Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bình Định , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 57
Số lượng câu trả lời 3511
Điểm GP 572
Điểm SP 5118

Người theo dõi (733)

bbicuaanh>
ko có tên
cần gấp

Đang theo dõi (3)

Khinh Yên
Minh Nhân
Thảo Phương

Câu trả lời:

Đông lại đến. Một mùa đông lạnh giá của nước Mỹ lại về với những con người nghèo khổ. Tôi khoác tấm áo tấm áo dày mà tôi mua được từ số tiền bán bức tranh vẽ vịnh Na-plơ đứng trước mộ cụ Bơ-men – người mà Giôn-xi tôi cả đời sẽ chẳng thể nào đền đáp được công ơn.

Ngày ấy, cũng vào mùa đông tuyết phủ kín đường, tôi đang nằm trên giường trong một căn hộ thuê ở gần công viên Oa-sinh-tơn. Tôi bị viêm phổi rất nặng nhưng lại không có đủ tiền để chạy chữa đến nơi đến chốn, dần dần tôi trở nên tuyệt vọng. Lúc đó, tôi chỉ thấy trước mắt một tương lai không ánh sáng, một con đường hầm đen tối chẳng có lối ra. Tôi cố tìm một lý do khiến tôi sẽ buông xuôi một cách tự nhiên, và tôi đã tìm thấy những chiếc lá thường xuân bên cửa sổ. Tôi bắt đầu ngồi chờ chuyến đi sang thế giới bên kia của mình ngay khi chiếc lá thường xuân bắt đầu rụng xuống. Mặc dù Xiu – người “chị” thân thiết của tôi can ngăn hết lời, tôi vẫn bướng bỉnh làm theo ý của mình. Mỗi sáng, tôi đều ra lệnh cho Xiu kéo tấm mành màu xanh xuống để đếm những ngày còn lại tôi sẽ sống. Xiu có vẻ lo lắng ra mặt, nhưng tôi thì vẫn cứ khăng khăng làm, vì tôi chẳng còn gì để mất nữa rồi.

Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi ngồi thẫn thờ mở to cặp mắt nhìn vào tấm mành màu xanh đang che kín cửa sổ và chờ Xiu tỉnh dậy. Khoảng một tiếng sau, Xiu tỉnh dậy, tôi thều thào bảo Xiu kéo tấm mành lên để nhìn cây thường xuân, như mọi ngày. Xiu làm theo một cách chán nản. Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió rít phũ phàng suốt đêm, trên cây vẫn còn một chiếc lá ngoan cố bám trụ lại. Tôi biết đó sẽ là chiếc lá quyết định số phận của tôi trong trò chơi may rủi này. Tôi đã nói với Xiu:

- Đó là chiếc lá cuối cùng. Em cứ tưởng nhất định trong đêm vừa qua nó đã rụng. Em nghe thấy gió thổi. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó em sẽ chết.

Xiu cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối nhẹ nhàng khuyên tôi hãy gắng gượng sống. Tôi im lặng. Tôi nghĩ gắng gượng sống để làm gì khi cái sợi dây buộc tôi với cuộc sống này đang lỏng dần, khi tâm hồn tôi đã không còn hy vọng vào cuộc sống…. Bỗng chốc, cái ý nghĩ kỳ quặc về chiếc lá lại choán lấy tâm trí tôi mạnh hơn. Cái ý nghĩ về chiếc lá thường xuân mỏng manh nhưng lại mang theo trách nhiệm về mạng sống của tôi sẽ rụng trong tối nay. Còn tôi cũng sẽ bắt đầu chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Cả ngày hôm đó và ngay cả trong ánh hoàng hôn tôi vẫn có thể trông thấy chiếc lá cố níu vào cái cuống của nó một cách đơn độc như cuộc sống bấp bênh của những con người nghèo khổ. Tôi nghĩ mình như vậy cũng chẳng thấm thía vào đâu so với cụ Bơ-men tầng dưới. Cụ đã mơ ước vẽ nên một kiệt tác hơn bốn chục năm nay nhưng vẫn chưa thực hiện được. Vậy mà cụ vẫn sống, vẫn lạc quan yêu đời chứ đâu có như tôi – một đứa vô dụng đang chờ thần chết tới đưa đi….Đêm ấy, gió bấc thổi ào ào từng cơn lạnh thấu xương thấu tủy cùng những cơn mưa giá buốt trút xuống một cách phũ phàng.

