Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Long An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 359
Điểm GP 40
Điểm SP 766

Người theo dõi (63)

Đang theo dõi (27)


Câu trả lời:

Tế Hanh là một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ hướng về chủ đề quê hương với “Những ngày nghỉ học”, “Lời con đường quê”. Trong đó, bài thơ gắn với chủ đề “quê hương” đã in dấu Tế Hanh trong lòng bạn đọc bởi hình ảnh người dân miền biển ra khơi.

Bài thơ được viết với bố cục chặt chẽ, tác giả dành hai câu đầu để giới thiệu chung về làng quê, sáu câu thơ sau đó là cảnh thuyền ra khơi đánh cá trong buổi sớm mai hồng, thành quả được diễn tả trong tám câu tiếp khi đoàn cá trở về và khép lại bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng bằng nỗi nhớ làng quê, miền biển.

Cảnh dân chài ra khơi được tập trung diễn đạt ngay sau khi tác giả giới thiệu chung về miền quê:

Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Câu đầu đoạn thơ nói về thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi: Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng- Đó là không gian buổi sáng, với thời tiết đẹp, trong lành, gió không dữ dội mà nhẹ nhàng đủ để song lướt dài trên mặt biển. giới thiệu như vậy cũng là sự hứa hẹn những điều an yên, tốt đẹp cho một chuyến đi xa.

Những người dân làng chài được khắc họa vô cùng ngắn gọn: “Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.” Họ là những người con miền biển, gắn bó biển khơi, thuộc những đổi thay của biển. Họ là những “trai tráng” sung sức, khỏe mạnh làm công việc ra khơi thường ngày nên công việc đối với họ là “bơi thuyền”- không hề thấy chật vật, nặng nề mà nhẹ nhàng phóng lướt:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Khi ra khơi chiếc thuyền với cái khoang còn trống rỗng. Hình ảnh con thuyền được tác giả so sánh với con “tuấn mã”, khỏe mạnh, kiên cường đầy sức lực, đang hăm hở lên đường. Tính từ “hăng” đã diễn đạt đầy đủ sự hăm hở đó. Cùng với động từ mạnh “phăng”, “vượt” đã khắc họa ấn tượng về sự dũng mãnh của con thuyền vượt song ra khơi. “Vượt trường giang” là cái vượt xa, vượt dài, cần có sức lực mạnh mẽ. Hai câu thơ Tế Hanh dùng biện pháp so sánh, những động từ mạnh đã vẽ lên hình ảnh con thuyền đầy khí thế khi ra khơi, đón biển bằng tất cả sức mạnh, sẵn sàng vượt lên trên thách thức của biển khơi. Hai câu thơ góp phần tạo nên không khí ra khơi cho người dân làng chài, và không nhắc nhiều đến hình ảnh người dân nhưng dường như con thuyền đã thay họ làm công việc đó.

Hình ảnh đáng nhớ về con thuyền đang cuốn ta vào một chuyến đi biển thì tác giả rẽ sang một lối phác họa mới:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Tế Hanh dành hai câu thơ để nói về hình ảnh cánh buồm. Vẫn sử dụng lối nói so sánh “ Cánh buồm” như “mảnh hồn làng” thông qua động từ “giương”, cánh buồm trở nên lớn lao, gần gũi với người miền biển, đây cũng là cách so sánh hết sức độc đáo của nhà thơ. “Cánh buồm” là sự vật cụ thể, hữu hình ví với “mảnh hồn làng”, trừu tượng, được cảm nhận bằng tâm tưởng, cánh buồm ra khơi hay người dân chài cũng đang vươn mình bằng tất cả sức mạnh của bản thân để : “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.

Cả đoạn thơ thể hiện khí thế hăng say, mạnh mẽ, người ra khơi được hình ảnh chiếc thuyền và cánh buồm tương trợ nên mang niềm vui, niềm hãnh diện, cũng cố căng mình lên để thâu góp gió đủ sức đưa con thuyền ra khơi và mang thắng lợi trở về như mong muốn. Nguyễn Hồng Pha

Câu trả lời:

ÁO DÀI
Dưới nắng tung tăng bóng áo dài
Thoảng theo làn gió nhẹ lung lay,
Ôi màu áo trắng thời xa vắng
Cho mắt ai buồn theo... ngẩn ngơ
Nụ cười hoan hỉ ..
hảy giữ trên môi mãi nụ cười .
Trãi lòng từ ái khắp mọi nơi .
Nổi buồn ẩn chứa tiêu tan hết .
Cho người nhìn thấy ngập tràn vui .

