Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 72
Số lượng câu trả lời 1844
Điểm GP 200
Điểm SP 1402

Người theo dõi (263)

Nguyễn Hà Anh
MaryJennifer
Giang Loly

Đang theo dõi (9)

Phùng Tuệ Minh
Ngố ngây ngô
Lê Nguyên Hạo
An Trần

Câu trả lời:

Người Việt Nam ta rất tự hào vì có vốn tiếng Việt giàu và đẹp.Tiếng Việt giàu đẹp vì nó là sự kết tinh của lịch sử đã bao đời nay cùa cha ông ta. Đó là lịch sử lao động sản xuất và chiến đấu để tồn tại và phát triển, để bảo vệ và dựng xây đất nước. Tiếng Việt giàu đẹp bởi nó là tiếng nói của đời sống dân tộc Việt Nam, phong phú và cũng rất đẹp. Hai nguồn giàu đẹp của tiếng Việt là ở tiếng nói của quần chúng nhân dân được thể hiện trong tục ngữ, ca dao, là ở tiếng nói của các nhà văn, nhà thơ lớn đã được đẽo gọt, trau chuốt và nâng lên đến mức nghệ thuật.

Tục ngữ ca dao là ngôn ngữ của quần chúng, bản thân nó là giản dị, dễ hiểu, trong sáng vì nó là lối diễn đạt của quần chúng. Đặc tính truyền miệng và tập thể đã khiến nó ngày càng được trau chuốt, tinh tế hơn. Cuộc sống vô cùng đa dạng, tục ngữ, ca dao là tấm gương phản ánh đời sống cho nên nó cũng rất đa dạng. Đó có thể là tục ngữ ca dao về lao động sản xuất “Nhất nước nhì phân, tam cần, tứ giống”, “Cày đồng đang buổi ban trưa - Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày...” về học tập “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. “Học ăn, học nói học gói, học mở”; về cách sống “Thương người như thể thương thân”, “Uống nước nhớ nguồn”.... Trong kho tàng tục ngữ ca dao ấy, có những câu thực sự là những viên ngọc sáng ngời lên vẻ đẹp lung linh.

Hỡi cô tát nước, bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Một câu ca dao mở ra một bức tranh lao động đầy chất thơ, đồng thời cũng là một lời tỏ tình độc đáo, ý nhị. Câu ca dao đưa ta vào một không gian yên tĩnh, hư ảo của đêm trăng, ánh trăng tỏa chiếu xuống cánh đồng có một cô gái đang tát nước. Âm thanh của từng gầu nước như đẩy không gian thêm cao hơn, rộng hơn. Ánh trăng theo từng gầu nước cũng là múc “ánh trăng vàng”. Ánh trăng theo từng gầu nước lại đổ tràn lên ruộng, vỡ ra, tan ra, lấp loáng. Thời gian đã về khuya lắm. về khuya nên mới chỉ có âm thanh của từng gầu nước và tiếng nói của người con trai hỏi cô gái. Chàng trai hỏi cô trong ngỡ ngàng, tiếc nuối. “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”. Ánh trăng chiếu xuống nước đẹp quá, thể mà cô múc nó đổ đi. Đúng là chỉ có tâm hồn đẹp mới nhìn thấy vẻ đẹp này, thậm chí phải là tâm hồn nghệ sĩ mới có sự tiếc nuối cho cái đẹp kia. Một lời trách bóng gió: cô đang làm mất đi cái đẹp đấy! Nhưng ánh trăng vẫn cứ vô tư tỏa sáng để cô múc từng “gầu trăng”. Cô cũng đang tạo ra cái đẹp! Trách mà lại khen! Cô gái thì im lặng, im lặng vì chàng trai đã khéo gợi nên ở cô cảm xúc về cái đẹp, sự im lặng có thể là sự đồng tình tiếp nhận, và nhiều khi không nói mới là nói được nhiều nhất. Đúng là một câu ca dao thật đẹp. Và những bài ca dao khác:

Trong đầm gi đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Bài ca dao có hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa thứ nhất là tả vẻ đẹp của “sen” có “Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng” đó là tả từ ngoài vào. Còn “Nhị vàng bông trắng lá xanh” là tả từ trong tả ra. Câu thứ tư là “phẩm chất” nghĩa thứ hai cũng toát lên ở đây: Người ta cũng đẹp như sen, dù có sống nơi “hôi tanh”, hãy cố gắng trong sạch tinh khiết như sen. Bài ca dao mượn một hình tượng đẹp đầy thẩm mĩ để nói về nhân cách con người. Người Việt Nam, ai cũng nhớ câu ca dao:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

“Nhiễu điều” là thứ lụa mỏng nhuộm màu đỏ tươi thường dùng để phủ trên bài vị nơi bàn thờ tổ tiên. “Giá gương” là cái giá có đặt khung lồng kính để bài vị gia tiên. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” là hình ảnh bản thờ tổ tiên. Đặt trong chỉnh thể của cậu ca dao, ta hiểu lời nhắn nhủ, lời kêu gọi đoàn kết thương yêu nhau ở tất cả mọi người. Đó là một bài ca dao hết sức gợi cảm, tinh tế. Những bài ca dao ấy là đời sống tâm hồn tình cảm của người Việt Nam. nó là nguồn để nuôi dưỡng văn học bác học. Các nhà văn nhà thơ lớn của chúng ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Tố Hữu,... đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ tục ngữ, ca dao... lời văn lời thơ của họ đã được nâng lên mức nghệ thuật, tinh tế và tài hoa. Câu thơ của Nguyễn Du mà bao người đã thuộc:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.

Có thể nói đây là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ của thơ: trời xanh, nước trong, gió rất nhẹ cho nên mới “Long lanh đáy nước in trời”. Phía xa, mây biếc đùn lên như xây thành. Trời đã về chiều nên “non phơi bóng vàng”. Một câu thơ khác sống động, vừa có hình ảnh, màu sắc, âm thanh.

Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.

Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp đủ sức để diễn tả tài tình các cung bậc tâm trạng. Chúng ta hãy đọc một vài câu thơ trong Chinh phụ ngâm:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Người vợ tiễn người chồng ra trận. Người chồng dứt áo lên ngựa ra đi. Chàng đi một quãng đương rỗi quay lại nhìn vợ. Người vợ vẫn đứng đó trông chồng. Cả hai cùng khóc, họ cùng nhìn nhau mà chẳng thấy nhau vì nước mắt rơi. Giữa họ là khoảng không gian “mấy ngàn dâu” ngăn cách lòng “chàng” cũng sầu, lòng “thiếp” cũng sầu, biết ai hơn ai... Quả là tiếng Việt không giàu, không đẹp thì không thể diễn tả được cung bậc tâm trạng này. Đến văn học hiện đai chúng ta lại được đọc lời thơ ngọt ngào đằm thắm của nhà thơ Tố Hữu:

Ta về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng...

Ngọt ngào bởi có âm hưởng của ca dao, đằm thắm bởi nó đậm đà tình người, hồn người. Chúng ta còn rất nhiều những câu văn lời thơ để chứng minh cho tiếng Việt ta giàu đẹp. Tiếng Việt là tình cảm tâm hồn người Việt Nam. Ta ngày thêm yêu tiếng Việt, học tiếng Việt và ra sức giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta. Đó là một cách để biểu hiện lòng yêu đất nước, yêu dân tộc mình của người Việt Nam.

Câu trả lời:

Cuộc sống được cấu tạo bởi những điều tưởng chừng như đối nghịch, chính bởi chúng mâu thuẫn với nhau mới tạo nên cho thế giới trở nên đa sắc, đa âm, đa mùi vị, ta biết ngoài vui còn có buồn, ngoài sướng còn có khổ, cũng như đen trắng, sáng tối, sống chết vẫn luôn đi bên nhau theo từng nhịp bước. Trong biển đời mênh mông, vạn vật không có gì là bất tử, có sinh ra rồi cũng sẽ có mất đi, đó là tất yếu, bản thân con người cũng không ngoại lệ.