Sáng hôm sau, tôi lại ra lệnh cho Xiu kéo tấm mành lên. Chiếc lá vẫn còn đó! Tôi sững người ngắm nhìn chiếc lá hồi lâu trong khi Xiu đang quấy cháo gà. Tôi chợt nhận ra rằng bấy lâu nay chính tôi đã tự bịt lối thoát của mình. Có một ai đấy bằng một phép màu nào đó đã làm cho chiếc lá bám trụ lại để trách móc tôi về sự tồi tệ của bản thân. Tôi bỗng nhận ra muốn chết là một tội lớn. Tôi gọi Xiu và kể cho Xiu cái điều tôi vừa giác ngộ được. Một lúc sau, tôi đã nói ước mơ của cả đời mình một cách chắc chắn với Xiu. Rồi Xiu đi ra ngoài hành lang khi ông bác sĩ ra về. Tôi biết là Xiu đang kiếm cớ để gặp bác sĩ, nhưng tôi chẳng thể nghe thấy họ nói những gì. Tôi thấy vẻ mặt của Xiu rạng rỡ hẳn lên và bất giác tôi cảm thấy mình sẽ khỏi bệnh nhanh thôi. Tim tôi ấm lên niềm hi vọng và tôi đưa đôi mắt đang nhìn xa xăm của mình về phía ô của sổ nơi có chiếc lá thường xuân ấy và nở một nụ cười trong vô thức...

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm và bắt đầu đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm trông có vẻ rất vô dụng. Xiu tiến tới ôm lấy tôi cùng chiếc gối nói:

- Chị có chuyện này muốn nói với em, con chuột bạch của chị – Xiu nói – Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men – cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”.

Giờ thì tôi chẳng còn dại dột chơi trò may rủi kiểu xưa nữa. Tôi đã thấm thía bài học mà “ ai đấy” đã dạy cho tôi, bài học mà “ ai đấy” đã phải đánh đổi mạng sống của mình để cứu tôi….Mùa đông giờ đã không còn quá lạnh trên đất Mỹ nữa rồi, đông năm nay “đẹp” lắm. Chỉ tiếc cụ Bơ-men đáng kính không thể chiêm ngưỡng mùa đông này.

 

Câu trả lời:

Nhìn Xiu buồn thảm kéo tấm mành lên, tôi nhẹ buông một tiếng thở dài. “Chị Xiu thân yêu ạ! Cái lúc mà chiếc lá cuối cùng còn lại trên cây thường xuân kia rụng nốt cũng là lúc em bước vào chuyến đi xa xôi bí ẩn của riêng mình” – tôi thầm nghĩ. Đôi mắt tôi cứ nhìn theo cánh tay Xiu đang nặng nhọc kéo một tấm mảnh nhẹ tênh mà như kéo hàng ngàn tảng đá. Cũng phải thôi! Tôi biết việc này quá đau lòng với chị ấy. Nhưng với cái căn bệnh phổi quái ác này thì liệu tôi còn có thể sống được bao lâu?

Xiu đã kéo tấm mành lên. Và, thật là kỳ lạ, chiếc lá vẫn ở đó sau đêm bão hôm qua. Tôi nghĩ nó hẳn đã rụng sau trận mưa vùi dập và những con gió phũ phàng kéo dài suốt cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt của đêm qua. Nhưng không, chiếc lá vẫn kiên trì bám trụ đến cùng. Vẫn còn chiếc chiếc lá đó với cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa. Đó chính là chiếc là cuối cùng trên cây.

Tôi nhìn Xiu. Khuôn mặt chị dường như ánh lên tia hy vọng. Đôi mắt chị sáng lên khiến khuôn mặt hốc hác của chị tươi tỉnh hơn hẳn. Xiu thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ chị không giấu được sự vui mừng khi vẫn còn một chiếc lá kiên cường bám trụ trên cây. Tôi biết chị thương tôi lắm! Chị luôn quan tâm tôi như quan tâm đứa em ruột của chị vậy. Tôi thấy thương chị quá! Xiu cũng chỉ là một họa sĩ nghèo và trẻ tuổi giống tôi. Chúng tôi sống cùng nhau trong căn hộ nhỏ thuê được ở gần công viên Oa-sinh-tơn và theo đuổi ước mơ của mình. Tôi luôn luôn hy vọng một ngày nào đó sẽ vẽ được vịnh Na-plơ. Nhưng căn bệnh sưng phổi đã tàn phá con người tôi, làm cho tôi chẳng còn muốn sống nữa. Còn Xiu, chị phải ngày đêm chăm sóc một đứa em bệnh tật như tôi, phải ngày ngày nhìn tôi chết dần chết mòn đi. Điều đó càng làm tôi thấy thương Xiu hơn nữa. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, và rồi một ngày nào đó tôi sẽ phải chết.

