Câu 8:

*Nguyên nhân thắng lợi
-Truyền thống yêu nước của nhân dân ta
-Nhân dân ta một lòng nồng nàn yêu nước
-Sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ.
-Ông có những chính sách đúng đắn
*Ý nghĩa
-Lật đổ chính quyền Lê Trịnh Nguyễn
-Xóa bỏ ranh giới sông Gianh -> Thống nhất đất nước
-Đánh tan quân Xâm lược Xiêm , Thanh bảo vệ nền độc lập dân tộc