Thế nhưng chết chưa phải là tất cả, chết chỉ là một sự kết thúc nhất thời, điều quan trọng là những giây phút khi còn sống, sống hết mình hết lòng thì cái chết chỉ như một sự nghỉ ngơi, như có người đã từng nói: "Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát lớn nhất nhất là để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống".

Đạo Phật cho rằng: Cái chết cũng tự nhiên như sự Sống, cũng đầy mầu nhiệm và huyền diệu như sự Sống.

Chúng ta cần hiểu về cái Chết để biết Sống, ngược lại ta phải thông hiểu suốt về sự Sống, để hiểu về cái Chết. Chết không phải là sự cao chung của cuộc đời, nó là sự gián đoạn của một dòng chảy. Cái Chết giống như là một bến đỗ, một trạm dừng, một nơi chúng ta xuống tàu để chuẩn bị cho nhiều chuyến đi khác.

Nhưng chung quy lại, chết là sự kết thúc một cuộc đời, con người nằm xuống, nhắm mắt và quên đi tất cả, không còn vướng bận đến cuộc sống hay thế giới bên ngoài, nó là lá chắn giữa con người với sự sống.

Có nhiều người sợ chết, họ cho rằng chết là phải xuống địa ngục (theo quan niệm tâm linh của con người), bị đày đoạ, bị hành hạ, đau khổ... Không ai muốn mình chết khi mà đời vẫn đang đẹp, không ai muốn kết thúc cuộc sống khi vẫn chưa tận hưởng được hết hương vị của đời, bởi thế mà trong suy nghĩ của con người, chết là một điều thật kinh khủng, đáng sợ. Nhưng nghĩ theo chiều hướng khác thì chết vẫn chưa thực sự là khủng khiếp, cái chết chỉ kết thúc cuộc đời con người, ai cũng một lần chết và không ai có thể trường sinh bất tử mãi mãi.

Những câu chuyện trong quá khứ kể về những người cố gắng tìm thuốc bất tử, để không phải chết nhưng cuối cùng đều thất bại, bởi lẽ đó là ước muốn viễn vông, nếu không ai phải chết thì thế giới này liệu còn tồn tại? Chỉ cần xem cái chết cũng như những sự kiện khác bình thường trong cuộc đời thì sẽ nhận thấy rằng nó vốn không đáng sợ như ta nghĩ, gương về chúa Jê su chịu đóng đinh trên thánh giá để chuộc tội cho nhân loại, giả sử Người sợ chết và không dám chịu hình phạt khủng khiếp đó thì liệu nhân loại có chuộc được lỗi của mình. Gương của những anh hùng, liệt sĩ hi sinh trên chiến trận, nếu họ hèn nhát, lo sợ bóng đêm của tử thần thì liệu đất nước có được thanh bình?

Tâm hồn là cái đẹp bên trong của con người, là thước đo đánh giá giá trị thực của một cá nhân, tâm hồn là cách thể hiện rõ ràng nhất cho tính cách, suy nghĩ của một cá thể. Tâm hồn tàn lụi là tâm hồn bị tổn thương, không còn trọn vẹn, mất đi nép đẹp ban đầu, giống như một sinh linh đang chết dần chết mòn theo thời gian, không còn sức sống, không có màu hồng, bao trùm là cả bóng tối và sự đơn độc do chính tâm hồn đó cố tạo ra cho mình.

Cái chết như đã nói, chỉ là một sự kết thúc và ai cũng phải chết một lần nên nó cũng chỉ như những sự kiện khác bình thường của con người. Nhưng trái lại, một người khi sống mà như đã chết thì thật đáng sợ. Họ đánh mất niềm tin, không dám bước tiếp vì sợ sẽ vấp ngã tiếp tục trên đường đời, họ không đủ can đảm để đứng dậy, họ không dám đối mặt với sự thật và cách mà họ chọn là sự trốn tránh yếu hèn để rồi làm lỡ phí thời gian quý báu, không kịp cảm nhận cái mới, cái hay, cái đẹp vốn vẫn còn rất nhiều. Dần dà tâm hồn họ sẽ bị chai sạn, không còn cảm nhận được nữa, không có tình thương, mà “tình thương là sự sống của con người”, lúc đó họ không sống nhưng họ vẫn sống nhưng chỉ như những mảnh linh hồn.

Chính bởi sự tàn lụi từ trong tâm hồn đã giết chết cái đẹp, để cho cái xấu lấn át dần để rồi con người bị biến tính, họ không còn là mình của trước đây mà đã trở thành một con người khác, gương những người mẹ nỡ giết con mình chỉ vì bị chồng ruồng rẫy, đâm ra buồn nản. Gương sát thủ Nguyễn Đức Nghĩa giết người yêu dã man, dù rằng sau đó là sự hối lỗi chân thành, nhưng cũng bởi tâm hồn không còn lành mạnh và đẹp như ban đầu, bị tàn lụi và héo hon bởi những tác động ngoài lề mà dẫn đến những kết cục bi thảm đầy nước mắt.

Chết chưa phải là tất cả, chết nhưng để lại tiếng thơm muôn đời thì cái chết ấy vẫn đẹp, điều quan trọng là khi sống, sống hết mình, hết lòng, cống hiến hết sức lực thì không còn gì phải hối hận. Muốn mình hạnh phúc, vui vẻ cho đến tận lúc nói lời chào với cuộc đời thì cần phải giữ tâm hồn mình trong sạch, lành mạnh, không ngừng nuôi dưỡng và bồi đắp để giữ mãi nét đẹp, sự sống ban đầu của nó. Câu nói cũng là lời lên án những thái độ sống hờ hững, vô cảm với cuộc đời, tiêu cực, không dám đối mặt với thất bại, không dám hi vọng và không biết cách tìm những điều mưói lạ, chính bởi điều đó đã, đang và sẽ còn giết dần giết mòn nhiều tâm hồn con người, dẫn đến nhiều kết cục bi thương hơn nữa...

Câu trả lời:

Lớp em nằm ở lầu ba của trường. Tuy lớp nhỏ nhưng được sắp xếp đồ đạc rất gọn gàng và ngăn nắp. Cửa ra vào được sơn màu kem, sáng sủa. Phòng của chúng em luôn thoáng mát nhờ trường trồng rất nhiều cây xanh. Trong lớp, những chậu hoa nhỏ xinh xắn được xếp ngay ngắn. Dãy bàn ghế ngay ngắn, thẳng tắp luôn sạch sẽ nhờ bàn tay của cô bảo mẫu lao chùi mỗi ngày. Trước mặt chúng em là bác bảng xanh to lớn. Bức ảnh Bác Hồ được treo ngay ngắn trên bức tường được quét sơn màu hồng nhạt. Lớp em rất đẹp mắt nhờ sự khéo léo của cô và các bạn đã trang trí làm lớp học trở nên sinh động hơn. Lớp học là cái nôi nuôi dưỡng em thành người. Vì vậy mà cô giáo đối với em chính là người mẹ hiền thứ hai. Cô luôn dạy cho chúng em những kiến thức bổ ích. Cô giúp chúng em học tập tốt hơn và yêu kiến thức mà chúng em đã được học. Chúng em ở lớp luôn đoàn kết, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau. Chúng em luôn chia sẽ với nhau những niềm vui, nỗi buồn với nhau, giúp đỡ nhau học tập thật tốt. Các bạn như anh em ruột thịt của nhau. Lớp học như một ngôi nhà, một gia đình ấm áp. Vào ngày cuối tuần các bạn phân công nhau trực nhật để lớp của chúng em luôn sạch đẹp. Những buồn vui của bạn bè, kỷ niệm của tuổi học trò. Hình ảnh của lớp học là hình ảnh mà chúng em yêu quý nhất. Chúng em luôn giữ gìn lớp học sạch, đẹp. Những giờ học trên lớp, cô giáo luôn tạo cho chúng em những tiết học vui tươi sinh động, giúp cho chúng em hiểu bài hơn. Em yêu biết bao nhiêu lớp học thân thương này, nơi đây chúng em có những kí ức vui buồn bên bạn bè, thầy cô yêu mến.