“Đó là chiếc là cuối cùng”, tôi nói, “Em cứ tưởng là nhất định trong đêm vừa qua nó đã rụng. Em nghe thấy tiếng gió thội. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”.

“Em thân yêu, thân yêu!”, Xiu nói với tôi bằng một giọng hết sức quan tâm, chị cúi khuôn mặt hốc hác của mình xuống gần gối tôi nằm, “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”.

Tôi không trả lời, vì lúc đó tôi không biết nói sao và cũng không muốn nói gì với chị nữa. “Cái cô đơn nhất trong thế gian là một tâm hồn đang chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình.” – tôi thầm nghĩ. Và khi mà những sợi dây ràng buộc tôi với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một, ý nghĩ ấy càng choán lấy tâm trí tôi mạnh mẽ hơn.

Ngày hôm đó trôi qua và trong cái ánh vàng dìu dịu của buổi hoàng hôn, tôi vẫn thấy được chiếc lá thường xuân đơn độc bám trụ trên cây. Thế rồi, khi màn đêm buông xuống cùng với màu đen kịt của bầu trời, gió bấc lại ào ào, trong khi mưa vẫn đập mạnh vào cửa sổ và rơi lộp độp xuống đất.

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng và những tia nắng đầu tiên mới xuất hiện, tôi lại nhờ Xiu kéo tấm mành lên. Và, tôi lại chờ đợi, chờ đợi cái cảnh trên cây thường xuân bên cửa sổ không còn chiếc là nào. Nhưng khi chiếc mành được kéo lên, tôi có thể thấy rõ chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Tôi nằm lặng người, nhìn chiếc lá hồi lâu. Tôi ngắm kĩ chiếc lá gan dạ ấy. Đột nhiên, trong lòng tôi trào lên cái khao khát được sống, được hy vọng. Và, tôi cất tiếng gọi Xiu đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt.

“Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi”, tôi nói trong sự ngượng ngùng, “Có một cái gì đó đã làm cho chiếc là cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thị chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xép mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”.

Xiu làm theo những gì tôi nói. Nét tươi vui lộ hẳn trên khuôn mặt chị. Có lẽ chị rất mừng vì đứa em ngốc nghếch như tôi đã biết suy nghĩ cho thấu đáo. Tôi thầm cảm ơn chị vì đã yêu thương, chăm sóc tôi suốt khoảng thời gian mà tôi ốm bệnh. Lúc lâu sau, tôi khẽ nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”.

Buổi chiều, vị bác sĩ lại đến khám cho tôi, và khi ông ra về, Xiu kiếm cơ ra ngoài hành lang. Chị nói chuyện với bác sĩ một lúc, nét mặt chị rạng rỡ hẳn. Có lẽ trước kia tôi đã nhầm. Có lẽ giờ đây tôi đang khỏe lại. Có lẽ tôi sẽ lại có cơ hội sống.

Ngày hôm sau cũng vậy. Xiu lại nói chuyện với bác sĩ. Lần này, tôi nhìn thấy một nụ cười nhẹ nhõm trên môi chị. Và chiều hôm đó, trong khi tôi đang vui vẻ đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm rất vô dụng, chị tiến tới bên giường tôi nằm, ôm lấy tôi và những chiếc gối một lúc lâu. Rồi chị nhẹ nhàng nói với tôi: “Chị có chuyện này muốn kể với em, con chuột bạch của chị. Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi.”. Chị dừng lại một chút, như báo hiệu một câu chuyện buồn thật buồn. Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ nghèo thuê phòng ở tầng dưới nơi chúng tôi sống. Bốn chục năm nay cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được; cụ thường ngồi làm mẫu vẽ cho các họa sĩ để kiếm tiền. Cụ Bơ-men như một người bạn lớn của chúng tôi vậy. Cụ yêu thương và quan tâm tới tôi như tôi là con cụ. Và thật buồn khi biết tin cụ đã qua đời, vì cái chứng bệnh đã từng khiến tôi sống trong mòn mỏi. “Cụ ốm chỉ có hai ngày – Xiu tiếp. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cũ ở tầng dưới. Giàu và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút long rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và – em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc là thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”.