Bỏ đi vọng ngữ .. mang so sánh .
kẻ thấp ! người cao chớ bận lòng
Tật tánh tùy người ! rồi ắt sữa ,
Tâm từ đúng bậc , tất "chân nhân"

Thế gian "hữu phước" Ta tồn tại .
Trí tuệ dồi trao, góp sức người .
Không hổ danh, "đời" trong, trời đất
hồn nhiên trọn kiếp. "chọn an vui"

Tôi xin tặng bạn một bài thơ
không gian im lắng bụi sương mờ
Bài thơ cảm hứng,thơ bảy chữ
Đó là sự thực chẳng phải mơ

Bài thơ bảy chữ chẳng phải hay
Mong sao bạn hãy đừng tẩy chay
Hãy lưu,hãy giữ và hãy đọc
chúc bạn sẽ gặp nhiều điều may

Vào Xuân
Nắng ban mai reo rắc cung đàn
Tiếng nẩy chồi vườn lộc kết xuân
Em có nghe lòng đang rạo rực
Cánh môi trần mộng đỏ cười duyên

Sầu Tím
Chiều Mây hỏi Núi có buồn không?
Về xa mấy dặm nhớ mênh mông
Vầng Trăng một bóng Người đâu biết
Có kẻ chiều nay bước theo chồng
Ta chúc em rượu nhạt lời không
Vườn thưa đâu ngõ cánh thiệp hồng
Bên nhau hai đứa thầm ghi khắc
Nay về Tên ấy bỏ đầu Đông..

Tình Yêu-Toán Học
Tìm giả thuyết khi tình Bội Số
Mang Đạo Hàm vào ngõ tìm em
Giải Tích Phân đi về xóm cũ
Chứng Minh Rằng:bài toán tình yêu.

Tìm Căn Thức tình em bỏ lại
Nghiệm Chia Hai khoảnh khắc nụ cười
Và Ý Nghĩa Phương Trình độc thoại
Xa người!Định Lý Đảo tim tôi.

Tìm lời thể như tìm Ẩn Số
Tựa Cos-Sin chắn ẩn hai người
Tag-Cotag không về chung ngõ
Em hững hờ Vô Nghiệm tình tôi..


Nhớ trường xưa

Chốn ấy thăm rồi quay gót chân
Lơ ngơ , lẩn ngẩn dạ bần thần
Trường xưa trở lại đường hoang vắng
Cổng mới đôi hàng liễu phong vân
Chợt nhớ hôm nào lần trở lại
Vai kề lây lất rượu đào say
Ngòai sân hượm nắng đang hừng sáng
Chợt ngỡ ngàng ôn bóng cố nhân

Đếm thời gian

Thời gian ai lấy gió mà đong
Con nước u hoài trên bến sông
Mấy thu đón đợi chân lữ thứ
Bên đồi ru bóng dáng chim đồng
Nhớ sau hôm ấy chung lời thệ
Vai sát kề nghe tiếng thét vang
Nay tiết Xuân sang , hàng trúc đợi
Người về có gọi đón thời gian

Trân trọng xin nhận

Xin nhận tấm lòng ! Xin xướng thơ.
Lót tai đễ hứng mấy chữ quơ
Bôi thiểu vai kề chờ được uống
Cuồng thân chỉ dám nhận chữ hờ
Ý dệt vần gieo chờ câu kế
Lòn bút nhậm thề kết lễ thơ
Năm Châu ! Hửu tuyệt vì câu chữ
Dung dị tư tình ta xướng thơ

Đồ tôn kính cẩn

Tay cọ lem nhem hai chữ đố
Ngã nghiêng ngọng bước đôi chân thô
Lỗ chỗ , ánh Xuân xuyên tường nát
Xập xình hát nửa bốn câu hò
Loanh quanh nghiêng chén đào ngửa cổ
Bút gò huý hoáy sửa vần thơ
Chờ treo trước cửa mành liễn đỏ
Xuân vừa kỳ ngộ kẻ làm thơ

Tỉnh giấc mơ

Ngoái cổ ngật ngừ theo giấc mơ.
Tâm tư đâu bóng dáng đợi chờ
Ngày xưa ai thẩn thờ tống biệt
Mất đến trọn đờn mối tơ duyên
Thôi nhé nhớ thương chi chuyện xưa
Vui gì đã lỡ lựa con thuyền
Còn đâu lưu luyến ! Đâu lừa dối
Lời ấy thuở rồi ước đoàn viên

Câu trả lời:

Cách mạng Tháng Mười Nga đã khai phá con đường đi lên CNXH, chỉ ra sức sáng tạo của đông đảo quần chúng nhân dân trong sự nghiệp kiến tạo một xã hội mới chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Từ một nước Nga phát triển trung bình dưới thời Sa hoàng, đất nước Nga Xô-viết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, y tế, giáo dục…; là lực l­ượng chủ yếu đánh tan phát-xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát-xít. Trong một thời kỳ dài của lịch sử ở thế kỷ 20, Liên Xô đã trở thành một cường quốc thế giới, là trụ cột của hệ thống XHCN.

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở đường cho Chủ nghĩa Mác - Lê-nin thâm nhập vào tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Trong thế kỷ 20, đã có rất nhiều nước ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh vùng lên đấu tranh đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, phá vỡ từng mảng lớn hệ thống thuộc địa của chúng và giành được tự do, độc lập, đưa nhân dân lên địa vị làm chủ xã hội. Nhiều quốc gia, dân tộc đã lựa chọn con đường đi lên CNXH.