Câu trả lời:

Hồ Gươm nằm giữa trung tâm của thủ đô Hà Nội, có diện tích 12ha, chiều dài nam - bắc, chiều rộng đông – tây là 200 mét. Hồ Gươm là một đoạn dòng cũ của sông Hồng còn sót lại khi nó đổi dòng sang phía đông, là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội . Trước kia hồ còn có tên gọi là hồ Lục Thuỷ vì sắc nước bốn mùa đều xanh. Thời nhà Lý, vua Lý Thánh Tông chọn nơi đây để xây dựng chùa Sùng Khánh để cầu cho quốc thái dân an. Năm 1057, nhà Lý lại dựng bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên để ghi nhớ chiến công đánh thắng người Chiêm Thành. Đến thời Trần (lúc đó diện tích hồ lớn lắm, lại thông với sông Tô Lịch) nên thuỷ quân nhà Trần vẫn thường luyện tập trên hồ, do vậy hồ mang tên hồ Thuỷ Quân. Đến đời Lê Thái Tổ, sau khi chiến thắng quân xâm lược nhà Minh, nhà vua ngự thuyền rồng dạo chơi trên hồ, bỗng thấy một con rùa vàng hiện lên đòi vua trả gươm thần đã cho mượn để đánh giặc, vua đổi tên hồ thành hồ Hoàn Kiếm. Tên gọi mà người dân vẫn quen dùng là hồ Gươm. Cuối thế kỷ XVI, chúa Trịnh dựng phủ Chúa ở phường Báo Thiên, hồ Hoàn Kiếm lúc đó bao quanh từ bên phải sang bên trái phủ chúa, vì vậy lại một lần bị đổi tên, hai phần của một hồ thành hai hồ là Tả Vọng và Hữu Vọng. Sau này, hồ Hữu Vọng bị san lấp, hồ Hoàn Kiếm ngày nay thuộc phần hồ Tả Vọng xưa bị thu nhỏ lại. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận H) và là hồ nước duy nhất của quận Hoàn Kiếm cho đến ngày nay. Hồ Hoàn Kiếm có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ... với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà Thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu. Giữa hồ có tháp Rùa, góc đông bắc có cầu Thê Húc từ bờ ra đền Ngọc Sơn. Tháp Rùa được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp theo hình vuông có 3 tầng, tầng dưới xây rộng hơn, rồi thu nhỏ dần lên tầng trên, các mặt phía đông và tây đều có 3 cửa cuốn, phía nam và bắc có 2 cửa cuốn nhọn ở đầu, đỉnh có hai tầng, có lan can chạy xung quanh, bốn đầu đao đắp uốn cong dần lên vào giữa đỉnh. Đảo Ngọ Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh). Đền Ngọc Sơn thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo. Năm 1865, vào dịp trùng tu lại đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu cùng nho sĩ và người dân Hà Thành đã xây dựng Tháp Bút – Đài Nghiên trên bờ hướng đông bắc hồ, bao gồm năm tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời. Thân tháp có ba chữ: Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí. Đài Nghiên là phần không thể thiếu của Tháp Bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán. Cầu Thê Húcdẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm". Tháp Hòa Phong trên bờ hướng đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Bảo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898). Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp". Đền Bà Kiều trên bờ hướng đông bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liêu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ. Nhà Thủy Tạ trên mặt bờ hồ hướng tây bắc, là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế. Ngoài ra, Nhà Thuỷ Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung... có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối. Đền thờ vua Lê ở bờ tây hồ, áp với đình Nam Hương. Đền có tượng vua Lê Thái Tổ đứng trên trụ cao, tay cầm thanh kiếm như phóng xuống mặt hồ. Xung quanh hồ là các hàng cây xanh mát, xen lẫn các cây cổ thụ. Trước đây có nhiều cây liễu bốn mùa nghiêng mình soi bóng bên hồ. Mùa thu, đông, những hàng liễu thướt tha xoã tóc trong làn sương mờ ảo hay đẫm mình trong màn mưa bụi trắng trông như gần như xa. Vào mùa hè, có hoa gạo đỏ tươi trước đền Ngọc Sơn, tháng năm có hoa phượng rực rỡ. Trên mặt nước xanh sen quỳ nở sắc hồng đào, sáng một góc đông bắc hồ. Lại mới thêm những cây bằng lăng đơm hoa màu tím, màu vàng, điểm xuyết giữa những bãi cỏ xanh rờn, những bồn hoa, luống hoa rải rác bên hồ. Thực là một cảnh thiên nhiên kỳ thú, nhất là nó lại ở một chốn đô thị phồn hoa. Khi nói đến hồ Gươm, chúng ta không thể không nhắc đến loại rùa mà giới khoa học đặt tên là Rafetus leloil. Năm 1968, người ta vớt được một con rùa nặng 250kg, dài 2,1 mét, ngang 1,2 mét. Những năm gần đây, rùa hay nổi trên mặt nước. Danh thắng hồ Gươm với hàng loạt các di tích lịch sử - văn hoá có giá trị như đền Ngọc Sơn, tháp Rùa, tháp Bút – đài Nghiên, cầu Thê Húc, tượng vua Lê… đây không chỉ là một thắng cảnh của Thăng Long – Hà Nội mà còn là trung tâm của một vùng văn hoá rất đặc biệt của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Bởi vậy, danh lam thắng cảnh hồ Gươm luôn là đề tài ngợi ca của biết bao tao nhân mặc khách trong ngiều thời kỳ, là nơi thu hút sự chú ý, tham quan, vãn cảnh của người dân từ thời xa xưa. Và ca dao cổ còn ghi: … Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên tháp Bút chưa mòn Hỏi ai gây dựng nên non nước này… Có thể thấy, vào những dịp kỷ niệm, ngày lễ lớn của dân tộc, những ngày tết cổ truyền, hồ Gươm là nơi diễn ra các cuộc đua tài sôi nổi như thi bơi trải, đua thuyền, lướt ván, thả chim câu, múa lân, biểu diễn nghệ thuật, thi chạy, đua xe đạp quanh hồ… Và nơi đây là nơi trung tâm tụ hội của hàng chục vạn quần chúng nhân dân Hà Nội với một tinh thần cộng cảm trong lễ hội, dưới ánh sáng lấp lánh của hàng nghìn ngọn đèn màu sắc trên các vòm cây, cùng hoà mình vào những vòm sáng rực rỡ trong đêm pháo hoa, người ta cảm thấy yêu quý nhau hơn, và cùng thêm yêu Hà Nội – thành phố bình yên thi vị được gọi với cái tên thân thương “Thành phố vì hoà bình”.

Câu trả lời:

Em chọn các chi tiết:

b) Bầu trời xanh lồng lộng, ánh nắng chói chang.

c) Gió nồm nam thổi đến mát rượi.

đ) Tiếng ve râm ran trong vòm cây.

Em chọn các ý a), c), đ) vì:

a) Về mùa hè, bầu trời thường cao và xanh, ánh nắng bao giờ cũng chói lọi và gắt gao, tạo ra bầu không khí nóng nực.

c) Gió nồm nam thường thổi và mùa hè, từng có một bài viết mang tên "Gió nồm" có đoạn như sau :

“Quê tôi có gió nam và gió nồm, gió nam hay gọi là gió Lào, thổi từ Lào qua sau khi trút hết nước xuống bên tê dãy Trường Sơn rồi khô khốc tràn vào quê tôi, người ta nói đó là đặc sản của Quảng Trị quê tôi. Còn gió nồm là gió từ dưới biển thổi lên mang theo hơi nước nên mát lạnh khi chiều buông xuống. Mỗi khi có gió nồm thì không còn gió nam nóng rát, khô khan nữa”.

đ) Tiếng ve đã trở thành âm thanh quen thuộc của mùa hè - một thứ thanh âm không thể nào thiếu, không thể nào không hiện hữu trên mỗi vòm lá mướt xanh mùa hè oi ả.

Sở dĩ không chọn các chi tiết còn lại vì:

a) Mùa hoa sữa là mùa thu, cả không gian mùa thu bao giờ cũng ngát lên hương hoa sữa nồng nàn pha hơi hăng hắc.

d) Đất trời mờ sương, chăn mây bao núi chỉ có trong tiết đông giá lạnh - khi vạn vật chỉ chìm trong sắc trắng mây mù lạnh lẽo bao phủ.