Trong những dải mật vàng của hoàng hôn giăng kín bầu trời, có một người con gái đang nhìn về xa xăm...

Câu trả lời:

Chiếc lá cuối cùng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn O’Hen-ri. Cậu chuyện là hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công vô lý, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ. Tuy vậy, nhà văn lại tìm thấy và khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động.

Câu chuyện kể về cuộc sống nghèo của ba người hoạ sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi, Bơ-men. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Xiu vẫn mòn mỏi với những bức vẽ. Giôn-xi bị sưng phổi, dần mất niềm tin vào cuộc sống: cô đếm từng chiếc lá rơi, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi…

Mỗi ngày trôi đi với mưa gió lạnh lẽo và khắc nghiệt, cây thường xuân cứ thế trút dần những chiếc lá trên cành để rồi còn một chếc duy nhất. Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Sự sống của cỗ bỗng trỏe nên mong manh hơn bao giờ hết. Cô bất lực và buông xuôi, càng khiến cho cụ Bơ-men và Xiu lo lắng: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì” cam nhan cua em ve truyen ngan chiec la cuoi cung. Đặc biệt là Xiu. Cô âu lo thổn thức, bồn chồn “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”.

Đêm mưa gió dữ dội, chiếc lá kia chắc cũng đã bị vùi dập. Cái khoảnh khắc Giôn-xi nhìn tấm mành kéo xuống thật đáng sợ. Không một ai có thể khiến cho cô từ bỏ suy nghĩ sẽ lấy số lá còn sót lại trên cành thường xuân làm thước đo mạng sống của mình. Bản thân Xiu có lẽ cũng không thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng đã đến lúc phải chia tay người bạn đồng nghiệp của mình trong mãi mãi. Nhưng điều kì diệu đã xảy ra: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Niềm vui trong Xiu như vỡ òa. Còn đối với Giôn-xi, cô cũng có chút ngạc nhiên, miễn cưỡng chấp nhận sự thật để rồi lại chìm đắm trong suy nghĩ từ bỏ cuộc đời : “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”. Ta thấy Giôn-xi vừa đáng trách mà lại đáng thương.

Mùa đông khắc nghiệt vẫn kéo dài. Thế nhưng chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Rồi một ngày kia, mưa gió tràn về trong đêm. Vậy mà “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó”. Chống chọi với thiên nhiên khắc nhiệt, chiếc lá vượt qua mọi khó khăn, bám vững trên cành cây khẳng khiu. Giôn-xi cảm thấy khó hiểu, và cũng như bừng tỉnh. Cô mơ ước: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na- plơ”. Điều đó chứng tỏ cô đã có niềm tin vào cuộc sống. Chiếc lá thường xuân kia đã tiếp thêm cho cô sức mạnh vô hình để chống chọi bệnh tật.

Kết thúc câu chuyện đã khiến cho cả người trong cuộc lẫn độc giả phải bất ngờ. Chiếc lá cuối cùng còn sót lại tren cây thường xuân kia, hóa ra là một tác phẩm tài hoa của một người nghệ sĩ lão làng. Đó chính là cụ Bơ-men. Vì sự sống của một cô gái, cụ đã vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết, để mang lại cho cô chút niềm tin vào cuộc sống. Người họa sĩ già với mong ước cả một đời được vẽ nên một kiệt tác, và cuối cùng điều đó cũng trở thành hiện thực. Tác phẩm của ông chân thật và sống động đến không ngờ. Không chỉ vậy, nó đã cứu rỗi tâm hồn của một cô gái trẻ đang đưa tay về Thần Chết. Không một ai biết được sự thật này cho đến khi ra đi. Cụ Bơ-men quả thật không chỉ là một người họa sĩ tài năng, mà còn là một người nghệ sĩ chân chính với tâm hồn cao cả.

“Chiếc lá cuối cùng” mang đậm tình cảm giữa con người với con người trong tình cảnh nghèo khó. Đồng thời, tác phẩm còn mang đến một thông điệp: Nghệ thuật vị nhân sinh.

Câu trả lời:

Qua đoạn trích tức nước vỡ bờ (trích tắt đèn của Ngô Tất Tố ) và truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao ta thấy hiện lên một bức tranh về những người nông dân sống trong trong xã hội thưc dân nửa phong kiến . Họ là những con người lao động nghèo khổ , bị đẩy vào con đường bế tắc nhưng vẫn ngời sáng lên những phẩm chất tốt đẹp.
Trước hết , hai tác phẩm đã tái hiện cho người đọc cho thấy tình cảnh nghèo khổ , bắc tế của người nông dân bần cùng trong xã hội một cổ hai tròng áp bức . Chị Dậu nghèo thuộc hàng cùng đinh nhất nhì trong làng . gia cảnh đã nghèo lại phải đóng sưu cho cả người em trai đã chết từ năm ngoái khiến cho gia cảnh đã nghèo lại càng nhèo hơn . cái xã hội ấy đâu còn nhân tính , chỉ biết dồn con người vào chỗ chết , vào đường cùng chỉ biết bóc lột họ đến chết vẫn không tha .Còn lão Hạc cũng có hơn gì chị Dậu . sau đợt ốm số tiền dành dụm của Lão cũng tiêu hết làng mất mùa nên cả củ chuối , rau má sung luộc ... kiếm được gì , Lão ăn nấy . lão không muốn tiêu vào tiền của con . Và đến lúc , lão không còn đủ khả năng để nuôi nổi mình nữa , lão đành phải bán chó . cuộc sống của người nông dân nghèo trong xã hội lúc bấy giờ thật bế tắc . Để kiếm được miếng ăn nuôi sống mình qua ngày đâu có gì dễ dàng gì
cuộc sống tuy nghèo khổ là thế nhưng vẻ đẹp tâm hồn của họ luôn ngời sáng . họ điều là những con người hết lòng tận tụy hi sinh vì người thân . chị dậu là mọt người phụ nữ hiền hậu nhưng hết mực thương chồng , thương con . khi anh dậu dở chết dở sống được khiêng về nhà , chị hết sức chăm lo cho chồng . chị nhẹ nhàng bưng bát cháo đến bên chồng , động viên chồng "thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ sót ruột". trước tấm lòng của người vợ ,anh dậu cũng cố gắng ngồi dậy . nhưng lính đã rầm rầm xông vào , lo sợ , chị dậu đã ra sức van nài mong chúng để cho chồng chị ăn hết bát cháo . chị đã cúi mình xin chúng , ra sức giãi bày cho chúng hiểu , mong chúng động lòng thương . chị đã xưng cháu . chị đã tự hạ mình để nâng chúng lên . nhưng mặc chị van xin chúng vẫn quyết trói anh dậu , chị dã đứng lên ngang hàng với chúng khi xưng tôi -ông . và cuối cùng chị đã đe dọa , thách thức chúng :"mày trói chồng bà đi bà cho mày xem 'chị đã nâng mình lên đứng trên chúng .chị đã lấy đâu ra sức mạnh đó ?đó chính là lòng yêu thương chồng ,chị sẵn sàng đối đầu với bọn tay sai nhà ông Lý -đại diện cho bộ máy chính quyền . lúc này trong chị chỉ còn quyết tâm bảo vệ chồng đang thôi thúc ,nó tạo thành sức mạnh ,tiếp thêm cho chị lòng dũng cảm để chị đánh ngã cả hai tên tay sai .
còn lão hạc lại là lòng thương con , hết lòng vì con . lão yêu thương cậu vàng như đứa con của mình vì cậu vàng chính là kỉ vật của đứa con trai trước khi bỏ nhà đi đồn điền cao su . lão vẫn luôn day dứt khi không lo đủ được tiền cưới vợ cho con . và trong lòng người cha già vẫn luôn mong có ngày người con trai trở về ,lão cố gắng dành dụm tiền cho con lão giữ cho con mảnh vườn .
tóm lại cả hai tác phẩm điều làm bật lên hình ảnh người nông dân Việt Nam tuy nghèo khổ nhưng luôn giữ cho tâm hồn mình trong sáng . nếu như chị dậu có sức mạnh phản kháng dám đứng lên chống lại cường quyền để bảo vệ chồng thì lão hạc lại là người nông dân đôn hậu giàu lòng tự trọng -hai con người , hai nhân cách để đáng chúng ta khâm phục.