HOC24
Lớp học
Môn học
Chủ đề / Chương
Bài học
Tuyển Cộng tác viên Hoc24 nhiệm kì 28 tại đây: https://forms.gle/GrfwFgzveoKLVv3p6
Why did not you come to class yesterday?
Ta xóa hai chữ số tận cùng của một số tự nhiên thì ta được số mới kém số đó 100 lần.
=> Số mà bị xóa đi là: 1989 : (100-1) = 20 dư 9 (9 là số đã bị xóa đi)
=> Số ban đầu là: 20 + 1989 = 2009
Vậy: số cần tìm là 2009
Điểm O nằm giữa một điểm bất kì khác O của tia Ox và một điểm bất kì khác O của tia Oy.
Cho hình tứ giác đó là tứ giác ABCD
Ta có:
AB + BC + CD = 38 (cm)
BC + CD + DA = 41 (cm)
CD + DA + AB = 46 (cm)
DA + AB + BC = 43 (cm)
Chu vi hình tứ giác đó là:
(38 + 41 + 46 + 43) : 3 = 56 (cm)
Cạnh AB dài là:
56 - 41 = 15 (cm)
Cạnh BC dài là:
56 - 46 = 10 (cm)
Cạnh CD dài là:
56 - 43 = 13 (cm)
Cạnh DA dài là:
56 - 38 = 18 (cm)
Vậy: Chu vi hình tứ giác đó là 56cm; độ dài cạnh lớn nhất là 18cm và cạnh bé nhất là 10cm
Nhiệt kế dùng để đo nhiệt độ.
Một nhiệt kế có hai thành phần quan trọng: phần cảm nhận nhiệt độ (thí dụ: bầu đựng thủy ngân hoặc rượu trong nhiệt kế) và phần biểu thị kết quả (thí dụ: thang chia vạch trên nhiệt kế). Các loại nhiệt kế trong công nghiệp thường dùng thiết bị điện tử để biểu thị kết quả như máy vi tính. Nhiệt kế chất lỏng: hoạt động trên cơ sở dãn nhiệt của chất lỏng. Các chất lỏng sử dụng ở đây phổ biến là thủy ngân, rượu màu, ancol etylic (C2H5OH), pentan (C5H12), benzen toluen (C6H5CH3)... Nhiệt kế điện: Dụng cụ đo nhiệt điện sử dụng các đặc tính điện hoặc từ phụ thuộc nhiệt độ như hiệu ứng nhiệt điện trong một mạch có hai hoặc nhiều kim loại, hoặc sự thay đổi điện trở của một kim loại theo nhiệt độ. Nhiệt kế điện trở: nhiệt kế đo nhiệt độ dựa trên hiệu ứng biến thiên điện trở của chất bán dẫn, bán kim hoặc kim loại khi nhiệt độ thay đổi; đặc tính loại này có độ chính xác cao, số chỉ ổn định, có thể tự ghi và truyền kết quả đi xa. Nhiệt kế điện trở bằng bạch kim đo được nhiệt độ từ 263°C đến 1.064°C; niken và sắt tới 300°C; đồng 50°C - 180°C; bằng các chất bán dẫn để đo nhiệt độ thấp (0,1°K – 100°K). Để đo nhiệt độ thấp, người ta áp dụng loại nhiệt kế ngưng tụ, nhiệt kế khí, nhiệt kế từ Nhiệt kế hồng ngoại: Dựa trên hiệu ứng bức xạ nhiệt dưới dạng hồng ngoại của các vật nóng
Khi thả 1 vào một bình đầy nước(1 bình đầy dầu) thì sẽ có một lượng nước hoặc 1 lượng dầu tràn ra(có cùng thể tích với vật) là:Độ tăng khối lượng cả 2 trường hợp trên là:m1=m−D1.V(1)m1=m−D1.V(1)m2=m−D2.V(2)m2=m−D2.V(2)Lấy (2) -(1) ,ta có m2−m1m2−m1=(V.D2)−(V.D1)(V.D2)−(V.D1)=V(D2−D1)V(D2−D1)→V=m2−m1D2−D1→V=m2−m1D2−D1→V=51,75−21,751−0,9=300(m3→V=51,75−21,751−0,9=300(m3Thay V vào (1) ,ta có:m=m1+D1.V=21,75+1.300=321,75(g)m=m1+D1.V=21,75+1.300=321,75(g)→D=mV=321,75300≈1,07(g)
Đặt vật cân lên đĩa cân xem cân chỉ bao nhiêu. Sau đó thay vật cần cân bằng một số quả cân thích hợp sao cho kim cân chi đúng như cũ. Tổng khối lượng của các quả cân trên đĩa cân bằng khối lượng của vật cần cân.
Số mà Bắc đã nghĩ ra là số 20 . Chắc chắn 100 %
Chiều rộng của bể nước đó là:
2 * 3/4 =1,5 (m)
Chiều cao của bể nước đó là:
2 * 1/2 =1 (m)
Thể tích của bể nước đó là:
2 * 1,5 * 1 = 3 (m3)
Số giờ để bể đầy nước là:
3 : 0,5 = 6 (giờ)
Đáp số: 6 giờ