Câu trả lời:

Trong những năm tháng rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới, Thế Lữ hiện lên như một vì sao mai sáng lòa, lấp lánh. Còn lại với thời gian hôm nay, Thế Lữ gắn bó với bạn đọc bởi bài thơ nổi tiếng nhất của ông: bài thơ Nhớ rừng. Bài thơ ấy dưới tiêu đề của nó, tác giả đã đề một dòng chữ nhỏ: “Lời con hổ trong vườn bách thú”. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc hiểu rằng bài thơ là những tâm sự đầy uất hận của con hổ trước cảnh đời hiện tại bức bách, tù túng; nó mơ về những ngày xưa tung hoành, lẫm liệt. Bài thơ đã kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước của người dân ta thuở đó. Nhưng không dừng lại ở đó, thành công của bài thơ còn nằm ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt mĩ - cảnh rừng sơn lâm trong hồi ức đau thương của con hổ “nhớ rừng”. Tiêu biểu phải kể đến bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

(Nhớ rừng - Thế Lữ)

Đoạn thơ nằm trong chuỗi hồi ức về những ngày tháng lẫm liệt chốn rừng xanh uy nghi của con hổ. Giữa cảnh núi rừng dữ dội, lộng lẫy nó là vị chúa tể độc tôn. Đoạn thơ dựng lên bốn cảnh rừng tuyệt mĩ: cảnh đêm trăng, cảnh mưa rừng, cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Mỗi cảnh được thể hiện bằng hai câu thơ, câu thứ nhất tả cảnh rừng, câu thứ hai miêu tả hình ảnh con hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ ấy.

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan“.

“Đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đêm trăng sáng mọi vật như được nhuộm vàng, ánh trăng như vàng tan chảy trong không gian. Trong đêm trăng, đứng bên bờ suối càng khiến ta cảm nhận hết được sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Mặt nước trong trẻo đón nhận trọn vẹn sắc vàng của trăng càng trở nên lóng lánh kì lạ. Đứng trước khung cảnh ấy, con hổ “say mồi” không chỉ bởi bữa ăn no nê mà còn bởi "uống ánh trăng tan". Đó là một hình ảnh lãng mạn, nó tưởng như mình được chiếm lĩnh trọn vẹn cái đẹp của vũ trụ. ‘

Nếu như hình, ảnh đêm trăng thanh bình bao nhiêu thì cảnh mưa rừng dữ dội bấy nhiêu:

“Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”

Cơn mưa ngàn dữ đội, mịt mờ làm rung chuyển núi rừng, làm kinh hoàng những con thú hèn yếu. Nhưng với hổ thì khác, nó không những không sợ hãi trước uy lực của trời đất mà còn coi đó là một thú vui: “Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”. Cái im lặng say mê trong từ “lặng ngắm” của hổ chứa đựng những sức mạnh chế ngự của một bản lĩnh vững vàng. Nó đang lấy cái tĩnh của một vị chúa tể để chế ngự cái dữ dội của rừng già đại ngàn. Hình ảnh của hổ hiện lên thật phi thường, dũng mãnh.

Câu thơ vừa căng lên đã nhanh chóng tan ra trong tiếng reo ca của cảnh bình minh:

“Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.

Sau ngày mưa bầu trời bình minh tươi sáng hơn. Con hổ càng khẳng định được vị trí của mình. Ban đêm thì nó thức cùng vũ trụ. Ngày mưa nó “lặng ngắm” giang san. Lúc vạn vật thức dậy thì nó say sưa trong giấc ngủ. Hình ảnh của chúa sơn lâm tự do tự tại muốn gì được nấy, hổ có thể chi phối, chế ngự kẻ khác chứ không ai có thể chế ngự được mình.

Dữ dội nhất, say mê nhất là cảnh rừng thời khắc hoàng hôn:

“Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

Bức tranh rừng rực rỡ trong gam màu đỏ, đó là màu của máu, màu của ánh sáng mặt trời. Khi chiều tà, ánh mặt trời chuyển sang màu đỏ rực, đó cũng là lúc mặt trời lặn xuống. Nhưng trong con mắt của hổ, thứ ánh sáng bỏng rẫy kia là máu của mặt trời và mặt trời thì đang lịm dần trong cái chết dữ dội. Hổ đang giành lấy quyền lực từ tay vũ trụ để ngự trị.

Đoạn thơ là bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh thiên nhiên, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ tráng lệ với hình ảnh con hổ uy nghi. Nhưng đau xót thay, đây chỉ là cảnh trong dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ. Trước mỗi cảnh thơ đều xuất hiện cụm từ “nào đâu”, “đâu những”, chúng thể hiện niềm nuối tiếc khôn nguôi, nỗi xót xa đau đớn trong lòng hổ. Giấc mơ huy hoàng khép lại trong tiếng than: "Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu".